- Saṁyutta Nikāya 12.51
- 6. Dukkhavagga
Parivīmaṁsanasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Parivīmaṁsanasutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Sāvatthī (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
Vi-n 2 Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 3 Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo tư lường, phải tư lường như thế nào để chơn chánh diệt khổ một cách trọn vẹn?
—Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm điểm tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn nói lên ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết giảng, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
Vi-n 4 —Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 5 —Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đang tư lường, tư lường như sau: “Sự đau khổ nhiều loại và đa dạng này khởi lên trên đời như già và chết; sự đau khổ này lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu? Do cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Do cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?”
Vi-n 6 Tư lường như vậy, vị ấy biết như sau: “Sự đau khổ nhiều loại và đa dạng này khởi lên trên đời như già và chết, sự đau khổ này lấy sanh làm nhân, lấy sanh làm tập khởi, lấy sanh làm tác sanh, lấy sanh làm hiện hữu. Do sanh có mặt, già chết hiện hữu. Do sanh không có mặt, già chết không hiện hữu”.
Vi-n 7 Và vị ấy biết già chết, biết già chết tập khởi, biết già chết đoạn diệt, và vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến già chết đoạn diệt. Do thực hành như vậy, vị ấy trở thành vị Tùy pháp hành.
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là vị Tỷ-kheo đã thực hành một cách trọn vẹn để chơn chánh đoạn tận khổ đau và đoạn diệt già chết.
Vi-n 9 Tư lường thêm nữa, vị ấy tư lường như sau: “Còn hữu này, do cái gì làm nhân? Còn thủ này, do cái gì làm nhân? Còn ái này, do cái gì làm nhân? Còn thọ này, do cái gì làm nhân? Còn xúc này… Còn sáu xứ này… Còn danh sắc này… Còn thức này… Còn các hành này, do cái gì làm nhân, cái gì tập khởi, cái gì tác sanh, cái gì làm hiện hữu? Do cái gì có mặt, các hành hiện hữu? Do cái gì không có mặt các hành không hiện hữu?”
Vi-n 10 Tư lường như vậy, vị ấy biết như sau: “Các hành lấy vô minh làm nhân, lấy vô minh làm tập khởi, lấy vô minh làm tác sanh, lấy vô minh làm hiện hữu. Do vô minh có mặt, các hành hiện hữu. Do vô minh không có mặt, các hành không hiện hữu”.
Vi-n 11 Và vị ấy biết các hành, biết các hành tập khởi, biết các hành đoạn diệt, và vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến các hành đoạn diệt. Do thực hành như vậy, vị ấy trở thành vị Tùy pháp hành. Này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là vị Tỷ-kheo đã thực hành một cách trọn vẹn để chơn chánh đoạn tận khổ đau và đoạn diệt các hành.
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, nếu người nào bị vô minh chi phối, dự tính làm phước hành, thức (của người ấy) đi đến phước. Nếu người ấy dự tính làm phi phước hành, thức (của người ấy) đi đến phi phước. Nếu người ấy dự tính làm bất động hành, thức (của người ấy) đi đến bất động.
Vi-n 13 Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Tỷ-kheo đoạn tận vô minh, minh được sanh khởi. Vị ấy do vô minh đoạn tận, minh sanh khởi, không dự tính làm phước hành, không dự tính làm phi phước hành, không dự tính làm bất động hành.
Vi-n 14 Không có dự tính, không có dụng ý, vị ấy không chấp thủ một sự gì ở đời. Không chấp thủ, vị ấy không sợ hãi. Không sợ hãi, vị ấy hoàn toàn tịch tịnh. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 15 Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, vị ấy biết lạc thọ ấy vô thường, vị ấy biết không nên tham đắm, vị ấy biết không nên hoan hỷ. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy biết khổ thọ vô thường, vị ấy biết không nên tham đắm, vị ấy biết không nên hoan hỷ. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy biết thọ ấy vô thường, vị ấy biết không nên tham đắm, vị ấy biết không nên hoan hỷ.
Vi-n 16 Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly (visaññutto).
