- Saṁyutta Nikāya 1.20
- 2. Nandanavagga
Samiddhisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Samiddhisutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Vương Xá tại Tapodārāma (Tịnh xá Suối nước nóng).
Vi-n 2 Tôn giả Samiddhi, khi đêm đã gần tàn, thức dậy và đi đến suối nước nóng để tắm rửa tay chân. Sau khi tắm rửa tay chân, ra khỏi suối nước nóng, Tôn giả đứng, đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô.
Vi-n 3 Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng suối nước nóng, đi đến Tôn giả Samiddhi, sau khi đến, đứng giữa hư không, nói lên bài kệ với Tôn giả Samiddhi:
Không hưởng, Ông khất thực,
(Samiddhi):
Nay khất thực, không hưởng,
Hãy hưởng rồi khất thực,
Chớ uổng phí thời gian.Thời Ông, ta không biết.
Thời ta, ẩn không hiện.
Không hưởng, ta khất thực,
Không uổng thời gian ta.
Vi-n 4 Rồi vị Thiên ấy đứng xuống đất và thưa với Tôn giả Samiddhi:
—Này Tỷ-kheo, Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu, tóc còn đen nhánh trong tuổi thanh xuân. Trong thời trẻ thơ của tuổi đời, Ông không thọ hưởng các ái dục. Này Tỷ-kheo, hãy thọ hưởng các ái dục của người đời. Chớ có bỏ hiện tại mà chạy theo những gì bị thời gian chi phối.
Vi-n 5 —Này Hiền giả, ta không bỏ hiện tại và chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Hiền giả, chính ta bỏ những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại. Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói, các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não (Upàyàsà); nguy hiểm ở đấy càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu.
Vi-n 6 —Và này Tỷ-kheo, như thế nào mà Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, nguy hiểm ở đấy càng nhiều hơn? Như thế nào thuộc về hiện tại là pháp này, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu?
Vi-n 7 —Này Hiền giả, tôi là người mới xuất gia, mới đến đây không bao lâu. Tôi không thể giải thích rộng rãi cho Ông pháp và luật này. Nhưng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ở Rājagaha (Vương Xá) tại tịnh xá Tapoda (Suối nước nóng). Hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời cho Ông như thế nào, hãy như vậy thọ trì.
Vi-n 8 —Này Tỷ-kheo, không dễ gì cho chúng tôi được đến gặp bậc Thế Tôn ấy, một bậc được chư Thiên khác, có đại uy lực đoanh vây. Này Tỷ-Kheo, nếu Ngài đi đến bậc Thế Tôn ấy và hỏi ý nghĩa này, chúng tôi có thể đến để nghe pháp.
Vi-n 9 —Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Samiddhi vâng đáp vị Thiên ấy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn:
Vi-n 10 —Ở đây, bạch Thế Tôn, sau khi đêm đã gần tàn, con thức dậy và đi đến suối nước nóng để tắm rửa tay chân. Sau khi tắm rửa tay chân, ra khỏi suối nước nóng, con đứng đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô. Bạch Thế Tôn, rồi một vị Thiên, sau khi đêm vừa mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng nước nóng, đi đến con, sau khi đến, đứng giữa hư không và nói lên bài kệ này:
“Không hưởng, Ông khất thực,
Nay khất thực, không hưởng,
Hãy hưởng rồi khất thực,
Chớ uổng phí thời gian.”
Vi-n 11 Khi nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời với vị Thiên ấy bằng bài kệ:
“Thời Ông, ta không biết,
Thời ta, ẩn không hiện,
Không hưởng, ta khất thực,
Không uổng thời gian ta.”
Vi-n 12 Bạch Thế Tôn, rồi vị Thiên ấy đứng xuống đất và thưa với con:
“—Này Tỷ-kheo, Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu, tóc đen nhánh, trong tuổi thanh xuân. Trong thời trẻ thơ của tuổi đời, Ông không thọ hưởng các dục. Này Tỷ-kheo, hãy thọ hưởng các dục lạc của người đời. Chớ có bỏ hiện tại để chạy theo những gì bị thời gian chi phối.”
Vi-n 13 Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với vị Thiên ấy:
“—Này Hiền giả, ta không bỏ hiện tại để chạy theo những gì bị thời gian chi phối. Và này Hiền giả, chính ta bỏ những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại. Những gì thuộc thời gian, này Hiền giả, là các dục, được nói đến là nhiều khổ đau, nhiều phiền não (upàyàsa), nguy hiểm ở đấy lại nhiều hơn. Còn pháp này thuộc hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu.”
