Bản dịch
PV 47 — Chuyện Ngạ Quỷ ở Hồ Sen
12. Ambavanapetavatthu
BJT 805“Và hồ sen này của ngươi rất đáng yêu, có những bãi tắm đẹp bằng phẳng, và có nhiều nước, đã khéo được trổ hoa, có các bầy ong vò vẽ lúc nhúc; bằng cách nào ngươi đạt được (hồ sen) làm hài lòng này?
BJT 806Và khu rừng xoài này của ngươi rất đáng yêu, mang nặng các trái ở tất cả các mùa, đã khéo được trổ hoa, có các bầy ong vò vẽ lúc nhúc; bằng cách nào ngươi đạt được cung điện này?”
BJT 807“(Vật thí gồm có) xoài chín, nước, cháo; nhờ vào vật thí đã được dâng cúng ấy của người con gái, ở nơi này tôi đã đạt được bóng râm mát mẻ, làm thích ý.”
BJT 808“Quý vị hãy nhìn xem nghiệp được thấy rõ ràng như thế này, quả thành tựu của sự bố thí, của sự rèn luyện, của sự thu thúc: sau khi là nữ tỳ trong các gia đình của ông chủ, tôi trở thành con dâu và là nữ chủ nhân của gia đình.”
Chuyện Ngạ Quỷ ở Hồ Sen là thứ mười hai.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
12. Ambavanapetavatthu
12. The Story of the Mango Grove Peta
12. Chuyện Ngạ Quỷ ở Vườn Xoài
796.
796.
796.
‘‘Ayañca te pokkharaṇī surammā, samā sutitthā ca mahodakā ca;
Supupphitā bhamaragaṇānukiṇṇā, kathaṃ tayā laddhā ayaṃ manuññā.
“And this very lovely lotus pond of yours, level, with good bathing places and abundant water, abloom with flowers and swarming with multitudes of bees—how did you obtain this delightful one?”
“Hồ sen này của ngài rất đẹp, bằng phẳng, có bến tắm tốt và nhiều nước; hoa nở rộ, đầy những đàn ong. Do đâu ngài có được hồ sen đáng ưa thích này?”
797.
797.
797.
‘‘Idañca te ambavanaṃ surammaṃ, sabbotukaṃ dhārayate † phalāni;
Supupphitaṃ bhamaragaṇānukiṇṇaṃ, kathaṃ tayā laddhamidaṃ vimānaṃ’’.
“And this very lovely mango grove of yours, which bears fruit in all seasons, is abloom with flowers and swarming with multitudes of bees—how did you obtain this mansion?”
“Và vườn xoài này của ngài rất đẹp, ra quả quanh năm, hoa nở rộ, đầy những đàn ong. Do đâu ngài có được lâu đài này?”
798.
798.
798.
‘‘Ambapakkaṃ dakaṃ † yāgu, sītacchāyā manoramā;
Dhītāya dinnadānena, tena me idha labbhati’’.
“Ripe mangoes, water, gruel, and cool, delightful shade—it is through a gift given by my daughter that this is obtained by me here.”
“Xoài chín, nước, cháo, và bóng mát dễ chịu; nhờ vào sự cúng dường của con gái, tôi có được những thứ ấy tại đây.”
799.
799.
799.
‘‘Sandiṭṭhikaṃ kammaṃ evaṃ † passatha, dānassa damassa saṃyamassa vipākaṃ;
Dāsī ahaṃ ayyakulesu hutvā, suṇisā homi agārassa issarā’’ti.
“See thus the visible result of giving, taming, and restraint. Though I was a slave girl in the houses of masters, I am now a daughter-in-law, the mistress of the house.”
“Hãy xem quả báo của nghiệp hiện tại như thế này, quả của sự bố thí, sự tự chủ, và sự chế ngự. Tôi, từng là một nữ tỳ trong gia đình quyền quý, nay đã trở thành con dâu, người chủ của ngôi nhà.”
Ambavanapetavatthu dvādasamaṃ.
The Story of the Mango Grove Peta: The Twelfth.
Chuyện Ngạ Quỷ ở Vườn Xoài, phẩm thứ mười hai.