Vi-n 17 Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân”. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng”. Vị ấy biết: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả những cảm thọ không làm cho có hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lặng, cái thân được bỏ qua một bên”.
Vi-n 18 Này các Tỷ-kheo, ví như một người từ trong lò nung của người thợ gốm lấy ra một cái ghè nóng và đặt trên một khoảng đất bằng phẳng để sức nóng ở đấy được nguội dần, và các miếng sành vụn được gạt bỏ một bên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân”. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng”. Vị ấy biết: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả những cảm thọ không làm cho có hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lặng, cái thân được bỏ qua một bên”.
Vi-n 19 Này các Tỷ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, có dự tính làm các phước hành, hay có dự tính làm các phi phước hành, hay có dự tính làm các bất động hành?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 20 —Hay nếu các hành không có mặt một cách trọn vẹn, do các hành đoạn diệt, thời thức có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 21 —Hay nếu thức không có mặt một cách trọn vẹn, do thức đoạn diệt, thời danh sắc có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 22 —Hay nếu danh sắc không có mặt một cách trọn vẹn, do danh sắc đoạn diệt, thời sáu xứ có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 23 —Hay nếu sáu xứ không có mặt một cách trọn vẹn, do sáu xứ đoạn diệt, thời xúc có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 24 —Hay nếu xúc không có mặt một cách trọn vẹn, do xúc đoạn diệt, thời thọ có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 25 —Hay nếu thọ không có mặt một cách trọn vẹn, do thọ đoạn diệt, thời ái có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 26 —Hay nếu ái không có mặt một cách trọn vẹn, do ái đoạn diệt, thời thủ có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 27 —Hay nếu thủ không có mặt một cách trọn vẹn, do thủ đoạn diệt, thời hữu có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 28 —Hay nếu hữu không có mặt một cách trọn vẹn, do hữu đoạn diệt, thời sanh có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 29 —Hay nếu sanh không có mặt một cách trọn vẹn, do sanh đoạn diệt, thời già chết có hiện hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 30 —Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Phải là như vậy, này các Tỷ-kheo! Không thể khác vậy. Hãy tin ở Ta, này các Tỷ-kheo! Hãy quyết định, chớ có nghi ngờ, chớ có phân vân! Ðây là khổ được đoạn tận.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Thẩm Sát
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
51. Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của Anāthapiṇḍika. Tại đó, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu.” “Bạch Thế Tôn,” các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói lời này:
“Kittāvatā nu kho, bhikkhave, bhikkhu parivīmaṁsamāno parivīmaṁseyya sabbaso sammā dukkhakkhayāyā”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṁyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Mendicants, when a mendicant is inquiring, how do you define when they are inquiring for the complete ending of suffering?”
“Our teachings are rooted in the Buddha. He is our guide and our refuge. Sir, may the Buddha himself please clarify the meaning of this. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, mendicants, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
“Này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu khi thẩm sát, cần phải thẩm sát đến mức độ nào để đoạn tận hoàn toàn và chân chánh khổ đau?” “Bạch Thế Tôn, các pháp của chúng con có Thế Tôn là gốc rễ, có Thế Tôn là người dẫn dắt, có Thế Tôn là nơi nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, mong rằng ý nghĩa của lời nói này được tỏ rõ cho chính Thế Tôn. Sau khi nghe từ Thế Tôn, các Tỳ khưu sẽ ghi nhớ.” “Vậy thì, này các Tỳ khưu, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Vâng, bạch Thế Tôn,” các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói lời này:
“Idha, bhikkhave, bhikkhu parivīmaṁsamāno parivīmaṁsati: ‘yaṁ kho idaṁ anekavidhaṁ nānappakārakaṁ dukkhaṁ loke uppajjati jarāmaraṇaṁ; idaṁ nu kho dukkhaṁ kiṁnidānaṁ kiṁsamudayaṁ kiṁjātikaṁ kiṁpabhavaṁ? Kismiṁ sati jarāmaraṇaṁ hoti, kismiṁ asati jarāmaraṇaṁ na hotī’ti? So parivīmaṁsamāno evaṁ pajānāti: ‘yaṁ kho idaṁ anekavidhaṁ nānappakārakaṁ dukkhaṁ loke uppajjati jarāmaraṇaṁ, idaṁ kho dukkhaṁ jātinidānaṁ jātisamudayaṁ jātijātikaṁ jātippabhavaṁ. Jātiyā sati jarāmaraṇaṁ hoti, jātiyā asati jarāmaraṇaṁ na hotī’ti.
