Bản dịch
PV 38 — Chuyện Ngạ Quỷ Nandaka
3. Nandakapetavatthu
BJT 667Đức vua tên Piṅgalaka đã là vị chúa tể của xứ Suraṭṭha. Sau khi đi đến trợ giúp cho những người Moriya, đức vua đã trở về lại Suraṭṭha.
BJT 668Vào lúc giữa trưa nóng nực, đức vua đã đi đến đầm lầy và đã nhìn thấy con đường đáng yêu, lối đi bằng cát của các ngạ quỷ.
BJT 669Đức vua đã nói với người đánh xe rằng: “Con đường này xinh đẹp, an toàn, may mắn, tốt lành. Này xa phu, người hãy đi bằng lối này từ đây cho đến khu vực phụ cận của xứ Suraṭṭha.”
BJT 670Đức vua xứ Suraṭṭha cùng với đạo binh gồm bốn binh chủng đã xuất phát theo lối đi ấy. Có (một) người nam với dáng vẻ kinh hoàng đã nói với đức vua xứ Suraṭṭha điều này:
BJT 671“Chúng tôi đã đi vào con đường sai trái, ghê rợn, khiến nổi da gà, con đường được nhìn thấy ở phía trước và không được nhìn thấy ở phía sau.
BJT 672Chúng tôi đã đi vào con đường sai trái, ở gần khu vực của các nam nhân cõi Dạ-ma, có mùi phi nhân tỏa ra, có âm thanh ghê rợn được nghe.”
BJT 673Đức vua xứ Suraṭṭha, bị rúng động, đã nói với người đánh xe rằng: “Chúng ta đã đi vào con đường sai trái, ghê rợn, khiến nổi da gà; con đường được nhìn thấy ở phía trước và không được nhìn thấy ở phía sau.
BJT 674Chúng ta đã đi vào con đường sai trái, ở gần nơi của các nam nhân cõi Dạ-ma, có mùi phi nhân tỏa ra, có âm thanh ghê rợn được nghe.”
BJT 675Rồi đức vua đã cỡi lên lưng voi, quan sát bốn phương, và đã nhìn thấy cây đa đáng yêu, có bóng râm, giống như màu sắc của đám mây đen, tương đương với vẻ oai vệ về màu sắc của đám mây mưa.
BJT 676Đức vua đã nói với người đánh xe rằng: “Vật to lớn kia trông giống như màu sắc của đám mây đen, tương đương với vẻ oai vệ về màu sắc của đám mây mưa là vật gì vậy?”
BJT 677“Tâu đại vương, vật ấy là cây đa, có bóng râm, giống như màu sắc của đám mây đen, tương đương với vẻ oai vệ về màu sắc của đám mây mưa.”
BJT 678Vua xứ Suraṭṭha đã tiến theo lối đi ấy về phía vật to lớn ấy, được nhìn thấy giống như màu sắc của đám mây đen, tương đương với vẻ oai vệ về màu sắc của đám mây mưa.
BJT 679Sau khi leo xuống từ lưng voi, đức vua đã đi đến gần thân cây, rồi đã ngồi xuống ở gốc cây với viên quan cận thần và đoàn tùy tùng.
BJT 680Đức vua đã nhìn thấy bình nước đầy và các loại bánh ngọt đa dạng. Và có (một) người nam với dáng vẻ Thiên nhân, được điểm tô với tất cả đồ trang sức, đã đi đến gần đức vua xứ Suraṭṭha và đã nói điều này:
BJT 681“Tâu đại vương, việc đi đến của quý vị là tốt đẹp, hơn nữa đối với quý vị không phải là việc đi đến sai trái. Tâu vị thuần phục kẻ thù, xin bệ hạ hãy uống nước, hãy ăn các bánh ngọt.”
BJT 682Đức vua cùng viên quan cận thần và nhóm tùy tùng đã uống nước, và đã ăn các bánh ngọt. Uống xong, đức vua xứ Suraṭṭha đã nói điều này:
BJT 683“Phải chăng ngươi là Thiên nhân, là nhạc sĩ Thiên đình, hay là (Chúa Trời) Sakka, người đã bố thí trước đây? Trong khi không biết, chúng tôi hỏi ngươi, làm thế nào chúng tôi có thể nhận biết ngươi?”
BJT 684“Tôi không là Thiên nhân, không là nhạc sĩ Thiên đình, cũng không là (Chúa Trời) Sakka, người đã bố thí trước đây; tâu đại vương, tôi là ngạ quỷ đã từ xứ Suraṭṭha đi đến đây.”
BJT 685“Trước đây ở Suraṭṭha ngươi đã có giới hạnh gì, có sự thực hành gì? Do hạnh kiểm cao đẹp nào của ngươi mà ngươi có năng lực này?”
BJT 686“Tâu đại vương, tâu vị thuần phục kẻ thù, tâu vị làm quốc độ phát triển, xin bệ hạ hãy lắng nghe điều ấy; các viên quan cận thần, đoàn tùy tùng, và vị Bà-la-môn viên quan tế tự (cũng thế).
BJT 687Tâu bệ hạ, từ xứ Suraṭṭha, tôi đã là người đàn ông có tâm ý ác xấu, có tà kiến và có giới tồi, keo kiệt, là kẻ mắng nhiếc (các Sa-môn và Bà-la-môn).
