- Saṁyutta Nikāya 12.50
- 5. Gahapativagga
Dutiyaariyasāvakasutta
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Na, bhikkhave, sutavato ariyasāvakassa evaṁ hoti: ‘kiṁ nu kho kismiṁ sati kiṁ hoti, kissuppādā kiṁ uppajjati?
Bản dịch
Dutiyaariyasāvakasutta
Vi-n 1 Tại Sāvatthī.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không có suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, cái gì hiện hữu? Do cái gì sanh khởi, cái gì sanh khởi? Do cái gì có mặt, các hành hiện hữu? Do cái gì có mặt, thức hiện hữu? Do cái gì có mặt, danh sắc hiện hữu? Do cái gì có mặt, sáu xứ hiện hữu? Do cái gì có mặt, xúc hiện hữu? Do cái gì có mặt, thọ hiện hữu? Do cái gì có mặt, ái hiện hữu? Do cái gì có mặt, thủ hiện hữu? Do cái gì có mặt, hữu hiện hữu? Do cái gì có mặt, sanh hiện hữu? Do cái gì có mặt, già chết hiện hữu?”.
Vi-n 3 Rồi này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không duyên một ai khác, ở đây có trí như sau: “Do cái này có mặt, cái kia hiện hữu. Do cái này sanh khởi, cái kia sanh khởi. Do vô minh có mặt, hành hiện hữu. Do hành có mặt, thức hiện hữu. Do thức có mặt, danh sắc hiện hữu. Do danh sắc có mặt, sáu xứ hiện hữu. Do sáu xứ có mặt, xúc hiện hữu. Do xúc có mặt, thọ hiện hữu. Do thọ có mặt, ái hiện hữu. Do ái có mặt, thủ hiện hữu. Do thủ có mặt, hữu hiện hữu. Do hữu có mặt, sanh hiện hữu. Do sanh có mặt, già chết hiện hữu”. Vị ấy hiểu biết như vậy. Như vậy là sự sanh khởi của thế giới này.
4. Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt, cái gì không hiện hữu? Do cái gì diệt, cái gì diệt? Do cái gì không có mặt, các hành không hiện hữu? Do cái gì không có mặt, thức không hiện hữu… (như trên)… Do cái gì không có mặt, già, chết không hiện hữu?”
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không duyên một ai khác, ở đây có trí như sau: “Do cái này không có mặt, cái kia không hiện hữu. Do cái này diệt, cái kia diệt. Do vô minh không có mặt, các hành không hiện hữu. Do các hành không có mặt, thức không hiện hữu. Do thức không có mặt, danh sắc không hiện hữu. Do danh sắc không có mặt, sáu xứ không hiện hữu. Do sáu xứ không có mặt, xúc không hiện hữu… (như trên)… Do sanh không có mặt, già, chết không hiện hữu”. Vị ấy hiểu biết như vậy. Như vậy là sự đoạn diệt của thế giới này.
Vi-n 6 Vì rằng này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử như thật biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của thế giới này như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử ấy được gọi là kiến đạt, vị ấy thấy diệu pháp này, vị ấy đầy đủ trí của bậc hữu học, vị ấy đầy đủ minh của bậc hữu học, đã nhập được Pháp lưu, là bậc Thánh minh đạt tuệ, là vị đã đứng gõ cửa bất tử.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Na, bhikkhave, sutavato ariyasāvakassa evaṁ hoti: ‘kiṁ nu kho kismiṁ sati kiṁ hoti, kissuppādā kiṁ uppajjati?
At Sāvatthī.
“Mendicants, a learned noble disciple doesn’t think: ‘When what exists, what is? Due to the arising of what, what arises?
49. Tại Sāvatthī... “Này các Tỳ khưu, đối với vị Thánh đệ tử có nghe pháp, ý nghĩ như vầy không khởi lên: ‘Do có cái gì, cái gì có mặt? Do cái gì sanh khởi, cái gì sanh khởi? (Do có cái gì, các hành có mặt? Do có cái gì, thức có mặt?) Do có cái gì, danh-sắc có mặt? Do có cái gì, sáu xứ có mặt? Do có cái gì, xúc có mặt? Do có cái gì, thọ có mặt? Do có cái gì, ái có mặt? Do có cái gì, thủ có mặt? Do có cái gì, hữu có mặt? Do có cái gì, sanh có mặt? Do có cái gì, già-chết có mặt?’”
