- Saṁyutta Nikāya 1.70
- 7. Addhavagga
Lokasutta
“Kismiṁ loko samuppanno, kismiṁ kubbati santhavaṁ; Kissa loko upādāya, kismiṁ loko vihaññatī”ti.
Bản dịch
Lokasutta
—Trên gì thế gian sanh?
Trên gì được giao tiếp?
Thế gian chấp trước gì?
Trên gì đời khổ não?
—Trên sáu, thế gian sanh,
Trên sáu, được giao tiếp,
Thế gian chấp trước sáu,
Trên sáu, đời khổ não.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Kismiṁ loko samuppanno, kismiṁ kubbati santhavaṁ; Kissa loko upādāya, kismiṁ loko vihaññatī”ti.
“In what has the world arisen? With what does it get intimate? By grasping what is the world troubled in what?”
“Thế gian sanh khởi từ đâu? Kết thân với cái gì? Thế gian chấp thủ cái gì, và bị phiền não bởi cái gì?”
“Chasu loko samuppanno, chasu kubbati santhavaṁ; Channameva upādāya, chasu loko vihaññatī”ti.
“The world has arisen in six. It gets intimate with six. Derived from the six, the world’s troubled in six.”
“Thế gian sanh khởi từ sáu (nội xứ), kết thân với sáu (nội xứ); chấp thủ chính sáu (nội xứ) ấy, và bị phiền não bởi sáu (nội xứ).”
Addhavaggo sattamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Addha thứ bảy.
Nāmaṁ cittañca taṇhā ca, saṁyojanañca bandhanā; Abbhāhatuḍḍito pihito, icchā lokena te dasāti.
Danh, Tâm, và Ái Dục, Kiết Sử, và Trói Buộc; Bị Tổn Hại, Bị Móc Lên, Bị Che Đậy, Ham Muốn, và Thế Gian, đó là mười kinh.