Vi-n 14 Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói với con:
“—Và này Tỷ-kheo, như thế nào mà Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, nguy hiểm ở đây càng nhiều hơn? Như thế nào thuộc về hiện tại là pháp này không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu?”
Vi-n 15 Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với vị Thiên ấy:
“—Này Hiền giả, tôi là người mới xuất gia, mới đến đây không bao lâu. Tôi không thể giải thích rộng rãi cho Ông về pháp và luật này. Nhưng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ở Rājagaha (Vương Xá), tại tịnh xá Tapoda (Suối nước nóng). Hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời cho Ông như thế nào, hãy như vậy thọ trì.”
Vi-n 16 Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói với con:
“ —Này Tỷ-kheo, không dễ gì cho chúng tôi được đến gặp bậc Thế Tôn ấy, một bậc được các chư Thiên khác có đại uy lực đoanh vây. Này Tỷ-kheo, nếu Ngài đi đến bậc Thế Tôn và hỏi ý nghĩa ấy, chúng tôi cũng sẽ đến và nghe pháp.”
—Bạch Thế Tôn, nếu vị Thiên ấy nói sự thật, thời vị ấy ở đây, không xa bao nhiêu.
Vi-n 17 Khi được nói vậy, vị Thiên ấy nói với Tôn giả Samiddhi như sau:
—Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo! Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo! Tôi đã đến rồi.
Vi-n 18 Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ với vị Thiên ấy:
Chúng sanh được hiểu biết,
Những điều được nói lên,
Và chấp trước thái độ,
Trên những điều được nói.
Nếu họ không liễu tri
Những điều được nói lên,
Họ đi đến trói buộc.
Do thần chết chi phối,
Nếu họ liễu tri được
Những điều được nói lên,
Họ không có tưởng tri,
Những điều được nói ra.
Ðối với vị như vậy,
Lỗi lầm nhất định không.
Nếu các Ông có biết,
Hãy nói lên Dạ-xoa.
Vi-n 19 —Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt. Lành thay, nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.
(Thế Tôn):
Bằng, thắng hay thua Ta,
Nghĩ vậy đấu tranh khởi;
Cả ba không dao động,
Bằng, thắng không khởi lên.
Nếu như Ông có biết,
Hãy nói lên, Dạ-xoa.
Vi-n 21 —Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt. Lành thay, nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.
Vi-n 22 (Thế Tôn):Hãy từ bỏ tính toán,
Không chạy theo hư tưởng,
Từ bỏ mọi tham ái,
Ðối danh sắc ở đời,
Vị ấy đoạn triền phược,
Không lo âu, không ái.
Chư Thiên và loài Người,
Ðời này hay đời sau,
Ở cảnh giới chư Thiên,
Hay tại mọi trú xứ,
Tìm cầu nhưng không gặp,
Vết tích của vị ấy.
Nếu Ông biết người ấy
Hãy nói lên, Dạ-xoa.
Vi-n 23 —Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa rộng rãi như sau:
Khắp thế giới chớ làm,
Ðiều ác thân, miệng, ý,
Từ bỏ mọi ái dục,
Chánh niệm, tâm tỉnh giác,
Không khổ hạnh ép xác,
Vô bổ, không lợi ích.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
10. Kinh Samiddhi
Atha kho āyasmā samiddhi rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya yena tapodā tenupasaṅkami gattāni parisiñcituṁ. Tapode gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsi gattāni pubbāpayamāno.
Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ tapodaṁ obhāsetvā yena āyasmā samiddhi tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā vehāsaṁ ṭhitā āyasmantaṁ samiddhiṁ gāthāya ajjhabhāsi:
Then Venerable Samiddhi rose at the crack of dawn and went to the hot springs to bathe. When he had bathed and emerged from the water he stood in one robe drying his limbs.
Then, late at night, a glorious deity, lighting up the entire hot springs, went up to Samiddhi, and, standing in the air, addressed him in verse:
20. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại Tapodārāma. Bấy giờ, Tôn giả Samiddhi, vào lúc cuối đêm, lúc rạng đông, thức dậy và đi đến suối nước nóng Tapodā để tắm rửa thân thể. Sau khi tắm rửa thân thể ở Tapodā và đi lên, ngài chỉ mặc một y, đứng làm khô thân thể. Bấy giờ, một vị thiên nữ, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, làm cho toàn thể vùng Tapodā sáng chói, đi đến chỗ Tôn giả Samiddhi; sau khi đến, đứng trên hư không, nói lên kệ với Tôn giả Samiddhi:
“Abhutvā bhikkhasi bhikkhu, na hi bhutvāna bhikkhasi; Bhutvāna bhikkhu bhikkhassu, mā taṁ kālo upaccagā”ti.
