Bản dịch
PV 39 — Chuyện Nữ Ngạ Quỷ Revatī
4. Revatīpetavatthu
BJT 723“Này Revatā, này cô nàng có bản tính vô cùng xấu xa, cô hãy đứng lên. Này cô nàng không có nết hạnh bố thí, cánh cửa (địa ngục) là không bị đóng lại. Chúng tôi sẽ đưa cô đến nơi mà những kẻ bị đọa vào khổ cảnh than khóc, (và) những kẻ địa ngục bị gánh chịu khổ đau.”
BJT 724Sau khi chỉ nói như thế, các sứ giả cõi Dạ-ma, hai Dạ-xoa ấy, có cặp mắt đỏ ngầu, cao to, mỗi người một cánh tay, đã nắm lấy Revatā rồi đi đến nơi có sự hiện diện của hội chúng chư Thiên.
BJT 725“Thiên cung xinh đẹp, được che phủ bằng mạng lưới vàng, có màu sắc của mặt trời, đáng yêu, rực rỡ. Thiên cung này, có người đông đảo, đang rực sáng tựa như hào quang của mặt trời, là của người nào?
BJT 726Các nhóm phụ nữ, được thoa tinh chất của trầm hương, làm cho cung điện được sáng chói cả hai nơi (bên trong và bên ngoài). Thiên cung được nhìn thấy có màu sắc như là mặt trời. Người nào đã đạt đến cõi Trời và vui sướng ở Thiên cung?”
BJT 727“Ở Bārāṇasī, đã có người cận sự nam tên là Nandiya, không bỏn xẻn, là người thí chủ, là người nhân từ. Thiên cung này, có người đông đảo, đang rực sáng tựa như hào quang của mặt trời, là của người ấy.
BJT 728Các nhóm phụ nữ, được thoa tinh chất của trầm hương, làm cho cung điện được rực sáng cả hai nơi (bên trong và bên ngoài). Thiên cung được nhìn thấy có màu sắc như là mặt trời. Người ấy đã đạt đến cõi Trời và vui sướng ở Thiên cung.”
BJT 729“Tôi là người vợ của Nandiya, là nữ gia chủ, có uy quyền đối với tất cả gia đình. Giờ đây, tôi sẽ thích thú ở Thiên cung của chồng, tôi không mong mỏi về việc nhìn thấy địa ngục.”
BJT 730“Này cô nàng có bản tính vô cùng xấu xa, cái địa ngục ấy là dành cho cô. Việc phước thiện đã không được cô làm khi ở thế giới có cuộc sống. Bởi vì người nữ bỏn xẻn, giận dữ, có bản tính xấu xa, không đạt được sự cộng trú với những người đã đi đến cõi Trời.”
BJT 731“Phân và nước tiểu nhơ bẩn được nhìn thấy là cái gì vậy? Cái mùi hôi thối này là cái gì? Cái phân bốc mùi này là cái gì?”
BJT 732“Này Revatā, cái ấy gọi là địa ngục Saṁsavaka có độ sâu một trăm lần chiều cao của người nam, là nơi cô (sẽ) bị nung nấu hàng ngàn năm.”
BJT 733“Vậy việc làm ác nào đã được làm do thân, do khẩu, do ý? Vì việc gì mà bị gánh chịu địa ngục Saṁsavaka có độ sâu một trăm lần chiều cao của người nam?”
BJT 734“Cô lừa gạt các Sa-môn, các Bà-la-môn, và luôn cả những người khốn khổ khác nữa bằng lời nói dối trá; việc xấu xa ấy đã do cô gây ra.
BJT 735Này Revatā, do việc ấy mà bị gánh chịu địa ngục Saṁsavaka có độ sâu một trăm lần chiều cao của người nam, ở nơi ấy cô (sẽ) bị nung nấu hàng ngàn năm.
BJT 736Chúng chặt các bàn tay, rồi luôn cả các bàn chân, chúng xẻo các lỗ tai, rồi luôn cả lỗ mũi, rồi còn có các bầy quạ bu lại, tụ tập lại, ngấu nghiến kẻ đang quằn quại.”
