Bản dịch
PV 45 — Chuyện Nhóm Ngạ Quỷ
10. Gaṇapetavatthu
BJT 791Này các ông, các ông có vóc dáng xấu xí, ốm o, nổi đầy gân, lòi cả xương sườn, gầy guộc, các ông là những ai vậy?”
BJT 792“Thưa ngài đại đức, chúng tôi là ngạ quỷ bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây chúng tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 793“Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà từ nơi đây các ông đã đi đến thế giới ngạ quỷ?”
BJT 794“Ở những bến tắm không bị ngăn cấm, chúng tôi đã góp nhặt từng nửa đồng tiền māsaka. Trong khi các vật bố thí đang hiện hữu, chúng tôi đã không tạo lập hòn đảo (nương nhờ) cho bản thân.
BJT 795Bị khát (nước), chúng tôi đi đến gần dòng sông thì dòng sông trở nên khô cạn. Vào những lúc nóng, chúng tôi đi đến gần bóng râm thì bóng râm trở thành ánh nắng mặt trời.
BJT 796Và làn gió, có dáng vẻ của ngọn lửa, thổi đến đốt nóng chúng tôi. Và thưa ngài, chúng tôi xứng đáng với việc này và việc khác tồi tệ hơn thế ấy.
BJT 797Chúng tôi còn đi nhiều do-tuần, bị đói ăn, có sự ham muốn về vật thực, lại chẳng được thọ lãnh, chúng tôi quay trở lại. Ôi, tình trạng phước báu ít ỏi của chúng tôi!
BJT 798Bị đói, bị choáng váng, lảo đảo, quỵ xuống ở mặt đất, chúng tôi dã dượi nằm ngửa ra, chúng tôi té ngã sụm xuống.
BJT 799Và ngay tại nơi ấy, bị té ngã, quỵ xuống ở mặt đất, chúng tôi đây đấm ngực và đầu. Ôi, tình trạng phước báu ít ỏi của chúng tôi!
BJT 800Và thưa ngài, chúng tôi xứng đáng với việc này và việc khác tồi tệ hơn thế ấy. Trong khi các vật bố thí đang hiện hữu, chúng tôi đã không tạo lập hòn đảo (nương nhờ) cho bản thân.
BJT 801Chắc chắn rằng chúng tôi đây, sau khi đi khỏi nơi này, sau khi đạt được sự xuất thân thuộc loài người, sẽ là những người nhân từ, đầy đủ giới hạnh, sẽ thực hiện nhiều điều tốt đẹp.”
Chuyện Nhóm Ngạ Quỷ là thứ mười.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Gaṇapetavatthu
10. The Story of the Group of Petas
10. Câu chuyện nhóm ngạ quỷ.
782.
782.
782.
‘‘Naggā dubbaṇṇarūpāttha, kisā dhamanisanthatā;
Upphāsulikā † kisikā, ke nu tumhettha mārisā’’ti.
“Naked and of ugly appearance you are, emaciated and with veins showing, with protruding ribs, extremely frail—who, good sirs, are you here?”
“Các ngài trần truồng, hình sắc xấu xí, gầy gò, nổi đầy gân, xương sườn lòi ra, và hốc hác. Này các ngài, các ngài là ai vậy?”
783.
783.
783.
‘‘Mayaṃ bhadante petāmhā, duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṃ karitvāna, petalokaṃ ito gatā’’ti.
“Venerable sir, we are petas, gone to a woeful state, belonging to the world of Yama. Having done evil kamma, we have gone from here to the world of the petas.”
“Bạch ngài, chúng con là những ngạ quỷ, thuộc cảnh giới của Diêm vương, đã đi đến khổ cảnh. Do đã tạo ác nghiệp, nên từ đây chúng con đã sanh vào cảnh giới ngạ quỷ.”
784.
784.
784.
‘‘Kiṃ nu kāyena vācāya, manasā dukkaṭaṃ kataṃ;
Kissa kammavipākena, petalokaṃ ito gatā’’ti.
“What evil deed was done by you with body, speech, or mind? As the result of what kamma have you gone from here to the world of the petas?”
“Các vị đã làm điều ác gì bằng thân, khẩu, hay ý? Do quả báo của nghiệp nào mà từ đây các vị đã sanh vào cảnh giới ngạ quỷ?”
785.
785.
785.