“Mendicant, you seek alms before you eat; you don’t seek alms after eating. But you should eat first, then seek alms: don’t let the time pass you by.”
Này Tỳ-kheo, ngài đi khất thực mà chưa hưởng thụ, chớ nên đi khất thực mà chưa hưởng thụ; Này Tỳ-kheo, hãy hưởng thụ rồi hãy đi khất thực, chớ để thời gian vượt qua ngài.
“Kālaṁ vohaṁ na jānāmi, channo kālo na dissati; Tasmā abhutvā bhikkhāmi, mā maṁ kālo upaccagā”ti.
“I actually don’t know the time; it’s hidden and unseen. That’s why I seek alms before eating, so that the time may not pass me by!”
Ta không biết được thời gian, thời gian bị che khuất, không thể thấy. Vì thế, ta đi khất thực mà không hưởng thụ, chớ để thời gian vượt qua ta.
Atha kho sā devatā pathaviyaṁ patiṭṭhahitvā āyasmantaṁ samiddhiṁ etadavoca: “daharo tvaṁ, bhikkhu, pabbajito susu kāḷakeso, bhadrena yobbanena samannāgato, paṭhamena vayasā, anikkīḷitāvī kāmesu. Bhuñja, bhikkhu, mānusake kāme; mā sandiṭṭhikaṁ hitvā kālikaṁ anudhāvī”ti.
Then that deity landed on the ground and said to Samiddhi, “You’ve gone forth while young, mendicant. With pristine black hair, you’re blessed with youth, in the prime of life, and you’ve never flirted with sensual pleasures. Enjoy human sensual pleasures! Don’t give up what is apparent in the present to chase after what takes effect over time.”
Bấy giờ, vị thiên nữ ấy đứng trên mặt đất và nói với Tôn giả Samiddhi: 'Này Tỳ-kheo, ngài còn trẻ, mới xuất gia, còn rất non nớt, tóc còn đen nhánh, được phú cho tuổi thanh xuân tốt đẹp, trong thời niên thiếu, chưa từng vui hưởng các dục. Này Tỳ-kheo, hãy hưởng thụ các dục lạc của loài người; chớ có từ bỏ cái hiện tại mà chạy theo cái tương lai.'
“Na khvāhaṁ, āvuso, sandiṭṭhikaṁ hitvā kālikaṁ anudhāvāmi. Kālikañca khvāhaṁ, āvuso, hitvā sandiṭṭhikaṁ anudhāvāmi. Kālikā hi, āvuso, kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā; ādīnavo ettha bhiyyo. Sandiṭṭhiko ayaṁ dhammo akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī”ti.
“I’m not, respectable sir. I’m giving up what takes effect over time to chase after what is apparent in the present. For the Buddha has said that sensual pleasures take effect over time, with much suffering and distress, and they’re all the more full of drawbacks. But this teaching is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.”
Này hiền hữu, ta không từ bỏ cái hiện tại để chạy theo cái tương lai. Mà này hiền hữu, ta từ bỏ cái tương lai để chạy theo cái hiện tại. Này hiền hữu, vì các dục lạc tương lai đã được Thế Tôn nói là nhiều đau khổ, nhiều phiền não; ở đây sự nguy hiểm còn nhiều hơn. Pháp này là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
“Kathañca, bhikkhu, kālikā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo? Kathaṁ sandiṭṭhiko ayaṁ dhammo akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī”ti?
“But in what way, mendicant, has the Buddha said that sensual pleasures take effect over time, with much suffering and distress, and they’re all the more full of drawbacks? And how is this teaching apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves?”
Này Tỳ-kheo, thế nào là các dục lạc tương lai được Thế Tôn nói là nhiều đau khổ, nhiều phiền não, ở đây sự nguy hiểm còn nhiều hơn? Thế nào là Pháp này thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?
“Ahaṁ kho, āvuso, navo acirapabbajito adhunāgato imaṁ dhammavinayaṁ. Na tāhaṁ sakkomi vitthārena ācikkhituṁ. Ayaṁ so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho rājagahe viharati tapodārāme. Taṁ bhagavantaṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ puccha. Yathā te bhagavā byākaroti tathā naṁ dhāreyyāsī”ti.