“Mendicants, take a mendicant who makes an inquiry: ‘The suffering that arises in the world starting with old age and death takes many and diverse forms. What is the source, origin, birthplace, and inception of this suffering? When what exists do old age and death come to be? When what does not exist do old age and death not come to be?’ While making an inquiry they understand: ‘The suffering that arises in the world starting with old age and death takes many and diverse forms. The source of this suffering is rebirth. When rebirth exists, old age and death come to be. When rebirth doesn’t exist, old age and death don’t come to be.’
“Này các Tỳ khưu, ở đây, một Tỳ khưu khi thẩm sát, thẩm sát rằng: ‘Cái khổ nhiều loại, nhiều cách này sanh khởi trong thế gian, tức là già và chết; vậy cái khổ này có gì làm nhân duyên, có gì làm tập khởi, có gì làm nguồn sanh, có gì làm nguồn gốc? Khi cái gì có mặt thì già và chết có mặt, khi cái gì không có mặt thì già và chết không có mặt?’ Vị ấy khi thẩm sát, biết rõ như vầy: ‘Cái khổ nhiều loại, nhiều cách này sanh khởi trong thế gian, tức là già và chết, cái khổ này có sanh làm nhân duyên, có sanh làm tập khởi, có sanh làm nguồn sanh, có sanh làm nguồn gốc. Khi sanh có mặt thì già và chết có mặt, khi sanh không có mặt thì già và chết không có mặt.’”
So jarāmaraṇañca pajānāti, jarāmaraṇasamudayañca pajānāti, jarāmaraṇanirodhañca pajānāti, yā ca jarāmaraṇanirodhasāruppagāminī paṭipadā tañca pajānāti, tathā paṭipanno ca hoti anudhammacārī; ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu sabbaso sammā dukkhakkhayāya paṭipanno jarāmaraṇanirodhāya.
They understand old age and death, their origin, their cessation, and the fitting practice for their cessation. And they practice in line with that path. This is called a mendicant who is practicing for the complete ending of suffering, for the cessation of old age and death.
“Vị ấy biết rõ già và chết, biết rõ sự tập khởi của già và chết, biết rõ sự đoạn diệt của già và chết, và biết rõ con đường thực hành phù hợp đưa đến sự đoạn diệt của già và chết. Vị ấy là người thực hành như vậy, là người hành thuận theo pháp. Này các Tỳ khưu, Tỳ khưu này được gọi là người thực hành một cách hoàn toàn, chân chánh để đoạn tận khổ, để đoạn diệt già và chết.”
Athāparaṁ parivīmaṁsamāno parivīmaṁsati: ‘jāti panāyaṁ kiṁnidānā kiṁsamudayā kiṁjātikā kiṁpabhavā, kismiṁ sati jāti hoti, kismiṁ asati jāti na hotī’ti? So parivīmaṁsamāno evaṁ pajānāti: ‘jāti bhavanidānā bhavasamudayā bhavajātikā bhavappabhavā; bhave sati jāti hoti, bhave asati jāti na hotī’ti.
Then they inquire further: ‘But what is the source of this rebirth? When what exists does rebirth come to be? And when what does not exist does rebirth not come to be?’ While making an inquiry they understand: ‘Continued existence is the source of rebirth. When continued existence exists, rebirth comes to be. When continued existence does not exist, rebirth doesn’t come to be.’
“Lại nữa, khi thẩm sát, vị ấy thẩm sát: ‘Vậy sanh này có gì làm nhân duyên, có gì làm tập khởi, có gì làm nguồn sanh, có gì làm nguồn gốc? Khi cái gì có mặt thì sanh có mặt, khi cái gì không có mặt thì sanh không có mặt?’ Vị ấy khi thẩm sát, biết rõ như vầy: ‘Sanh có hữu làm nhân duyên, có hữu làm tập khởi, có hữu làm nguồn sanh, có hữu làm nguồn gốc; khi hữu có mặt thì sanh có mặt, khi hữu không có mặt thì sanh không có mặt.’”