‘‘Anāvaṭesu titthesu, vicinimhaddhamāsakaṃ;
Santesu deyyadhammesu, dīpaṃ nākamha attano.
“At unrestricted fords, we searched for a half-māsaka; though there were things to be given, we made no refuge for ourselves.”
“Tại những bến nước không người canh giữ, chúng con đã tìm kiếm dù chỉ nửa đồng māsaka. Mặc dù có của cải để bố thí, chúng con đã không tạo ra hòn đảo (nương tựa) cho chính mình.”
786.
786.
786.
‘‘Nadiṃ upema tasitā, rittakā parivattati;
Chāyaṃ upema uṇhesu, ātapo parivattati.
“Thirsty, we approach a river, but it turns empty. In the heat, we approach shade, but it turns into scorching sun.”
“Khát nước, chúng con đi đến sông, nhưng sông liền trở nên trống rỗng. Trong lúc trời nóng, chúng con đi đến bóng râm, nhưng bóng râm liền biến thành nắng gắt.”
787.
787.
787.
‘‘Aggivaṇṇo ca no vāto, ḍahanto upavāyati;
Etañca bhante arahāma, aññañca pāpakaṃ tato.
“And a wind the color of fire blows upon us, burning us. This, venerable sir, we deserve, and other suffering more evil than that.”
“Và ngọn gió như lửa thổi đến, thiêu đốt chúng con. Bạch ngài, chúng con đáng phải chịu điều này, và cả những điều tồi tệ hơn thế nữa.”
788.
788.
788.
‘‘Api yojanāni † gacchāma, chātā āhāragedhino;
Aladdhāva nivattāma, aho no appapuññatā.
“Hungry and greedy for food, we travel for many leagues; but having obtained nothing, we turn back. Alas, how little is our merit!”
“Đói khát và thèm muốn thức ăn, chúng con đi xa hàng do tuần. Không nhận được gì, chúng con lại quay về. Ôi, sự ít ỏi phước đức của chúng con!”
789.
789.
789.
‘‘Chātā pamucchitā bhantā, bhūmiyaṃ paṭisumbhitā;
Uttānā paṭikirāma, avakujjā patāmase.
“Hungry, fainting, and bewildered, we stumble on the ground. We are scattered about lying on our backs; we fall flat on our faces.”
“Đói khát, ngất đi, và hoang mang, chúng con bị quật ngã xuống đất. Chúng con nằm ngửa, vương vãi khắp nơi; có lúc chúng con lại ngã sấp mặt.”
790.
790.
790.
‘‘Te ca tattheva patitā †, bhūmiyaṃ paṭisumbhitā;
Uraṃ sīsañca ghaṭṭema, aho no appapuññatā.
“And having fallen right there, stumbling on the ground, we knock our chests and heads. Alas, how little is our merit!”
“Và chúng con đã ngã xuống ngay tại nơi ấy, bị đập mạnh xuống đất; chúng con đã đập ngực và đầu, than ôi, phước đức của chúng con quá ít ỏi.”
791.
791.
791.
‘‘Etañca bhante arahāma, aññañca pāpakaṃ tato;
Santesu deyyadhammesu, dīpaṃ nākamha attano.
“This, venerable sir, we deserve, and other suffering more evil than that. Though there were things to be given, we made no refuge for ourselves.”
“Bạch ngài, chúng con đáng phải chịu nỗi khổ này, và cả nỗi khổ khác còn tồi tệ hơn thế nữa. Dù có các vật thí thực hiện hữu, chúng con đã không tạo hòn đảo nương tựa cho chính mình.”
792.
792.
792.
‘‘Te hi nūna ito gantvā, yoniṃ laddhāna mānusiṃ;
Vadaññū sīlasampannā, kāhāma kusalaṃ bahu’’nti.
“Surely, if we go from here and obtain a human birth, we will be generous and accomplished in virtue, and we will do much that is wholesome.”
“Chắc chắn rằng, sau khi từ đây ra đi, nếu được tái sanh vào loài người, chúng con sẽ trở thành người rộng lượng, đầy đủ giới hạnh, và sẽ làm nhiều điều thiện lành.”
Gaṇapetavatthu dasamaṃ.
The Story of the Group of Petas: The Tenth.
Chuyện Ngạ Quỷ Theo Nhóm, phẩm thứ mười.