BJT 688Tôi đã ngăn cản nhiều người trong khi họ đang bố thí. Tôi đã là người gây chướng ngại cho những người khác trong khi họ đang ban phát, (bằng cách nói rằng):
BJT 689‘Không có quả thành tựu của việc bố thí, từ đâu có quả báo của việc thu thúc (giới)? Không có người gọi là thầy dạy học, ai sẽ huấn luyện cho kẻ không được huấn luyện?
BJT 690Các chúng sanh đều bằng nhau bình đẳng, do đâu lại có việc tôn kính người trưởng thượng? Không có sức mạnh hay sự tinh tấn, do đâu lại có người với sự vươn lên?
BJT 691Không có cái gọi là quả báo của sự bố thí, không thể xóa sạch sự thù hằn, loài người nhận lãnh điều sẽ phải nhận lãnh, được sanh lên do sự xoay vần của số phận.
BJT 692Không có mẹ, cha, anh em trai, không có thế giới nào khác với thế giới này, không có việc đã được bố thí, không có việc đã được hiến dâng, thậm chí việc đã khéo được quy định không được biết đến.
BJT 693Thậm chí ai đó có thể giết chết người, có thể chặt đầu người khác, thì cũng chẳng có người nào giết chết người nào cả, (con dao đâm vào) khe hở ở khoảng giữa của bảy nhóm (các yếu tố cấu thành cơ thể).
BJT 694Mạng sống không thể bị cắt đứt, không thể bị đập vỡ, là hình bát giác, là quả cầu tròn, (cao) năm trăm do-tuần, kẻ nào có khả năng cắt đứt mạng sống?
BJT 695Giống như cuộn chỉ được ném ra, trong khi tháo rời, nó lăn đi, cũng tương tự y như thế, mạng sống ấy trong khi tháo rời, nó lăn đi.
BJT 696Giống như người sau khi rời khỏi ngôi làng thì đi vào ngôi làng khác, cũng tương tự y như thế, mạng sống ấy đi vào thân thể khác.
BJT 697Giống như người sau khi rời khỏi ngôi nhà thì đi vào ngôi nhà khác, cũng tương tự y như thế, mạng sống ấy đi vào thân thể khác.
BJT 698Bởi vì những kẻ ngu và các người trí sau khi bị ném vào luân hồi cho đến tám mươi bốn trăm ngàn (8.400.000) đại kiếp thì sẽ thực hiện việc chấm dứt khổ đau.
BJT 699Các khổ và lạc được đo lường bằng các đấu và các giỏ; đấng Chiến Thắng biết rõ tất cả, còn những người khác hoàn toàn mê muội.
BJT 700Trước đây, tôi đã có tà kiến như vậy, hoàn toàn mê muội, bị bao trùm bởi si mê, có tà kiến và có giới tồi, keo kiệt, là kẻ mắng nhiếc (các Sa-môn và Bà-la-môn).
BJT 701Trong vòng sáu tháng nữa, tôi sẽ chết. Tôi sẽ rơi vào địa ngục vô cùng khổ sở, ghê rợn.
BJT 702Địa ngục có bốn góc, có bốn cửa, được phân chia thành các phần cân xứng, được bao quanh bằng tường sắt, được đậy lại bằng tấm sắt.
BJT 703Mặt nền của nó làm bằng sắt, cháy rực, có sức nóng, tỏa rộng ra xung quanh một trăm do-tuần, và luôn luôn tồn tại.
BJT 704Cứ đến mỗi một trăm ngàn năm thì được nghe tiếng vang. Tâu đại vương, đó là một lakkha; một trăm lần (lakkha) là số năm tính theo koṭi.
BJT 705Những kẻ có tà kiến và có giới tồi, và những kẻ chỉ trích bậc Thánh nhân bị nung nấu ở địa ngục một trăm ngàn koṭi năm.
BJT 706Tại nơi ấy, tôi đã cảm giác cảm thọ khổ, quả báo của nghiệp ác một thời gian dài lâu; vì việc ấy tôi sầu muộn vô cùng.
BJT 707Tâu đại vương, tâu vị thuần phục kẻ thù, tâu vị làm quốc độ phát triển, xin bệ hạ hãy lắng nghe điều ấy. Tâu đại vương, con gái của tôi là Uttarā. Cầu mong bệ hạ được điều tốt lành.
BJT 708Cô ấy tạo nghiệp tốt lành, thích thú các giới và ngày trai giới, có sự tự kiềm chế và có sự san sẻ, có sự ân cần, đã xa lìa sự bỏn xẻn.
BJT 709Cô ấy là người có sự thực hành không bể vỡ về điều học, và nhu mì ở các gia đình những người khác, là cận sự nữ của vị Hiền Trí dòng Sakya, bậc Toàn Giác, đấng Vinh Quang.
BJT 710Có vị tỳ khưu đầy đủ giới đức đã đi vào làng để khất thực, mắt nhìn xuống, có niệm, có giác quan được canh phòng, khéo được thu thúc.