So jātiñca pajānāti, jātisamudayañca pajānāti, jātinirodhañca pajānāti, yā ca jātinirodhasāruppagāminī paṭipadā tañca pajānāti, tathā paṭipanno ca hoti anudhammacārī; ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu sabbaso sammā dukkhakkhayāya paṭipanno jātinirodhāya.
They understand rebirth, its origin, its cessation, and the fitting practice for its cessation. And they practice in line with that path. This is called a mendicant who is practicing for the complete ending of suffering, for the cessation of rebirth.
“Vị ấy biết rõ sanh, biết rõ sự tập khởi của sanh, biết rõ sự đoạn diệt của sanh, và biết rõ con đường thực hành phù hợp đưa đến sự đoạn diệt của sanh. Vị ấy là người thực hành như vậy, là người hành thuận theo pháp. Này các Tỳ khưu, Tỳ khưu này được gọi là người thực hành một cách hoàn toàn, chân chánh để đoạn tận khổ, để đoạn diệt sanh.”
Athāparaṁ parivīmaṁsamāno parivīmaṁsati: ‘bhavo panāyaṁ kiṁnidāno …pe… upādānaṁ panidaṁ kiṁnidānaṁ … taṇhā panāyaṁ kiṁnidānā … vedanā … phasso … saḷāyatanaṁ panidaṁ kiṁnidānaṁ … nāmarūpaṁ panidaṁ … viññāṇaṁ panidaṁ … saṅkhārā panime kiṁnidānā kiṁsamudayā kiṁjātikā kiṁpabhavā; kismiṁ sati saṅkhārā honti, kismiṁ asati saṅkhārā na hontī’ti? So parivīmaṁsamāno evaṁ pajānāti: ‘saṅkhārā avijjānidānā avijjāsamudayā avijjājātikā avijjāpabhavā; avijjāya sati saṅkhārā honti, avijjāya asati saṅkhārā na hontī’ti.
Then they inquire further: ‘But what is the source of this continued existence? …’ … ‘But what is the source of this grasping? …’ … ‘But what is the source of this craving? …’ … ‘But what is the source of this feeling? …’ … ‘But what is the source of this contact? …’ … ‘But what is the source of these six sense fields? …’ … ‘But what is the source of this name and form? …’ … ‘But what is the source of this consciousness? …’ … ‘But what is the source of these choices? When what exists do choices come to be? When what does not exist do choices not come to be?’ While making an inquiry they understand: ‘Ignorance is the source of choices. When ignorance exists, choices come to be. When ignorance does not exist, choices don’t come to be.’
“Lại nữa, khi thẩm sát, vị ấy thẩm sát: ‘Vậy hữu này có gì làm nhân duyên? ... Thủ này có gì làm nhân duyên? ... Ái này có gì làm nhân duyên? ... Thọ ... Xúc ... Sáu xứ này có gì làm nhân duyên? ... Danh sắc này ... Thức này ... Các hành này có gì làm nhân duyên, có gì làm tập khởi, có gì làm nguồn sanh, có gì làm nguồn gốc? Khi cái gì có mặt thì các hành có mặt, khi cái gì không có mặt thì các hành không có mặt?’ Vị ấy khi thẩm sát, biết rõ như vầy: ‘Các hành có vô minh làm nhân duyên, có vô minh làm tập khởi, có vô minh làm nguồn sanh, có vô minh làm nguồn gốc; khi vô minh có mặt thì các hành có mặt, khi vô minh không có mặt thì các hành không có mặt.’”
So saṅkhāre ca pajānāti, saṅkhārasamudayañca pajānāti, saṅkhāranirodhañca pajānāti, yā ca saṅkhāranirodhasāruppagāminī paṭipadā tañca pajānāti, tathā paṭipanno ca hoti anudhammacārī; ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu sabbaso sammā dukkhakkhayāya paṭipanno saṅkhāranirodhāya.