BJT 737“Quả là tốt đẹp, xin các vị hãy đưa tôi trở về, tôi sẽ thực hiện nhiều điều tốt đẹp với việc bố thí, với việc hành thiện, với việc thu thúc, với việc rèn luyện, là việc mà sau khi thực hành, người ta được hạnh phúc và không bị ân hận về sau này.”
BJT 738“Trước đây cô đã xao lãng rồi bây giờ than van. Cô sẽ gánh chịu quả thành tựu của các nghiệp đã làm của mình.”
BJT 739“Vị nào, sau khi từ thế giới chư Thiên đi đến thế giới loài người, được tôi hỏi rồi nói như vầy: ‘Nàng nên dâng cúng vật thí, y phục, chỗ nằm, và cơm nước ở những vị đã buông các gậy gộc xuống, bởi vì người nữ bỏn xẻn, giận dữ, có bản tính xấu xa, không đạt được sự cộng trú với những người đã đi đến cõi Trời?’
BJT 740Chắc chắn rằng tôi đây, khi đã đi khỏi nơi này, sau khi đạt được việc sanh lại làm người, (tôi sẽ) là người nhân từ, đầy đủ giới hạnh, tôi sẽ thực hiện nhiều điều tốt đẹp với việc bố thí, với việc hành thiện, với việc thu thúc, với việc rèn luyện.
BJT 741Với tâm ý tịnh tín, tôi sẽ cho dựng lên các tu viện, các cây cầu ở chỗ khó đi, nước uống dọc đường, và giếng nước.
BJT 742Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, ngày mồng tám của mỗi nửa tháng, và những ngày phụ trội của nửa tháng là có sự thọ trì tốt đẹp về tám giới.
BJT 743Tôi sẽ hành trì ngày trai giới, luôn luôn thu thúc trong các giới, và sẽ không xao lãng trong việc bố thí; điều này đã được đích thân tôi nhìn thấy.”
BJT 744Trong khi cô ấy đang rên rỉ như thế, đang quằn quại thế này thế khác, chúng đã ném cô ấy vào địa ngục ghê rợn, chân phía trên, đầu phía dưới.
BJT 745“Trước đây, tôi đã là người bỏn xẻn, là người mắng nhiếc các vị Sa-môn và Bà-la-môn, và sau khi dối gạt người chồng bằng việc không thật, tôi bị nung nấu ở địa ngục có hình thức ghê rợn.”
Chuyện Nữ Ngạ Quỷ Revatī là thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Revatīpetavatthu
4. The Story of the Petī Revatī
4. Câu chuyện ngạ quỷ Revatī
714.
714.
714.
† ‘‘Uṭṭhehi revate supāpadhamme, apārutadvāre adānasīle;
Nessāma taṃ yattha thunanti duggatā, samappitā † nerayikā dukhenā’’ti.
“Arise, O Revatī, you of extremely evil conduct, with door unbarred, ungenerous in character! We will take you to where the unfortunate groan, the hell-beings afflicted with suffering.”
Này Revatī, kẻ có ác hạnh, kẻ có cửa ngõ (địa ngục) rộng mở, kẻ không có giới hạnh bố thí, hãy đứng dậy! Chúng ta sẽ dẫn ngươi đến nơi mà các chúng sanh đọa xứ, bị đau khổ địa ngục hành hạ, đang rên xiết.
715.
715.
715.
Icceva † vatvāna yamassa dūtā, te dve yakkhā lohitakkhā brahantā;
Paccekabāhāsu gahetvā revataṃ, pakkāmayuṃ devagaṇassa santike.
Having spoken thus, the messengers of Yama, those two huge, red-eyed yakkhas, seized Revatī by each arm and brought her into the presence of the host of devas.
Sau khi nói như vậy, hai sứ giả của Diêm vương, những dạ-xoa to lớn, mắt đỏ, mỗi người nắm một cánh tay của Revatī, rồi dẫn đi đến trước chư Thiên.
716.
716.
716.
‘‘Ādiccavaṇṇaṃ ruciraṃ pabhassaraṃ, byamhaṃ subhaṃ kañcanajālachannaṃ;
Kassetamākiṇṇajanaṃ vimānaṃ, suriyassa raṃsīriva jotamānaṃ.
“Sun-colored, lovely, and radiant, a splendid, beautiful celestial mansion covered with a golden net; whose is this mansion, thronged with celestial beings, shining like the rays of the sun?