BJT 711Trong khi đi tuần tự theo từng nhà, vị ấy đã đi đến chỗ trú ngụ ấy. Tâu đại vương, Uttarā đã nhìn thấy vị ấy. Cầu mong bệ hạ được điều tốt lành.
BJT 712Và cô ấy đã dâng cúng bình nước đầy và các loại bánh ngọt đa dạng (nói rằng): ‘Thưa ngài, cha tôi đã qua đời, mong rằng việc này thành tựu đến ông ấy.’
BJT 713Khi được chỉ định thì quả thành tựu đã được sanh lên ngay lập tức, tôi thọ hưởng, là người có dục lạc theo như ước muốn, giống như Thiên Vương Vessavaṇa.
BJT 714Tâu đại vương, tâu vị thuần phục kẻ thù, tâu vị làm quốc độ phát triển, xin bệ hạ hãy lắng nghe điều ấy. Đức Phật được gọi là bậc cao cả của thế gian luôn cả chư Thiên. Tâu vị thuần phục kẻ thù, bệ hạ cùng vợ và các con hãy đi đến nương nhờ đức Phật ấy.
BJT 715Nhờ vào Đạo Lộ tám chi phần, các ngài chạm đến vị thế Bất Tử. Tâu vị thuần phục kẻ thù, bệ hạ cùng vợ và các con hãy đi đến nương nhờ Giáo Pháp ấy.
BJT 716Bốn hạng đã thực hành Đạo Lộ và bốn hạng đã trụ ở Quả vị, Hội Chúng ấy có bản thể chính trực, có Giới—Định—Tuệ. Tâu vị thuần phục kẻ thù, bệ hạ cùng vợ và các con hãy đi đến nương nhờ Hội Chúng ấy.
BJT 717Bệ hạ hãy lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, hãy xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, chớ có việc uống chất say và nói lời dối trá, và hãy vui thích (chỉ) với người vợ của mình.”
BJT 718“Này vị Dạ-xoa, ngươi là người mong mỏi sự tốt đẹp cho trẫm. Này vị Thiên nhân, ngươi là người mong mỏi sự lợi ích cho trẫm. Trẫm thực hành lời nói của ngươi; ngươi là thầy dạy học của trẫm.
BJT 719Trẫm đi đến nương nhờ đức Phật, luôn cả Giáo Pháp vô thượng, và trẫm đi đến nương nhờ Hội Chúng thuộc về vị Trời của nhân loại.
BJT 720Trẫm lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, trẫm xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, không có việc uống chất say, và trẫm không nói lời dối trá, và trẫm vui thích (chỉ) với người vợ của mình.”
BJT 721Trẫm (sẽ) sàng lọc ở trong cơn gió mạnh, hoặc ở dòng sông chảy xiết, rồi loại bỏ tà kiến ác xấu; trẫm (sẽ) vui thích trong lời dạy của chư Phật.”
BJT 722Sau khi nói điều này, sau khi loại bỏ quan điểm ác xấu, sau khi thực hiện việc kính lễ đến đức Thế Tôn, vị vua xứ Suraṭṭha đã bước lên xe, mặt nhìn hướng đông.
Chuyện Ngạ Quỷ Nandaka là thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Nandakapetavatthu
3. The Story of the Peta Nandaka
3. Câu chuyện ngạ quỷ Nandaka
658.
658.
658.
Rājā piṅgalako nāma, suraṭṭhānaṃ adhipati ahu;
Moriyānaṃ upaṭṭhānaṃ gantvā, suraṭṭhaṃ punarāgamā.
There was a king named Piṅgalaka, the ruler of the Suraṭṭhas. Having gone to attend upon the Mauryas, he returned again to Suraṭṭha.
Vị vua tên là Piṅgalaka, là chúa của xứ Suraṭṭha; sau khi đi hầu hạ các vua Moriya, đã trở lại xứ Suraṭṭha.
659.
659.
659.
Uṇhe majjhanhike † kāle, rājā paṅkaṃ † upāgami;
Addasa maggaṃ ramaṇīyaṃ, petānaṃ taṃ vaṇṇupathaṃ †.
At the hot time of midday, the king came upon a sandy track. He saw that delightful path, created by the petas.
Vào lúc giữa trưa nóng bức, đức vua đã đi đến con đường lầy lội; ngài đã nhìn thấy con đường khả ái, con đường cát ấy của các ngạ quỷ.
660.
660.
660.
Sārathiṃ āmantayī rājā –
‘‘Ayaṃ maggo ramaṇīyo, khemo sovatthiko sivo;
Iminā sārathi yāma, suraṭṭhānaṃ santike ito’’.
The king addressed his charioteer: “This road is delightful, safe, auspicious, and secure. Let us go by this way, charioteer; from here it is near to the Suraṭṭhas.”
Đức vua gọi người đánh xe: ‘Con đường này khả ái, an ổn, an toàn, và an lành. Này người đánh xe, chúng ta hãy đi bằng con đường này, từ đây đến gần xứ Suraṭṭha.’
661.
661.
661.
Tena pāyāsi soraṭṭho, senāya caturaṅginiyā;
Ubbiggarūpo puriso, soraṭṭhaṃ etadabravi.