50. Tại Sāvatthī... “Này các Tỳ khưu, đối với vị Thánh đệ tử có nghe pháp, ý nghĩ như vầy không khởi lên: ‘Do có cái gì, cái gì có mặt? Do cái gì sanh khởi, cái gì sanh khởi? Do có cái gì, các hành có mặt? Do có cái gì, thức có mặt? Do có cái gì, danh-sắc có mặt? Do có cái gì, sáu xứ có mặt? Do có cái gì, xúc có mặt? Do có cái gì, thọ có mặt? Do có cái gì, ái có mặt? Do có cái gì, thủ có mặt? Do có cái gì, hữu có mặt? Do có cái gì, sanh có mặt? Do có cái gì, già-chết có mặt?’”
Atha kho, bhikkhave, sutavato ariyasāvakassa aparappaccayā ñāṇamevettha hoti: ‘imasmiṁ sati idaṁ hoti, imassuppādā idaṁ uppajjati. Avijjāya sati saṅkhārā honti; saṅkhāresu sati viññāṇaṁ hoti; viññāṇe sati nāmarūpaṁ hoti; nāmarūpe sati saḷāyatanaṁ hoti; saḷāyatane sati phasso hoti; phasse sati vedanā hoti; vedanāya sati taṇhā hoti; taṇhāya sati upādānaṁ hoti; upādāne sati bhavo hoti; bhave sati jāti hoti; jātiyā sati jarāmaraṇaṁ hotī’ti. So evaṁ pajānāti: ‘evamayaṁ loko samudayatī’ti.
Rather, a learned noble disciple has only knowledge about this that is independent of others: ‘When this exists, this comes to be; due to the arising of this, this arises. When ignorance exists, choices come to be. When choices exist consciousness comes to be. When consciousness exists name and form come to be. When name and form exist the six sense fields come to be. When the six sense fields exist contact comes to be. When contact exists feeling comes to be. When feeling exists craving comes to be. When craving exists grasping comes to be. When grasping exists continued existence comes to be. When continued existence exists rebirth comes to be. When rebirth exists old age and death come to be.’ They understand: ‘That is how this world originates.’
“Mà này các Tỳ khưu, đối với vị Thánh đệ tử có nghe pháp, không cần niềm tin nơi người khác, trí tuệ của vị ấy khởi lên ngay tại đây rằng: ‘Do cái này có, cái kia có; do cái này sanh, cái kia sanh. Do vô minh có, các hành có; do các hành có, thức có; do thức có, danh-sắc có; do danh-sắc có, sáu xứ có; do sáu xứ có, xúc có; do xúc có, thọ có; do thọ có, ái có; do ái có, thủ có; do thủ có, hữu có; do hữu có, sanh có; do sanh có, già-chết có.’ Vị ấy biết như vầy: ‘Thế gian này tập khởi như vậy.’”
Na, bhikkhave, sutavato ariyasāvakassa evaṁ hoti: ‘kiṁ nu kho kismiṁ asati kiṁ na hoti, kissa nirodhā kiṁ nirujjhati? Kismiṁ asati saṅkhārā na honti, kismiṁ asati viññāṇaṁ na hoti, kismiṁ asati nāmarūpaṁ na hoti, kismiṁ asati saḷāyatanaṁ na hoti, kismiṁ asati phasso na hoti, kismiṁ asati vedanā na hoti, kismiṁ asati taṇhā na hoti …pe… upādānaṁ … bhavo … jāti … kismiṁ asati jarāmaraṇaṁ na hotī’ti?
A learned noble disciple doesn’t think: ‘When what doesn’t exist, what is not? Due to the cessation of what, what ceases? When what doesn’t exist do choices not come to be? When what doesn’t exist does consciousness not come to be? When what doesn’t exist do name and form … the six sense fields … contact … feeling … craving … grasping … continued existence … rebirth … old age and death not come to be?’
Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có học thức không có suy nghĩ như vầy: ‘Do cái gì không có mặt nên cái gì không có mặt? Do cái gì diệt nên cái gì bị diệt? Do cái gì không có mặt nên các hành không có mặt? Do cái gì không có mặt nên thức không có mặt? Do cái gì không có mặt nên danh sắc không có mặt? Do cái gì không có mặt nên sáu xứ không có mặt? Do cái gì không có mặt nên xúc không có mặt? Do cái gì không có mặt nên thọ không có mặt? Do cái gì không có mặt nên ái không có mặt? ... thủ ... hữu ... sanh ... Do cái gì không có mặt nên già chết không có mặt?’