Lâu đài này của ai, đông đúc chúng sanh, có màu sắc như mặt trời, đẹp đẽ, rực rỡ, rộng lớn, tốt lành, được bao phủ bởi lưới vàng, chói sáng như tia nắng mặt trời?
717.
717.
717.
‘‘Nārīgaṇā candanasāralittā †, ubhato vimānaṃ upasobhayanti;
Taṃ dissati suriyasamānavaṇṇaṃ, ko modati saggapatto vimāne’’ti.
“Hosts of celestial maidens, anointed with sandalwood essence, adorn the mansion on both sides. It appears with a color like the sun. Who is it that rejoices in this mansion, having reached the celestial realm?”
Các thiên nữ thoa bột chiên-đàn lõi cây, làm đẹp cho lâu đài cả hai phía. Lâu đài ấy trông như sắc màu của mặt trời. Ai là người đã sanh lên cõi trời, đang hoan hỷ trong lâu đài này?
718.
718.
718.
‘‘Bārāṇasiyaṃ nandiyo nāmāsi, upāsako amaccharī dānapati vadaññū;
Tassetamākiṇṇajanaṃ vimānaṃ, suriyassa raṃsīriva jotamānaṃ.
“In Bārāṇasī there was a lay follower named Nandiya, who was not stingy, a master of giving, and generous. This is his mansion, thronged with celestial beings, shining like the rays of the sun.
Tại thành Bārāṇasī, có một cận sự nam tên là Nandiya, không keo kiệt, là thí chủ, là người rộng lượng. Lâu đài này, đông đúc chúng sanh, rực rỡ như ánh mặt trời, là của vị ấy.
719.
719.
719.
‘‘Nārīgaṇā candanasāralittā, ubhato vimānaṃ upasobhayanti;
Taṃ dissati suriyasamānavaṇṇaṃ, so modati saggapatto vimāne’’ti.
“Hosts of celestial maidens, anointed with sandalwood essence, adorn the mansion on both sides. It appears with a color like the sun. He is the one who rejoices in this mansion, having reached the celestial realm.”
Các thiên nữ thoa bột chiên-đàn lõi cây, làm đẹp cho lâu đài cả hai phía. Lâu đài ấy trông như sắc màu của mặt trời. Vị ấy đã sanh lên cõi trời, đang hoan hỷ trong lâu đài.
720.
720.
720.
‘‘Nandiyassāhaṃ bhariyā, agārinī sabbakulassa issarā;
Bhattu vimāne ramissāmi dānahaṃ, na patthaye nirayadassanāyā’’ti.
“I am Nandiya’s wife, the mistress of the house, sovereign over the entire household. Now I will delight in my husband’s mansion; I do not wish for a sight of hell.”
Tôi là vợ của Nandiya, là nữ gia chủ, là người cai quản toàn bộ gia đình. Giờ đây, tôi sẽ vui hưởng trong lâu đài của chồng. Tôi không muốn nhìn thấy địa ngục.
721.
721.
721.
‘‘Eso te nirayo supāpadhamme, puññaṃ tayā akataṃ jīvaloke;
Na hi maccharī rosako pāpadhammo, saggūpagānaṃ labhati sahabyata’’nti.
“This is your hell, O you of extremely evil conduct! No merit was made by you in the world of the living. For one who is stingy, wrathful, and of evil conduct does not gain the companionship of those who go to the celestial realm.”
Này kẻ ác hạnh, đây là địa ngục của ngươi. Ngươi đã không làm phước khi còn ở nhân gian. Kẻ keo kiệt, hay sân hận, có ác hạnh, không thể được làm bạn với những vị sanh lên cõi trời.
722.
722.
722.
‘‘Kiṃ nu gūthañca muttañca, asucī paṭidissati;
Duggandhaṃ kimidaṃ mīḷhaṃ, kimetaṃ upavāyatī’’ti.
“What is this that appears—feces and urine, impure matter? What is this foul-smelling filth? What stench does this give off?”
Cái gì đây? Phân và nước tiểu, những thứ ô uế được nhìn thấy. Cái gì đây hôi thối, đầy phẩn uế? Tại sao nó lại bốc mùi như vậy?