The king of Soraṭṭha set out by that way with his four-limbed army. A man with an agitated appearance said this to the king of Soraṭṭha:
Vua xứ Soraṭṭha đã đi bằng con đường ấy, với bốn binh chủng; một người có vẻ hoảng sợ, đã nói điều này với vua xứ Soraṭṭha.
662.
662.
662.
‘‘Kummaggaṃ paṭipannamhā, bhiṃsanaṃ lomahaṃsanaṃ;
Purato dissati maggo, pacchato ca na dissati.
“We have taken a wrong path, a frightful and hair-raising one. A path is seen ahead, but no path is seen behind.
‘Chúng ta đã đi vào con đường sai lầm, đáng sợ, dựng tóc gáy; con đường phía trước thì thấy, còn phía sau thì không thấy.’
663.
663.
663.
‘‘Kummaggaṃ paṭipannamhā, yamapurisāna santike;
Amānuso vāyati gandho, ghoso suyyati † dāruṇo’’.
“We have taken a wrong path into the presence of Yama’s men. A non-human odor wafts and a terrible sound is heard.”
‘Chúng ta đã đi vào con đường sai lầm, ở gần các ngạ quỷ; mùi của phi nhân tỏa ra, âm thanh khủng khiếp được nghe thấy.’
664.
664.
664.
Saṃviggo rājā soraṭṭho, sārathiṃ etadabravi;
‘‘Kummaggaṃ paṭipannamhā, bhiṃsanaṃ lomahaṃsanaṃ;
Purato dissati maggo, pacchato ca na dissati.
The agitated king of Soraṭṭha said this to his charioteer: “We have taken a wrong path, a frightful and hair-raising one. A path is seen ahead, but no path is seen behind.
Vua xứ Soraṭṭha, lòng đầy kinh sợ, đã nói điều này với người đánh xe: ‘Chúng ta đã đi vào con đường sai lầm, đáng sợ, dựng tóc gáy; con đường phía trước thì thấy, còn phía sau thì không thấy.’
665.
665.
665.
‘‘Kummaggaṃ paṭipannamhā, yamapurisāna santike;
Amānuso vāyati gandho, ghoso suyyati dāruṇo’’.
“We have taken a wrong path into the presence of Yama’s men. A non-human odor wafts and a terrible sound is heard.”
‘Chúng ta đã đi vào con đường sai lầm, ở gần các ngạ quỷ; mùi của phi nhân tỏa ra, âm thanh khủng khiếp được nghe thấy.’
666.
666.
666.
Hatthikkhandhaṃ samāruyha, olokento catuddisaṃ †;
Addasa nigrodhaṃ ramaṇīyaṃ †, pādapaṃ chāyāsampannaṃ;
Nīlabbhavaṇṇasadisaṃ, meghavaṇṇasirīnibhaṃ.
Having mounted the elephant’s back and looking in the four directions, he saw a delightful banyan tree, a tree abundant in shade, like the color of a dark blue cloud, resembling the splendor of a rain cloud.
Sau khi leo lên lưng voi, nhìn khắp bốn phương; ngài đã thấy cây đa khả ái, một loại cây có bóng mát đầy đủ; giống như màu sắc của mây xanh, có vẻ đẹp như hình đám mây.
667.
667.
667.
Sārathiṃ āmantayī rājā, ‘‘kiṃ eso dissati brahā;
Nīlabbhavaṇṇasadiso, meghavaṇṇasirīnibho’’.
The king addressed his charioteer: “What is that large thing seen over there, like the color of a dark blue cloud, resembling the splendor of a rain cloud?”
Đức vua gọi người đánh xe: ‘Cây to lớn đang được thấy kia là cây gì; giống như màu sắc của mây xanh, có vẻ đẹp như hình đám mây?’
668.
668.
668.
‘‘Nigrodho so mahārāja, pādapo chāyāsampanno;
Nīlabbhavaṇṇasadiso, meghavaṇṇasirīnibho’’.
“That is a banyan tree, great king, a tree abundant in shade, like the color of a dark blue cloud, resembling the splendor of a rain cloud.”
‘Đó là cây đa, tâu đại vương, một loại cây có bóng mát đầy đủ; giống như màu sắc của mây xanh, có vẻ đẹp như hình đám mây.’
669.
669.
669.
Tena pāyāsi soraṭṭho, yena so dissate brahā;
Nīlabbhavaṇṇasadiso, meghavaṇṇasirīnibho.
The king of Soraṭṭha set out toward where that large thing was visible, like the color of a dark blue cloud, resembling the splendor of a rain cloud.
Vua xứ Soraṭṭha đã đi đến nơi ấy, nơi cây to lớn ấy được thấy; giống như màu sắc của mây xanh, có vẻ đẹp như hình đám mây.
670.
670.
670.
Hatthikkhandhato oruyha, rājā rukkhaṃ upāgami;
Nisīdi rukkhamūlasmiṃ, sāmacco saparijjano;
Pūraṃ pānīyasarakaṃ, pūve vitte ca addasa.
Descending from the elephant’s back, the king approached the tree. He sat down at the foot of the tree with his ministers and retinue. He saw a full vessel of water and delightful cakes.
