- Saṁyutta Nikāya 1.48
- 5. Ādittavagga
Bản dịch
SN 1.48 — Kinh Jetavana (Kỳ Viên)
Jetavanasutta
Ðây là rừng Kỳ Viên.
Chỗ trú xứ Thánh chúng,
Chỗ ở đấng Pháp Vương,
Khiến tâm con hoan hỷ.
Nghiệp minh và tâm pháp,
Giới và tối thắng mạng,
Chính những diệu pháp ấy,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải vì dòng họ,
Không phải vì tài sản.
Do vậy bậc Hiền trí,
Thấy lợi ích chính mình,
Chánh giác sát tâm pháp,
Như vậy được thanh tịnh.
Như ngài Xá-lợi-phất,
Tuệ giới và tịch tịnh,
Tỷ-kheo đến bờ giác,
Ở đây là tối thượng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 1.48
- 5. On Fire
Jeta’s Grove
8. Kinh Jetavana (Kỳ Viên)
“Idañhi taṁ jetavanaṁ, isisaṅghanisevitaṁ; Āvutthaṁ dhammarājena, pītisañjananaṁ mama.
“This is indeed that Jeta’s Grove, frequented by the Saṅgha of seers, where the King of Dhamma stayed: it brings me joy!
‘Đây chính là khu rừng Jetavana, nơi chúng hội của các vị ẩn sĩ thường lui tới, nơi Pháp Vương đã ngự. Điều này làm phát sinh hỷ lạc cho tôi.’
Kammaṁ vijjā ca dhammo ca, sīlaṁ jīvitamuttamaṁ; Etena maccā sujjhanti, na gottena dhanena vā.
Deeds, knowledge, and principle; ethical conduct, an excellent livelihood; by these are mortals purified, not by clan or wealth.
‘Nghiệp, minh, và pháp, giới hạnh và đời sống tối thượng; nhờ những điều này mà chúng sanh được thanh tịnh, chứ không phải nhờ dòng dõi hay tài sản.’
Tasmā hi paṇḍito poso, sampassaṁ atthamattano; Yoniso vicine dhammaṁ, evaṁ tattha visujjhati.
That’s why an astute person, seeing what’s good for themselves, would examine the teaching rationally, that’s how they become purified in that.
‘Vì vậy, người hiền trí, thấy được lợi ích của chính mình, nên như lý tư duy về Pháp. Như vậy, người ấy được thanh tịnh ở nơi đó.’
Sāriputtova paññāya, sīlena upasamena ca; Yopi pāraṅgato bhikkhu, etāvaparamo siyā”ti.
Sāriputta is full of wisdom, ethics, and peace. Even a mendicant who has crossed over might at best equal him.”
‘Về trí tuệ, giới hạnh, và sự an tịnh, chỉ có ngài Sāriputta là bậc nhất. Vị tỳ khưu nào đã đến bờ kia, cũng chỉ có thể tối đa là bằng ngài mà thôi.’