“I’m junior, respectable sir, recently gone forth, newly come to this teaching and training. I’m not able to explain this in detail. But he, that Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha, is staying near Rājagaha in the Hot Springs Monastery. You should approach him and ask about this matter. And you should remember it in line with the Buddha’s answer.”
Này hiền hữu, ta là người mới, xuất gia chưa bao lâu, vừa mới đến với Pháp và Luật này. Ta không thể giải thích rộng rãi. Kia là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đang trú ở Rājagaha, tại Tapodārāma. Hãy đến gần Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời cho hiền hữu như thế nào, hãy ghi nhớ như vậy.
“Na kho, bhikkhu, sukaro so bhagavā amhehi upasaṅkamituṁ, aññāhi mahesakkhāhi devatāhi parivuto. Sace kho tvaṁ, bhikkhu, taṁ bhagavantaṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ puccheyyāsi, mayampi āgaccheyyāma dhammassavanāyā”ti.
“Evamāvuso”ti kho āyasmā samiddhi tassā devatāya paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā samiddhi bhagavantaṁ etadavoca:
“Idhāhaṁ, bhante, rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya yena tapodā tenupasaṅkamiṁ gattāni parisiñcituṁ. Tapode gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsiṁ gattāni pubbāpayamāno.
“It’s not easy for us to approach the Buddha, as he is surrounded by other illustrious deities. If you go to the Buddha and ask him about this matter, we’ll come along and listen to the teaching.”
“Yes, reverend,” Venerable Samiddhi replied. He went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. Then he added:
"Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, vị thiên nữ ấy đã nói với con điều này: 'Này tỳ khưu, không dễ cho chúng tôi đến gần Thế Tôn, vì Ngài được các vị thiên có đại thần lực khác vây quanh. Này tỳ khưu, nếu ngài đến gần Thế Tôn và hỏi về ý nghĩa này, chúng tôi cũng sẽ đến để nghe pháp.' Bạch Thế Tôn, nếu lời của vị thiên nữ ấy là thật, thì vị thiên nữ ấy đang ở đây, không xa."
Bạch Thế Tôn, ở đây, vào lúc cuối đêm, lúc rạng đông, con thức dậy và đi đến suối nước nóng Tapodā để tắm rửa thân thể. Sau khi tắm rửa thân thể ở Tapodā và đi lên, con chỉ mặc một y, đứng làm khô thân thể. Bấy giờ, bạch Thế Tôn, một vị thiên nữ, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng, làm cho toàn thể vùng Tapodā sáng chói, đi đến chỗ con; sau khi đến, đứng trên hư không, nói lên kệ này với con:
‘Abhutvā bhikkhasi bhikkhu, na hi bhutvāna bhikkhasi; Bhutvāna bhikkhu bhikkhassu, mā taṁ kālo upaccagā’ti.
Này Tỳ-kheo, ngài đi khất thực mà chưa hưởng thụ, chớ nên đi khất thực mà chưa hưởng thụ; Này Tỳ-kheo, hãy hưởng thụ rồi hãy đi khất thực, chớ để thời gian vượt qua ngài.
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, taṁ devataṁ gāthāya paccabhāsiṁ:
Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con đã đáp lại vị thiên nữ ấy bằng bài kệ:
‘Kālaṁ vohaṁ na jānāmi, channo kālo na dissati; Tasmā abhutvā bhikkhāmi, mā maṁ kālo upaccagā’ti.
Ta không biết được thời gian, thời gian bị che khuất, không thể thấy. Vì thế, ta đi khất thực mà không hưởng thụ, chớ để thời gian vượt qua ta.
Atha kho, bhante, sā devatā pathaviyaṁ patiṭṭhahitvā maṁ etadavoca: ‘daharo tvaṁ, bhikkhu, pabbajito susu kāḷakeso, bhadrena yobbanena samannāgato, paṭhamena vayasā, anikkīḷitāvī kāmesu. Bhuñja, bhikkhu, mānusake kāme; mā sandiṭṭhikaṁ hitvā kālikaṁ anudhāvī’ti.
Bạch Thế Tôn, bấy giờ, vị thiên nữ ấy đứng trên mặt đất và nói với con: 'Này Tỳ-kheo, ngài còn trẻ, mới xuất gia, còn rất non nớt, tóc còn đen nhánh, được phú cho tuổi thanh xuân tốt đẹp, trong thời niên thiếu, chưa từng vui hưởng các dục. Này Tỳ-kheo, hãy hưởng thụ các dục lạc của loài người; chớ có từ bỏ cái hiện tại mà chạy theo cái tương lai.'