Sau khi xuống khỏi lưng voi, đức vua đã đi đến gần cây; ngài đã ngồi dưới gốc cây, cùng với các vị quan và đoàn tùy tùng; ngài đã thấy cốc nước đầy, và các loại bánh ngon.
671.
671.
671.
Puriso ca devavaṇṇī, sabbābharaṇabhūsito;
Upasaṅkamitvā rājānaṃ, soraṭṭhaṃ etadabravi.
And a man of divine appearance, adorned with all ornaments, approached the king of Soraṭṭha and said this:
Và một người đàn ông có dung sắc như chư thiên, được trang sức bằng mọi trang sức; sau khi đến gần đức vua, vua xứ Soraṭṭha, đã nói điều này.
672.
672.
672.
‘‘Svāgataṃ te mahārāja, atho te adurāgataṃ;
Pivatu devo pānīyaṃ, pūve khāda arindama’’.
“Welcome to you, great king! Your coming is not unwelcome. Let your majesty drink the water; eat the cakes, O tamer of foes.”
‘Lành thay sự đến của ngài, tâu đại vương, và sự đến của ngài không phải là không tốt lành; xin đức vua hãy uống nước, xin hãy ăn bánh, hỡi bậc chế ngự kẻ thù.’
673.
673.
673.
Pivitvā rājā pānīyaṃ, sāmacco saparijjano;
Pūve khāditvā pitvā ca, soraṭṭho etadabravi.
Having drunk the water and eaten the cakes, the king of Soraṭṭha, with his ministers and retinue, said this:
Sau khi đức vua đã uống nước, cùng với các vị quan và đoàn tùy tùng; sau khi đã ăn bánh và đã uống, vua xứ Soraṭṭha đã nói điều này.
674.
674.
674.
‘‘Devatā nusi gandhabbo, adu sakko purindado;
Ajānantā taṃ pucchāma, kathaṃ jānemu taṃ maya’’nti.
“Are you a deity or a gandhabba, or are you Sakka, who gave gifts in the past? Not knowing, we ask you. How may we know you?”
‘Phải chăng ngài là một vị trời, một càn-thát-bà, hay là vua trời Đế-thích, người ban thí trước kia? Vì không biết, chúng tôi hỏi ngài; làm thế nào chúng tôi có thể biết được ngài?’
675.
675.
675.
‘‘Nāmhi devo na gandhabbo, nāpi † sakko purindado;
Peto ahaṃ mahārāja, suraṭṭhā idha māgato’’ti.
“I am not a deva, nor a gandhabba, nor am I Sakka, who gave gifts in the past. I am a peta, great king, who has come here from Suraṭṭha.”
‘Tôi không phải là một vị trời, không phải là càn-thát-bà, cũng không phải là vua trời Đế-thích, người ban thí trước kia; tôi là một ngạ quỷ, tâu đại vương, từ xứ Suraṭṭha đã đến đây.’
676.
676.
676.
‘‘Kiṃsīlo kiṃsamācāro, suraṭṭhasmiṃ pure tuvaṃ;
Kena te brahmacariyena, ānubhāvo ayaṃ tavā’’ti.
“What was your virtue, what was your conduct, when you were formerly in Suraṭṭha? By what noble practice of yours is this your present power?”
‘Ngài đã có giới hạnh gì, hạnh kiểm gì, khi xưa ở xứ Suraṭṭha? Do phạm hạnh nào của ngài, mà ngài có được oai lực này?’
677.
677.
677.
‘‘Taṃ suṇohi mahārāja, arindama raṭṭhavaḍḍhana;
Amaccā pārisajjā ca, brāhmaṇo ca purohito.
“Listen to that, great king, tamer of foes, increaser of the kingdom! Let the ministers and assembly members also listen, and the brahmin chaplain.
‘Xin ngài hãy nghe điều ấy, tâu đại vương, hỡi bậc chế ngự kẻ thù, bậc làm cho quốc độ phồn vinh; các vị quan và hội chúng, và vị bà-la-môn quốc sư (cũng hãy lắng nghe).’
678.
678.
678.
‘‘Suraṭṭhasmiṃ ahaṃ deva, puriso pāpacetaso;
Micchādiṭṭhi ca dussīlo, kadariyo paribhāsako.
“In Suraṭṭha, your majesty, I was a man of evil mind, one of wrong view and immoral, stingy and abusive.
‘Ở xứ Suraṭṭha, tâu đức vua, tôi là một người có tâm niệm xấu xa; có tà kiến và không có giới hạnh, keo kiệt, hay mắng nhiếc.’
679.
679.
679.
‘‘‘Dadantānaṃ karontānaṃ, vārayissaṃ bahujjanaṃ;
Aññesaṃ dadamānānaṃ, antarāyakaro ahaṃ.
“I would prevent many people from giving and making merit. I was an obstacle-maker for others who were giving.
‘Tôi đã ngăn cản nhiều người đang bố thí, đang làm (phước); tôi là người gây trở ngại cho những người khác đang bố thí.’
680.
680.
680.
‘‘‘Vipāko natthi dānassa, saṃyamassa kuto phalaṃ;
Natthi ācariyo nāma, adantaṃ ko damessati.
“‘There is no result of giving; from where is there fruit from restraint? There is no such thing as a teacher; who can tame the untamed?