723.
723.
723.
‘‘Esa saṃsavako nāma, gambhīro sataporiso;
Yattha vassasahassāni, tuvaṃ paccasi revate’’ti.
“This is the hell named Saṃsavaka, deep and a hundred persons in depth. There, for thousands of years, you will be cooked, O Revatī.”
Này Revatī, đây là địa ngục Saṃsavaka, sâu một trăm tầm người. Nơi đây, ngươi sẽ bị nấu trong hàng ngàn năm.
724.
724.
724.
‘‘Kiṃ nu kāyena vācāya, manasā dukkaṭaṃ kataṃ;
Kena saṃsavako laddho, gambhīro sataporiso’’ti.
“What wrong deed was done by me with body, with speech, or with mind? By what was the Saṃsavaka hell gained, so deep and a hundred persons in depth?”
Tôi đã làm điều ác gì bằng thân, khẩu, ý? Do nghiệp gì mà tôi phải chịu địa ngục Saṃsavaka, sâu một trăm tầm người?
725.
725.
725.
‘‘Samaṇe brāhmaṇe cāpi, aññe vāpi vanibbake;
Musāvādena vañcesi, taṃ pāpaṃ pakataṃ tayā.
“You deceived ascetics and brahmins, and other mendicants as well, with false speech. That evil deed was committed by you.
Ngươi đã lừa dối các Sa-môn, Bà-la-môn, và những người hành khất khác bằng lời nói dối. Tội ác đó đã được ngươi thực hiện.
726.
726.
726.
‘‘Tena saṃsavako laddho, gambhīro sataporiso;
Tattha vassasahassāni, tuvaṃ paccasi revate.
“By that, the Saṃsavaka hell was gained by you, deep and a hundred persons in depth. There, for thousands of years, you will be cooked, O Revatī.
Này Revatī, do nghiệp đó mà ngươi phải chịu địa ngục Saṃsavaka, sâu một trăm tầm người. Nơi đó, ngươi sẽ bị nấu trong hàng ngàn năm.
727.
727.
727.
‘‘Hatthepi chindanti athopi pāde, kaṇṇepi chindanti athopi nāsaṃ;
Athopi kākoḷagaṇā samecca, saṅgamma khādanti viphandamāna’’nti.
“They will cut off your hands and also your feet; they will cut off your ears and also your nose. Then flocks of crows, having assembled, will gather and devour you as you writhe.”
Chúng sẽ chặt tay ngươi, rồi chặt chân ngươi, chúng sẽ cắt tai ngươi, rồi cắt mũi ngươi. Rồi đàn quạ sẽ tụ tập lại, cùng nhau ăn thịt ngươi đang quằn quại.
728.
728.
728.
‘‘Sādhu kho maṃ paṭinetha, kāhāmi kusalaṃ bahuṃ;
Dānena samacariyāya, saṃyamena damena ca;
Yaṃ katvā sukhitā honti, na ca pacchānutappare’’ti.
“Good sirs, I implore you, lead me back! I will perform much that is wholesome through giving, righteous conduct, restraint, and self-control—that which, having been done, makes beings happy and brings no later remorse.”
Xin hãy đưa tôi trở lại, tôi sẽ làm nhiều điều thiện, bằng sự bố thí, sự hành trì đúng đắn, sự tự chế và sự điều phục. Làm những điều đó, chúng sanh được an lạc và không hối hận về sau.
729.
729.
729.
‘‘Pure tuvaṃ pamajjitvā, idāni paridevasi;
Sayaṃ katānaṃ kammānaṃ, vipākaṃ anubhossasī’’ti.
“Formerly you were negligent, and now you lament. You yourself will experience the result of the deeds that you have done.”
Trước kia ngươi đã phóng dật, nay lại than khóc. Ngươi sẽ phải gánh chịu quả báo của những nghiệp do chính mình đã tạo.
730.
730.
730.
‘‘Ko devalokato manussalokaṃ, gantvāna puṭṭho me evaṃ vadeyya;
‘Nikkhittadaṇḍesu dadātha dānaṃ, acchādanaṃ seyya † mathannapānaṃ;
Na hi maccharī rosako pāpadhammo, saggūpagānaṃ labhati sahabyataṃ’.