They understand choices, their origin, their cessation, and the fitting practice for their cessation. And they practice in line with that path. This is called a mendicant who is practicing for the complete ending of suffering, for the cessation of choices.
Vị ấy biết rõ các hành, biết rõ sự tập khởi của các hành, biết rõ sự đoạn diệt của các hành, và biết rõ con đường thực hành đưa đến sự đoạn diệt của các hành. Vị ấy là người đã thực hành như vậy và là người thực hành tùy pháp. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu này được gọi là người đã thực hành một cách chân chánh về mọi phương diện để đoạn tận khổ, để đoạn diệt các hành.
Avijjāgato yaṁ, bhikkhave, purisapuggalo puññañce saṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, puññūpagaṁ hoti viññāṇaṁ. Apuññañce saṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, apuññūpagaṁ hoti viññāṇaṁ. Āneñjañce saṅkhāraṁ abhisaṅkharoti āneñjūpagaṁ hoti viññāṇaṁ. Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno avijjā pahīnā hoti vijjā uppannā, so avijjāvirāgā vijjuppādā neva puññābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti na apuññābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti na āneñjābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti. Anabhisaṅkharonto anabhisañcetayanto na kiñci loke upādiyati; anupādiyaṁ na paritassati, aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
If an ignoramus makes a good choice, consciousness passes on by means of goodness. If they make a bad choice, consciousness passes on by means of badness. If they make an imperturbable choice, consciousness passes on by means of imperturbability. When a mendicant has given up ignorance and given rise to knowledge, with the fading away of ignorance and the arising of knowledge they don’t make a good choice, a bad choice, or an imperturbable choice. Not choosing or intending, they don’t grasp at anything in the world. Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
Này các Tỳ khưu, người bị vô minh chi phối, nếu tạo tác phước hành, thức sẽ đi đến cõi phước. Nếu tạo tác phi phước hành, thức sẽ đi đến cõi phi phước. Nếu tạo tác bất động hành, thức sẽ đi đến cõi bất động. Này các Tỳ khưu, khi nào vị Tỳ khưu đã đoạn tận vô minh, minh đã sanh khởi, vị ấy do ly tham vô minh, do minh sanh khởi, nên không tạo tác phước hành, không tạo tác phi phước hành, không tạo tác bất động hành. Do không tạo tác, không tác ý, vị ấy không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời; do không chấp thủ, vị ấy không lo âu; do không lo âu, vị ấy tự mình nhập Vô dư Niết-bàn. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’
So sukhañce vedanaṁ vedayati, sā aniccāti pajānāti, anajjhositāti pajānāti, anabhinanditāti pajānāti. Dukkhañce vedanaṁ vedayati, sā aniccāti pajānāti, anajjhositāti pajānāti, anabhinanditāti pajānāti. Adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, sā aniccāti pajānāti, anajjhositāti pajānāti, anabhinanditāti pajānāti. So sukhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati. Dukkhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati. Adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati.
If they feel a pleasant feeling, they understand that it’s impermanent, that they’re not attached to it, and that they don’t take pleasure in it. If they feel a painful feeling, they understand that it’s impermanent, that they’re not attached to it, and that they don’t take pleasure in it. If they feel a neutral feeling, they understand that it’s impermanent, that they’re not attached to it, and that they don’t take pleasure in it. If they feel a pleasant feeling, they feel it detached. If they feel a painful feeling, they feel it detached. If they feel a neutral feeling, they feel it detached.