‘Quả của bố thí không có, quả của sự tự chế làm sao có được? Thầy dạy không có, ai sẽ điều phục người không được điều phục?’
681.
681.
681.
‘‘‘Samatulyāni bhūtāni, kuto † jeṭṭhāpacāyiko;
Natthi balaṃ vīriyaṃ vā, kuto uṭṭhānaporisaṃ.
“‘All beings are equal to one another; from where is there reverence for elders? There is no strength or energy; from where is there the striving of a man?
‘Các chúng sanh đều bình đẳng như nhau, làm sao có việc kính trọng người lớn tuổi? Không có sức mạnh hay nỗ lực, làm sao có được quả của sự nỗ lực của con người?’
682.
682.
682.
‘‘‘Natthi dānaphalaṃ nāma, na visodheti verinaṃ;
Laddheyyaṃ labhate macco, niyatipariṇāmajaṃ †.
“‘There is no such thing as the fruit of giving; it does not purify an evil-doer. A mortal obtains what is to be obtained, which arises from a fixed destiny.
‘Quả của bố thí không có, không làm trong sạch người có ác nghiệp; chúng sanh nhận được điều đáng nhận, do sự biến đổi cố định (của định mệnh).’
683.
683.
683.
‘‘‘Natthi mātā pitā bhātā, loko natthi ito paraṃ;
Natthi dinnaṃ natthi hutaṃ, sunihitaṃ na vijjati.
“‘There is no mother, no father, no brother; there is no world beyond this one. There is no fruit of what is given, no fruit of what is sacrificed; and no well-stored merit exists.
‘Không có mẹ, cha, anh em, không có thế giới nào khác ngoài thế giới này; không có (quả của) bố thí, không có (quả của) cúng dường, không có (phước báu) được cất giữ tốt đẹp.’
684.
684.
684.
‘‘‘Yopi haneyya purisaṃ, parassa chindate † siraṃ;
Na koci kañci hanati, sattannaṃ vivaramantare.
“‘Even if one were to kill a person, or cut off another’s head, no one kills anyone; a weapon merely passes through the space between the seven elements.
“‘Dù ai có giết người, có chặt đầu kẻ khác; Không ai giết một ai, (vũ khí) đi vào khoảng trống giữa bảy thân.’
685.
685.
685.
‘‘‘Acchejjābhejjo hi † jīvo, aṭṭhaṃso guḷaparimaṇḍalo;
Yojanānaṃ sataṃ pañca, ko jīvaṃ chettumarahati.
“‘For the life-principle is uncuttable and unbreakable, eight-cornered and a solid sphere. It is five hundred yojanas high; who is able to cut the life-principle?
“‘Sinh mạng (jīva) không thể bị cắt, không thể bị phá vỡ, có tám cạnh, hình tròn như quả cầu; cao năm trăm do-tuần, ai có thể cắt được sinh mạng?’
686.
686.
686.
‘‘‘Yathā suttaguḷe khitte, nibbeṭhentaṃ palāyati;
Evameva ca so jīvo, nibbeṭhento palāyati.
“‘Just as when a ball of thread is thrown, it runs on unwinding, even so the life-principle runs on unwinding.
“‘Giống như khi cuộn chỉ được ném đi, nó bung ra và chạy đi; Cũng vậy, sinh mạng ấy bung ra và chạy đi.’
687.
687.
687.
‘‘‘Yathā gāmato nikkhamma, aññaṃ gāmaṃ pavisati;
Evameva ca so jīvo, aññaṃ bondiṃ pavisati.
“‘Just as one, having left a village, enters another village, even so the life-principle enters another body.
“‘Giống như ra khỏi làng, đi vào một làng khác; Cũng vậy, sinh mạng ấy đi vào một thân khác.’
688.
688.
688.
‘‘‘Yathā gehato nikkhamma, aññaṃ gehaṃ pavisati;
Evameva ca so jīvo, aññaṃ bondiṃ pavisati.
“‘Just as one, having left a house, enters another house, even so the life-principle enters another body.
“‘Giống như ra khỏi nhà, đi vào một nhà khác; Cũng vậy, sinh mạng ấy đi vào một thân khác.’
689.
689.
689.
‘‘‘Cullāsīti † mahākappino †, satasahassāni hi;
Ye bālā ye ca paṇḍitā, saṃsāraṃ khepayitvāna;
Dukkhassantaṃ karissare.
“‘For eighty-four hundred thousand great eons, both the fools and the wise, having exhausted saṃsāra, will make an end to suffering.
“‘Tám triệu bốn trăm ngàn đại kiếp; Dù kẻ ngu hay người trí, sau khi làm cạn kiệt vòng luân hồi; Sẽ chấm dứt khổ đau.’
690.
690.
690.
‘‘‘Mitāni sukhadukkhāni, doṇehi piṭakehi ca;
Jino sabbaṃ pajānāti’, sammūḷhā itarā pajā.
“‘Pleasures and pains are measured out as if by doṇas and baskets. The Jina knows all this, while other people are deluded.’
“‘Hạnh phúc và đau khổ được đo lường, bằng đấu và bằng giỏ; Bậc Trí giả biết tất cả’, những chúng sanh khác thì si mê.’