Evaṁ vuttāhaṁ, bhante, taṁ devataṁ etadavocaṁ: ‘na khvāhaṁ, āvuso, sandiṭṭhikaṁ hitvā kālikaṁ anudhāvāmi; kālikañca khvāhaṁ, āvuso, hitvā sandiṭṭhikaṁ anudhāvāmi. Kālikā hi, āvuso, kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā; ādīnavo ettha bhiyyo. Sandiṭṭhiko ayaṁ dhammo akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti.
Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con đã nói với vị thiên nữ ấy: 'Này hiền hữu, ta không từ bỏ cái hiện tại để chạy theo cái tương lai; mà này hiền hữu, ta từ bỏ cái tương lai để chạy theo cái hiện tại. Này hiền hữu, vì các dục lạc tương lai đã được Thế Tôn nói là nhiều đau khổ, nhiều phiền não; ở đây sự nguy hiểm còn nhiều hơn. Pháp này là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.'
Evaṁ vutte, bhante, sā devatā maṁ etadavoca: ‘kathañca, bhikkhu, kālikā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā; ādīnavo ettha bhiyyo? Kathaṁ sandiṭṭhiko ayaṁ dhammo akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti?
Evaṁ vuttāhaṁ, bhante, taṁ devataṁ etadavocaṁ: ‘ahaṁ kho, āvuso, navo acirapabbajito adhunāgato imaṁ dhammavinayaṁ, na tāhaṁ sakkomi vitthārena ācikkhituṁ. Ayaṁ so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho rājagahe viharati tapodārāme. Taṁ bhagavantaṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ puccha. Yathā te bhagavā byākaroti tathā naṁ dhāreyyāsī’ti.
Evaṁ vutte, bhante, sā devatā maṁ etadavoca: ‘na kho, bhikkhu, sukaro so bhagavā amhehi upasaṅkamituṁ, aññāhi mahesakkhāhi devatāhi parivuto. Sace kho tvaṁ, bhikkhu, taṁ bhagavantaṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ puccheyyāsi, mayampi āgaccheyyāma dhammassavanāyā’ti. Sace, bhante, tassā devatāya saccaṁ vacanaṁ, idheva sā devatā avidūre”ti.
“Sir, if that deity spoke the truth, he’ll be close by.”
"Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, vị thiên nữ ấy đã nói với con điều này: 'Này tỳ khưu, tại sao các dục trong tương lai được Thế Tôn nói là có nhiều đau khổ, có nhiều phiền não? Ở đây, sự nguy hiểm lại nhiều hơn? Tại sao pháp này là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?' Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con đã nói với vị thiên nữ ấy điều này: 'Này hiền hữu, tôi là người mới, xuất gia chưa lâu, vừa mới đến với pháp và luật này, tôi không có khả năng giảng giải một cách rộng rãi. Vị Thế Tôn kia, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đang trú ở Rājagaha, tại Tapodārāma. Hãy đến gần vị Thế Tôn ấy và hỏi về ý nghĩa này. Như Thế Tôn trả lời cho ngài, hãy ghi nhớ như vậy.'"
Evaṁ vutte, sā devatā āyasmantaṁ samiddhiṁ etadavoca: “puccha, bhikkhu, puccha, bhikkhu, yamahaṁ anuppattā”ti.
When he had spoken, that deity said to Samiddhi, “Ask, mendicant, ask! For I have arrived.”
Khi được nói vậy, vị thiên nữ ấy đã nói với tôn giả Samiddhi điều này: "Hãy hỏi đi, tỳ khưu, hãy hỏi đi, tỳ khưu, tôi đã đến rồi."
Atha kho bhagavā taṁ devataṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
Then the Buddha addressed the deity in verse:
Rồi Thế Tôn đã nói với vị thiên nữ ấy bằng những câu kệ:
“Akkheyyasaññino sattā, akkheyyasmiṁ patiṭṭhitā; Akkheyyaṁ apariññāya, yogamāyanti maccuno.
“Sentient beings who perceive the communicable, become established in the communicable. Not understanding the communicable, they fall under the yoke of Death.
"Chúng sanh có tưởng về cái có thể gọi tên, an trú trong cái có thể gọi tên; do không liễu tri cái có thể gọi tên, họ đi vào ách của tử thần."