Vị ấy, nếu cảm thọ một lạc thọ, vị ấy biết rõ: ‘Nó là vô thường’, biết rõ: ‘Nó không bị tham ái chi phối’, biết rõ: ‘Nó không đáng hoan hỷ’. Nếu cảm thọ một khổ thọ, vị ấy biết rõ: ‘Nó là vô thường’, biết rõ: ‘Nó không bị tham ái chi phối’, biết rõ: ‘Nó không đáng hoan hỷ’. Nếu cảm thọ một thọ bất khổ bất lạc, vị ấy biết rõ: ‘Nó là vô thường’, biết rõ: ‘Nó không bị tham ái chi phối’, biết rõ: ‘Nó không đáng hoan hỷ’. Vị ấy, nếu cảm thọ một lạc thọ, vị ấy cảm thọ nó một cách không bị trói buộc. Nếu cảm thọ một khổ thọ, vị ấy cảm thọ nó một cách không bị trói buộc. Nếu cảm thọ một thọ bất khổ bất lạc, vị ấy cảm thọ nó một cách không bị trói buộc.
So kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmīti pajānāti, jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmīti pajānāti. Kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissanti, sarīrāni avasissantīti pajānāti.
Feeling the end of the body draw close, they understand: ‘I feel the end of the body draw close.’ Feeling the end of life draw close, they understand: ‘I feel the end of life draw close.’ They understand: ‘When my body breaks up and my life has come to an end, everything that’s felt, since I no longer take pleasure in it, will become cool right here. Only bodily remains will be left.’
Vị ấy, khi cảm thọ một cảm thọ có thân làm giới hạn, biết rõ: ‘Ta đang cảm thọ một cảm thọ có thân làm giới hạn’. Khi cảm thọ một cảm thọ có mạng làm giới hạn, biết rõ: ‘Ta đang cảm thọ một cảm thọ có mạng làm giới hạn’. Vị ấy biết rõ: ‘Sau khi thân hoại, mạng chung, ngay tại đây, tất cả những gì được cảm thọ, do không được hoan hỷ, sẽ trở nên nguội lạnh, chỉ còn lại thân xác.’
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso kumbhakārapākā uṇhaṁ kumbhaṁ uddharitvā same bhūmibhāge paṭisisseyya. Tatra yāyaṁ usmā sā tattheva vūpasameyya, kapallāni avasisseyyuṁ.
Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmīti pajānāti, jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmīti pajānāti. Kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissanti, sarīrāni avasissantīti pajānāti.
Suppose a person were to remove a hot clay pot from a potter’s kiln and place it down on level ground. Its heat would dissipate right there, and the shards would be left behind.
In the same way, feeling the end of the body draw close, they understand: ‘I feel the end of the body draw close.’ Feeling the end of life draw close, they understand: ‘I feel the end of life draw close.’ They understand: ‘When my body breaks up and my life has come to an end, everything that’s felt, since I no longer take pleasure in it, will become cool right here. Only bodily remains will be left.’
Này các Tỳ khưu, ví như một người lấy ra một cái bình nóng từ lò của người thợ gốm rồi đặt xuống trên một vùng đất bằng phẳng. Ở đó, hơi nóng nào có, nó sẽ nguội đi ngay tại đó, chỉ còn lại các mảnh vỡ. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu khi cảm thọ một cảm thọ có thân làm giới hạn, biết rõ: ‘Ta đang cảm thọ một cảm thọ có thân làm giới hạn’. Khi cảm thọ một cảm thọ có mạng làm giới hạn, biết rõ: ‘Ta đang cảm thọ một cảm thọ có mạng làm giới hạn’. Vị ấy biết rõ: ‘Sau khi thân hoại, mạng chung, ngay tại đây, tất cả những gì được cảm thọ, do không được hoan hỷ, sẽ trở nên nguội lạnh, chỉ còn lại thân xác.’
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, api nu kho khīṇāsavo bhikkhu puññābhisaṅkhāraṁ vā abhisaṅkhareyya apuññābhisaṅkhāraṁ vā abhisaṅkhareyya āneñjābhisaṅkhāraṁ vā abhisaṅkhareyyā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana saṅkhāresu asati, saṅkhāranirodhā api nu kho viññāṇaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana viññāṇe asati, viññāṇanirodhā api nu kho nāmarūpaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana nāmarūpe asati, nāmarūpanirodhā api nu kho saḷāyatanaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana saḷāyatane asati, saḷāyatananirodhā api nu kho phasso paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana phasse asati, phassanirodhā api nu kho vedanā paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana vedanāya asati, vedanānirodhā api nu kho taṇhā paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana taṇhāya asati, taṇhānirodhā api nu kho upādānaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana upādāne asati, upādānanirodhā api nu kho bhavo paññāyethā”ti.