691.
691.
691.
‘‘Evaṃdiṭṭhi pure āsiṃ, sammūḷho mohapāruto;
Micchādiṭṭhi ca dussīlo, kadariyo paribhāsako.
“Formerly I held such views, being deluded and cloaked in ignorance; I was one of wrong view and immoral, stingy and abusive.
“Trước đây con đã có tà kiến như vậy, bị si mê che lấp, vô cùng mê muội; Có tà kiến và vô giới, keo kiệt và hay mắng nhiếc.”
692.
692.
692.
‘‘Oraṃ me chahi māsehi, kālaṅkiriyā bhavissati;
Ekantakaṭukaṃ ghoraṃ, nirayaṃ papatissahaṃ.
“In less than six months from now my death will occur, and I will fall into a terrible hell of exclusive pain.
“Trong vòng sáu tháng nữa, con sẽ phải chết; Con sẽ rơi vào địa ngục, hoàn toàn cay đắng và khủng khiếp.”
693.
693.
693.
† ‘‘Catukkaṇṇaṃ catudvāraṃ, vibhattaṃ bhāgaso mitaṃ;
Ayopākārapariyantaṃ, ayasā paṭikujjitaṃ.
“It is four-cornered with four gates, divided into parts and measured, surrounded by an iron wall, with an iron roof.
“Có bốn góc, bốn cửa, được phân chia thành các phần bằng nhau; Được bao quanh bởi tường sắt, được che đậy bằng sắt.”
694.
694.
694.
† ‘‘Tassa ayomayā bhūmi, jalitā tejasā yutā;
Samantā yojanasataṃ, pharitvā tiṭṭhati sabbadā.
“Its floor is made of iron, blazing and fiery. It stands always, pervading a hundred yojanas all around.
“Mặt đất của nó làm bằng sắt, bốc cháy, đầy lửa; Lan rộng một trăm do-tuần khắp xung quanh, tồn tại luôn luôn.”
695.
695.
695.
‘‘Vassāni satasahassāni, ghoso suyyati tāvade;
Lakkho eso mahārāja, satabhāgavassakoṭiyo.
“After a hundred thousand years, a sound is heard then. This, great king, is the measure: a hundred thousand crores of years.
“Sau một trăm ngàn năm, một tiếng nói được nghe thấy vào lúc đó; Tâu Đại vương, đó là một trăm ngàn (lakh), là một trăm koti phần của năm.”
696.
696.
696.
‘‘Koṭisatasahassāni, niraye paccare janā;
Micchādiṭṭhī ca dussīlā, ye ca ariyūpavādino.
“Those people who are of wrong view, immoral, and who revile the noble ones are tormented in hell for a hundred thousand crores of years.
“Một trăm ngàn koti năm, chúng sanh bị nấu trong địa ngục; Những người có tà kiến và vô giới, và những người phỉ báng bậc Thánh.”
697.
697.
697.
‘‘Tatthāhaṃ dīghamaddhānaṃ, dukkhaṃ vedissa vedanaṃ;
Phalaṃ pāpassa kammassa, tasmā socāmahaṃ bhusaṃ.
“There, for a long time, I will experience painful feeling, the fruit of evil kamma; therefore, I grieve exceedingly.
“Ở đó, trong một thời gian dài, con sẽ cảm thọ cảm giác đau khổ; Là quả của ác nghiệp, vì vậy con vô cùng sầu muộn.”
698.
698.
698.
‘‘Taṃ suṇohi mahārāja, arindama raṭṭhavaḍḍhana;
Dhītā mayhaṃ mahārāja, uttarā bhaddamatthu te.
“Listen to that, great king, subduer of foes, increaser of the realm. My daughter, great king, is Uttarā. May good fortune be yours!
“Xin Đại vương hãy nghe điều đó, hỡi bậc Chế ngự kẻ thù, bậc làm cho quốc độ phồn vinh; Tâu Đại vương, con gái của con tên là Uttarā, mong điều tốt lành đến với ngài.”
699.
699.
699.
‘‘Karoti bhaddakaṃ kammaṃ, sīlesuposathe ratā;
Saññatā saṃvibhāgī ca, vadaññū vītamaccharā.
“She performs wholesome kamma, delights in virtue and the Uposatha; she is restrained, generous, bountiful, and free from avarice.
“Nàng làm nghiệp lành, hoan hỷ trong giới và ngày Bố-tát; Có sự chế ngự và hay chia sẻ, biết lời người xin, không có keo kiệt.”
700.
700.
700.
‘‘Akhaṇḍakārī sikkhāya, suṇhā parakulesu ca;
Upāsikā sakyamunino, sambuddhassa sirīmato.
“Unbroken in the training, a good daughter-in-law in others' families, she is a lay follower of the Sakyan Sage, the glorious Perfectly Enlightened One.
“Nàng không làm sứt mẻ học giới, là con dâu trong gia đình người khác; Là nữ cận sự của bậc Thích Ca Mâu Ni, bậc Chánh Đẳng Giác, bậc có uy đức.”
701.
701.
701.
‘‘Bhikkhu ca sīlasampanno, gāmaṃ piṇḍāya pāvisi;
Okkhittacakkhu satimā, guttadvāro susaṃvuto.