Akkheyyañca pariññāya, Akkhātāraṁ na maññati; Tañhi tassa na hotīti, Yena naṁ vajjā na tassa atthi;
Sace vijānāsi vadehi yakkhā”ti.
But having fully understood the communicable, they don’t conceive a communicator, for they have nothing by which they might be described.
Tell me if you understand, spirit.”
"Do liễu tri cái có thể gọi tên, vị ấy không quan niệm có một 'người gọi tên'. Đối với vị ấy, không có cái nhân duyên mà qua đó người ta có thể nói về vị ấy. Nếu ngươi biết, hãy nói đi, này dạ xoa."
“Na khvāhaṁ, bhante, imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājānāmi. Sādhu me, bhante, bhagavā tathā bhāsatu yathāhaṁ imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ jāneyyan”ti.
“I don’t understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement. Please teach me this matter so I can understand the detailed meaning.”
"Bạch Thế Tôn, con không hiểu rõ ý nghĩa rộng rãi của điều mà Thế Tôn đã nói một cách tóm tắt. Lành thay, bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy nói theo cách mà con có thể hiểu rõ ý nghĩa rộng rãi của điều mà Thế Tôn đã nói một cách tóm tắt."
“Samo visesī uda vā nihīno, Yo maññatī so vivadetha tena; Tīsu vidhāsu avikampamāno, Samo visesīti na tassa hoti;
Sace vijānāsi vadehi yakkhā”ti.
“If you think that ‘I’m equal, special, or worse’, you’ll dispute about that. Unwavering in the face of the three discriminations, they have no thought, ‘I’m equal or special’.
Tell me if you understand, spirit.”
"Người nào nghĩ rằng mình 'bằng', 'hơn', hay 'kém', người ấy có thể tranh luận vì điều đó. Người không dao động trong ba loại so sánh này, đối với người ấy không có 'bằng' hay 'hơn'. Nếu ngươi biết, hãy nói đi, này dạ xoa."
“Imassapi khvāhaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa na vitthārena atthaṁ ājānāmi. Sādhu me, bhante, bhagavā tathā bhāsatu yathāhaṁ imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ jāneyyan”ti.
“I don’t understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement. Please teach me this matter so I can understand the detailed meaning.”
"Bạch Thế Tôn, con cũng không hiểu rõ ý nghĩa rộng rãi của điều mà Thế Tôn đã nói một cách tóm tắt này. Lành thay, bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy nói theo cách mà con có thể hiểu rõ ý nghĩa rộng rãi của điều mà Thế Tôn đã nói một cách tóm tắt."
“Pahāsi saṅkhaṁ na vimānamajjhagā, Acchecchi taṇhaṁ idha nāmarūpe; Taṁ chinnaganthaṁ anighaṁ nirāsaṁ, Pariyesamānā nājjhagamuṁ; Devā manussā idha vā huraṁ vā, Saggesu vā sabbanivesanesu.
Sace vijānāsi vadehi yakkhā”ti.
“Imassa khvāhaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi—
Pāpaṁ na kayirā vacasā manasā, Kāyena vā kiñcana sabbaloke; Kāme pahāya satimā sampajāno, Dukkhaṁ na sevetha anatthasaṁhitan”ti.
Nandanavaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Nandanā nandati ceva, Natthiputtasamena ca;
“They gave up judgment without falling into conceit; craving for name and form was cut off right here. They cut the ties, untroubled, <j>with no need for hope. Though gods and humans search for them in this life or the next, they never find them, not in heaven nor in any abode.
Tell me if you understand, spirit.”
“This is how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement:
You should never do anything bad by speech or mind or body in all the world. Having given up sensual pleasures, <j>mindful and aware, you shouldn’t keep doing <j>what’s painful and pointless.”
"Vị ấy đã từ bỏ sự chế định, không đạt đến sự kiêu mạn, đã cắt đứt ái dục trong danh sắc này. Vị ấy đã cắt đứt các trói buộc, không phiền não, không mong cầu, khi tìm kiếm vị ấy, chư thiên và loài người không tìm thấy, ở đây hay ở nơi khác, ở các cõi trời hay ở tất cả các nơi trú ngụ. Nếu ngươi biết, hãy nói đi, này dạ xoa."
Nandanā, và Nandati, và Natthiputtasama; Khattiyo, và Saṇamāna, và Niddātandī, và Dukkaraṃ; Hirī, Kuṭikā là thứ chín, và Samiddhi được nói là thứ mười.