Atha kho, bhikkhave, sutavato ariyasāvakassa aparappaccayā ñāṇamevettha hoti: ‘imasmiṁ asati idaṁ na hoti, imassa nirodhā idaṁ nirujjhati. Avijjāya asati saṅkhārā na honti; saṅkhāresu asati viññāṇaṁ na hoti; viññāṇe asati nāmarūpaṁ na hoti; nāmarūpe asati saḷāyatanaṁ na hoti …pe… jātiyā asati jarāmaraṇaṁ na hotī’ti. So evaṁ pajānāti: ‘evamayaṁ loko nirujjhatī’ti.
Rather, a learned noble disciple has only knowledge about this that is independent of others: ‘When this doesn’t exist, this doesn’t come to be; due to the cessation of this, this ceases. That is: When ignorance doesn’t exists, choices don’t come to be. When choices don’t exist consciousness doesn’t come to be. When consciousness doesn’t exist name and form don’t come to be. When name and form don’t exist the six sense fields don’t come to be. … When rebirth doesn’t exist old age and death don’t come to be.’ They understand: ‘That is how this world ceases.’
Này các Tỳ khưu, nhưng vị Thánh đệ tử có học thức, không do duyên người khác, trí tuệ khởi lên ở đây rằng: ‘Do cái này không có mặt, cái này không có mặt; do cái này diệt, cái này bị diệt. Do vô minh không có mặt, các hành không có mặt; do các hành không có mặt, thức không có mặt; do thức không có mặt, danh sắc không có mặt; do danh sắc không có mặt, sáu xứ không có mặt... do sanh không có mặt, già chết không có mặt.’ Vị ấy biết rõ như vầy: ‘Thế giới này diệt như vậy.’
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako evaṁ lokassa samudayañca atthaṅgamañca yathābhūtaṁ pajānāti, ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako diṭṭhisampanno itipi, dassanasampanno itipi, āgato imaṁ saddhammaṁ itipi, passati imaṁ saddhammaṁ itipi, sekkhena ñāṇena samannāgato itipi, sekkhāya vijjāya samannāgato itipi, dhammasotaṁ samāpanno itipi, ariyo nibbedhikapañño itipi, amatadvāraṁ āhacca tiṭṭhati itipī”ti.
Dasamaṁ.
A noble disciple comes to truly understand the origin and disappearance of the world. Such a noble disciple is one who is called ‘one accomplished in view’, ‘one accomplished in vision’, ‘one who has come to the true teaching’, ‘one who sees this true teaching’, ‘one endowed with a trainee’s insight’, ‘one endowed with a trainee’s knowledge’, ‘one who has entered the stream of the teaching’, ‘a noble one with penetrative wisdom’, and also ‘one who stands pressing against the door to freedom from death’.”
Này các Tỳ khưu, khi vị Thánh đệ tử biết rõ như thật về sự sanh khởi và sự đoạn diệt của thế giới như vậy, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử này được gọi là người đầy đủ chánh kiến, cũng được gọi là người đầy đủ tri kiến, cũng được gọi là người đã đến với Chánh pháp này, cũng được gọi là người thấy Chánh pháp này, cũng được gọi là người đầy đủ trí tuệ của bậc hữu học, cũng được gọi là người đầy đủ minh của bậc hữu học, cũng được gọi là người đã nhập vào dòng pháp, cũng được gọi là bậc Thánh có trí tuệ thể nhập, cũng được gọi là người đứng chạm vào cửa bất tử. (Bài kinh thứ mười.)
Gahapativaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Gia Chủ, thứ năm.
Dve pañcaverabhayā vuttā, dukkhaṁ loko ca ñātikaṁ; Aññataraṁ jāṇussoṇi ca, lokāyatikena aṭṭhamaṁ; Dve ariyasāvakā vuttā, vaggo tena pavuccatīti.
Hai kinh Năm Sự Oán Thù Sợ Hãi được nói, kinh Khổ, Thế Gian, và Thân Quyến; kinh Một Vị Nào Đó, và Jāṇussoṇi, với kinh Thế Tục là thứ tám; hai kinh Thánh Đệ Tử được nói, do đó được gọi là phẩm.