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana bhave asati, bhavanirodhā api nu kho jāti paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sabbaso vā pana jātiyā asati, jātinirodhā api nu kho jarāmaraṇaṁ paññāyethā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
What do you think, mendicants? Would a mendicant who has ended the defilements still make good choices, bad choices, or imperturbable choices?”
“No, sir.”
“And when there are no choices at all, with the cessation of choices, would consciousness still be found?”
“No, sir.”
“And when there’s no consciousness at all, would name and form still be found?”
“No, sir.”
“And when there are no name and form at all, would the six sense fields still be found?”
“No, sir.”
“And when there are no six sense fields at all, would contact still be found?”
“No, sir.”
“And when there’s no contact at all, would feeling still be found?”
“No, sir.”
“And when there’s no feeling at all, would craving still be found?”
“No, sir.”
“And when there’s no craving at all, would grasping still be found?”
“No, sir.”
“And when there’s no grasping at all, would continued existence still be found?”
“No, sir.”
“And when there’s no continued existence at all, would rebirth still be found?”
“No, sir.”
“And when there’s no rebirth at all, would old age and death still be found?”
“No, sir.”
Này các Tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào? Vị Tỳ khưu đã đoạn tận lậu hoặc có thể nào tạo tác phước hành, hay phi phước hành, hay bất động hành không?" "Bạch Thế Tôn, không thể như vậy." "Khi các hành hoàn toàn không có, do sự diệt của các hành, thức có thể được biết đến không?" "Bạch Thế Tôn, không thể như vậy." "Khi thức hoàn toàn không có, do sự diệt của thức, danh sắc có thể được biết đến không?" "Bạch Thế Tôn, không thể như vậy." "Khi danh sắc hoàn toàn không có, do sự diệt của danh sắc, sáu xứ có thể được biết đến không?" "Bạch Thế Tôn, không thể như vậy." "Khi sáu xứ hoàn toàn không có, do sự diệt của sáu xứ, xúc có thể được biết đến không?" "Bạch Thế Tôn, không thể như vậy." "Khi xúc hoàn toàn không có, do sự diệt của xúc, thọ có thể được biết đến không?" "Bạch Thế Tôn, không thể như vậy." "Khi thọ hoàn toàn không có, do sự diệt của thọ, ái có thể được biết đến không?" "Bạch Thế Tôn, không thể như vậy." "Khi ái hoàn toàn không có, do sự diệt của ái, thủ có thể được biết đến không?" "Bạch Thế Tôn, không thể như vậy." "Khi thủ hoàn toàn không có, do sự diệt của thủ, hữu có thể được biết đến không?" "Bạch Thế Tôn, không thể như vậy." "Khi hữu hoàn toàn không có, do sự diệt của hữu, sanh có thể được biết đến không?" "Bạch Thế Tôn, không thể như vậy." "Khi sanh hoàn toàn không có, do sự diệt của sanh, già-chết có thể được biết đến không?" "Bạch Thế Tôn, không thể như vậy."
“Sādhu sādhu, bhikkhave, evametaṁ, bhikkhave, netaṁ aññathā. Saddahatha me taṁ, bhikkhave, adhimuccatha, nikkaṅkhā ettha hotha nibbicikicchā. Esevanto dukkhassā”ti.
Paṭhamaṁ.
“Good, good, mendicants! That’s how it is, not otherwise. Trust me on this, mendicants; be convinced. Have no doubts or uncertainties in this matter. Just this is the end of suffering.”
Lành thay, lành thay, này các Tỳ khưu! Này các Tỳ khưu, sự việc là như vậy, không thể khác được. Này các Tỳ khưu, hãy tin tưởng điều đó nơi Ta, hãy quyết chắc, hãy không hoài nghi, không do dự ở đây. Đây chính là sự chấm dứt của khổ đau." (Bài kinh thứ nhất).