“Who, going from the deva world to the human world, would, if asked by me, speak thus: ‘Give gifts to those who have laid aside the rod—clothing, lodging, and also food and drink. For one who is stingy, wrathful, and of evil conduct does not gain the companionship of those who go to the celestial realm.’
Ai từ cõi trời đến cõi người, khi được tôi hỏi, sẽ nói với tôi rằng: 'Hãy cúng dường đến những vị đã từ bỏ hình phạt, hãy cúng dường y phục, chỗ ở, và đồ ăn thức uống. Kẻ keo kiệt, hay sân hận, có ác hạnh, không thể được làm bạn với những vị sanh lên cõi trời'.
731.
731.
731.
‘‘Sāhaṃ nūna ito gantvā, yoniṃ laddhāna mānusiṃ;
Vadaññū sīlasampannā, kāhāmi kusalaṃ bahuṃ;
Dānena samacariyāya, saṃyamena damena ca.
“Surely, having gone from here and obtained a human birth, becoming generous and accomplished in virtue, I will perform much that is wholesome through giving, righteous conduct, restraint, and self-control.
Chắc chắn sau khi thoát khỏi nơi đây, được tái sanh làm người, tôi sẽ trở thành người rộng lượng, đầy đủ giới hạnh, và sẽ làm nhiều điều thiện, bằng sự bố thí, sự hành trì đúng đắn, sự tự chế và sự điều phục.
732.
732.
732.
‘‘Ārāmāni ca ropissaṃ, dugge saṅkamanāni ca;
Papañca udapānañca, vippasannena cetasā.
“I will plant parks and build bridges in difficult places; I will establish water-pavilions and wells with a serene mind.
Tôi sẽ trồng các khu vườn, xây dựng cầu cống ở những nơi khó đi, và với tâm trong sạch, tôi sẽ làm các nơi cung cấp nước uống và giếng nước.
733.
733.
733.
‘‘Cātuddasiṃ pañcadasiṃ, yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Pāṭihāriyapakkhañca, aṭṭhaṅgasusamāgataṃ.
“On the fourteenth, the fifteenth, and on the eighth day of the fortnight, and also during the special observance period, well-endowed with the eight precepts,
Vào ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mùng tám của mỗi nửa tháng, và vào những ngày đặc biệt của kỳ trai giới, (tôi sẽ thọ trì Bát quan trai giới) gồm tám chi phần.
734.
734.
734.
‘‘Uposathaṃ upavasissaṃ, sadā sīlesu saṃvutā;
Na ca dāne pamajjissaṃ, sāmaṃ diṭṭhamidaṃ mayā’’ti.
“I will observe the Uposatha, always being restrained in virtue. And I will not be negligent in giving, for this I have seen for myself.”
Tôi sẽ thọ trì ngày trai giới, luôn luôn thu thúc trong các giới hạnh, và sẽ không phóng dật trong việc bố thí. Điều này đã được chính tôi nhìn thấy.
735.
735.
735.
Iccevaṃ vippalapantiṃ, phandamānaṃ tato tato;
Khipiṃsu niraye ghore, uddhaṃpādaṃ avaṃsiraṃ.
As she was wailing thus and writhing about, they flung her into the frightful hell, feet upwards and head down.
Khi nàng đang than khóc và run rẩy như vậy, họ đã ném nàng vào địa ngục khủng khiếp, chân chổng lên trời, đầu chúc xuống đất.
736.
736.
736.
‘‘Ahaṃ pure maccharinī ahosiṃ, paribhāsikā samaṇabrāhmaṇānaṃ;
Vitathena ca sāmikaṃ vañcayitvā, paccāmahaṃ niraye ghorarūpe’’ti.
“Formerly I was a stingy woman, a reviler of ascetics and brahmins. Having deceived my husband with a falsehood, I am being cooked in a frightful hell.”
Trước kia, tôi đã keo kiệt, đã mắng nhiếc các Sa-môn và Bà-la-môn. Và vì đã lừa dối chồng bằng lời không thật, tôi bị nấu trong địa ngục khủng khiếp.
Revatīpetavatthu catutthaṃ.
The fourth story: the Story of the Petī Revatī.
Câu chuyện ngạ quỷ Revatī, phần thứ tư.