- Saṁyutta Nikāya 1.49
- 5. Ādittavagga
Bản dịch
SN 1.49 — Kinh Macchari (Bỏn Sẻn)
Maccharisutta
Ở đời kẻ xan tham,
(Thế Tôn):
Keo kiết hay khước từ,
Tạo nên những chướng ngại,
Ngăn kẻ khác bố thí,
Ðời này và đời sau,
Quả báo họ là gì?
Chúng con đến tại đây,
Chính muốn hỏi Thế Tôn,
Chúng con muốn được biết,
Thế Tôn đáp thế nào?Ở đời kẻ xan tham,
(Vị Thiên):
Keo kiết hay khước từ,
Tạo nên những chướng ngại,
Ngăn kẻ khác bố thí,
Bị tái sanh địa ngục,
Bàng sanh, Dạ-ma giới.
Nếu được sanh làm người,
Sanh gia đình nghèo khó,
Y, thực, dục, hỷ lạc,
Họ được rất khó khăn.
Ðiều kẻ ngu ước vọng,
Họ không thâu hoạch được,
Quả hiện tại là vậy,
Ðời sau sanh ác thú.Nhờ những điều Ngài nói,
(Thế Tôn):
Chúng con được hiểu vậy,
Tôn giả Gotama,
Con xin hỏi câu khác.
Ở đây được thân người,
Từ tốn không xan tham,
Tin Phật và Chánh pháp,
Cùng tôn trọng chúng Tăng,
Ðời này và đời sau,
Quả báo họ là gì?
Chúng con đến tại đây,
Chính muốn hỏi Thế Tôn,
Chúng con muốn được biết,
Thế Tôn đáp thế nào?Ở đây được thân người,
Từ tốn không xan tham,
Tin Phật và Chánh pháp,
Cùng tôn trọng chúng Tăng,
Họ chói sáng chư Thiên,
Tại đấy họ tái sanh.
Nếu họ sanh làm người,
Họ sanh nhà phú gia,
Y, thực, dục, hỷ lạc,
Họ được không khó khăn,
Như các Tự tại thiên,
Hân hoan được thọ hưởng,
Giữa vật dụng tài sản,
Ðược người khác quy tụ,
Quả hiện tại là vậy,
Ðời sau sanh Thiên giới.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 1.49
- 5. On Fire
Stingy
9. Kinh Macchari (Bỏn Sẻn)
“Yedha maccharino loke, kadariyā paribhāsakā; Aññesaṁ dadamānānaṁ, antarāyakarā narā.
“Those folk in the world who are stingy, miserly and abusive, setting up obstacles for others who give.
‘Những người ở đời này, là những kẻ bỏn sẻn, keo kiệt, hay mắng nhiếc, và là những người gây trở ngại cho người khác đang bố thí.’
Kīdiso tesaṁ vipāko, samparāyo ca kīdiso; Bhagavantaṁ puṭṭhumāgamma, kathaṁ jānemu taṁ mayan”ti.
What kind of result do they reap? What kind of future life? We’ve come to ask the worthy sir: how are we to understand this?”
‘Quả báo của họ như thế nào, và đời sau của họ ra sao? Chúng con đến đây để hỏi Thế Tôn, làm thế nào chúng con có thể biết được điều đó?’
“Yedha maccharino loke, kadariyā paribhāsakā; Aññesaṁ dadamānānaṁ, antarāyakarā narā.
“Those folk in the world who are stingy, miserly and abusive, setting up obstacles for others who give:
‘Những người ở đời này, là những kẻ bỏn sẻn, keo kiệt, hay mắng nhiếc, và là những người gây trở ngại cho người khác đang bố thí.’
Nirayaṁ tiracchānayoniṁ, yamalokaṁ upapajjare; Sace enti manussattaṁ, dalidde jāyare kule.
they’re reborn in hell, the animal realm, or Yama’s world. If they return to the human state, they’re born in a poor family,
‘Họ tái sanh vào địa ngục, vào loài bàng sanh, hoặc vào cõi của Diêm vương. Nếu họ trở lại làm người, họ sẽ sanh vào gia đình nghèo khó.’
Coḷaṁ piṇḍo ratī khiḍḍā, yattha kicchena labbhati; Parato āsīsare bālā, tampi tesaṁ na labbhati; Diṭṭhe dhammesa vipāko, samparāye ca duggatī”ti.
where clothes, food, pleasure, and play are hard to find. They don’t even get what they hope for from others. This is the result in the present life, and in the next, a bad destination.”
‘Nơi mà y phục, vật thực, thú vui, và trò giải trí khó khăn mới có được. Những kẻ ngu si mong cầu từ người khác, nhưng họ cũng không nhận được điều đó. Đây là quả báo trong hiện tại, và ở đời sau là ác thú.’
“Itihetaṁ vijānāma, aññaṁ pucchāma gotama; Yedha laddhā manussattaṁ, vadaññū vītamaccharā.
“We understand what you’re saying, and ask another question, Gotama. What about those who’ve gained the human state, who are bountiful and rid of stinginess,
‘Chúng con đã hiểu rõ điều này như vậy. Thưa ngài Gotama, chúng con xin hỏi điều khác: Những người đã được làm người, là những người rộng lượng, không còn bỏn sẻn.’
Buddhe pasannā dhamme ca, saṅghe ca tibbagāravā; Kīdiso tesaṁ vipāko, samparāyo ca kīdiso; Bhagavantaṁ puṭṭhumāgamma, kathaṁ jānemu taṁ mayan”ti.
confident in the Buddha and the teaching, with keen respect for the Saṅgha? What kind of result do they reap? What kind of future life? We’ve come to ask the worthy sir: how are we to understand this?”
‘Những người có tín tâm nơi Phật, Pháp, và Tăng, và có lòng tôn kính sâu sắc. Quả báo của họ như thế nào, và đời sau của họ ra sao? Chúng con đến đây để hỏi Thế Tôn, làm thế nào chúng con có thể biết được điều đó?’
“Yedha laddhā manussattaṁ, vadaññū vītamaccharā; Buddhe pasannā dhamme ca, saṅghe ca tibbagāravā; Ete saggā pakāsanti, yattha te upapajjare.
“Those who’ve gained the human state who are bountiful and rid of stinginess, confident in the Buddha and the teaching, with keen respect for the Saṅgha: they illuminate the heavens wherever they’re reborn.
‘Những người đã được làm người, là những người rộng lượng, không còn bỏn sẻn, có tín tâm nơi Phật, Pháp, và Tăng, và có lòng tôn kính sâu sắc. Họ làm rực sáng các cõi trời, nơi mà họ tái sanh.’
Sace enti manussattaṁ, aḍḍhe ājāyare kule; Coḷaṁ piṇḍo ratī khiḍḍā, yatthākicchena labbhati.
If they return to the human state, they’re reborn in a rich family, where clothes, food, pleasure, and play are easy to find.
‘Nếu họ trở lại làm người, họ sẽ sanh vào gia đình giàu có. Nơi mà y phục, vật thực, thú vui, và trò giải trí có được một cách dễ dàng.’
Parasambhatesu bhogesu, vasavattīva modare; Diṭṭhe dhammesa vipāko, samparāye ca suggatī”ti.
They rejoice like those who control the possessions of others. This is the result in the present life, and in the next, a good destination.”
‘Họ vui hưởng quyền làm chủ đối với tài sản do người khác tích lũy. Đây là quả báo trong hiện tại, và ở đời sau là thiện thú.’