“A bhikkhu, accomplished in virtue, entered the village for almsfood, with eyes downcast, mindful, with sense doors guarded, well restrained.
“Và một vị Tỳ-khưu giới hạnh viên mãn, đã vào làng để khất thực; Mắt nhìn xuống, có chánh niệm, hộ trì các căn, thu thúc tốt đẹp.”
702.
702.
702.
‘‘Sapadānaṃ caramāno, agamā taṃ nivesanaṃ;
‘Tamaddasa mahārāja, uttarā bhaddamatthu te’.
“Going from house to house on his almsround, he came to that dwelling. Great king, Uttarā saw him—may good fortune be yours!
“Đi khất thực theo thứ tự từng nhà, vị ấy đã đến nhà đó; ‘Tâu Đại vương, Uttarā đã thấy vị ấy, mong điều tốt lành đến với ngài’.”
703.
703.
703.
‘‘Pūraṃ pānīyasarakaṃ, pūve vitte ca sā adā;
‘Pitā me kālaṅkato, bhante tassetaṃ upakappatu’.
“She gave a full bowl of beverage and pleasing cakes, saying: ‘Venerable sir, my father has passed away. May this accrue to him!’
“Nàng đã cúng dường một ly nước đầy, và những chiếc bánh ngon; (Và nói:) ‘Bạch ngài, cha con đã qua đời, mong rằng vật này sẽ đến được với cha con’.”
704.
704.
704.
‘‘Samanantarānuddiṭṭhe, vipāko udapajjatha;
Bhuñjāmi kāmakāmīhaṃ, rājā vessavaṇo yathā.
“Immediately upon the dedication, the result arose. I enjoy all that I desire, just like King Vessavaṇa.
“Ngay sau khi hồi hướng, quả đã phát sinh; Con, người mong muốn các dục, đang hưởng thụ, giống như vua Vessavaṇa.”
705.
705.
705.
‘‘Taṃ suṇohi mahārāja, arindama raṭṭhavaḍḍhana;
Sadevakassa lokassa, buddho aggo pavuccati;
Taṃ buddhaṃ saraṇaṃ gaccha, saputtadāro arindama.
“Listen to that, great king, subduer of foes, increaser of the realm! In the world with its devas, the Buddha is called the foremost. Go for refuge to that Buddha, O subduer of foes, together with your sons and wife.
“Xin Đại vương hãy nghe điều đó, hỡi bậc Chế ngự kẻ thù, bậc làm cho quốc độ phồn vinh; Trong thế giới cùng với chư thiên, Đức Phật được gọi là tối thượng; Hỡi bậc Chế ngự kẻ thù, xin ngài cùng với vợ con hãy quy y Đức Phật ấy.”
706.
706.
706.
‘‘Aṭṭhaṅgikena maggena, phusanti amataṃ padaṃ;
Taṃ dhammaṃ saraṇaṃ gaccha, saputtadāro arindama.
“By the Eightfold Path they attain the deathless state. Go for refuge to that Dhamma, O subduer of foes, together with your sons and wife.
“Bằng Bát Chánh Đạo, họ chứng đạt trạng thái bất tử; Hỡi bậc Chế ngự kẻ thù, xin ngài cùng với vợ con hãy quy y Pháp ấy.”
707.
707.
707.
‘‘Cattāro ca paṭipannā †, cattāro ca phale ṭhitā;
Esa saṅgho ujubhūto, paññāsīlasamāhito;
Taṃ saṅghaṃ saraṇaṃ gaccha, saputtadāro arindama.
“Four are practicing the way and four are established in the fruit: this is the Sangha of upright conduct, concentrated in wisdom and virtue. Go for refuge to that Sangha, O subduer of foes, together with your sons and wife.
“Bốn vị đang thực hành, và bốn vị đã trú trong quả; Tăng đoàn này là những bậc chánh trực, an trú trong trí tuệ, giới, và định; Hỡi bậc Chế ngự kẻ thù, xin ngài cùng với vợ con hãy quy y Tăng đoàn ấy.”
708.
708.
708.
‘‘Pāṇātipātā viramassu khippaṃ, loke adinnaṃ parivajjayassu;
Amajjapo mā ca musā abhāṇī, sakena dārena ca hohi tuṭṭho’’ti.
“Quickly refrain from destroying living beings; avoid taking what is not given in the world; do not drink intoxicants, and do not speak falsely; and be content with your own wife.”
“Hãy nhanh chóng từ bỏ sát sanh, hãy tránh lấy của không cho trong đời; Không uống rượu, và đừng nói dối, và hãy biết đủ với vợ của mình.”
709.
709.
709.
‘‘Atthakāmosi me yakkha, hitakāmosi devate;
Karomi tuyhaṃ vacanaṃ, tvaṃsi ācariyo mama.
“You are my well-wisher, yakkha, my benefactor, O deity. I will do what you say; you are my teacher.”
“Hỡi Dạ-xoa, ngài mong muốn lợi ích cho tôi, hỡi chư thiên, ngài mong muốn hạnh phúc cho tôi; Tôi sẽ làm theo lời ngài, ngài là thầy của tôi.”
710.
710.
710.
‘‘Upemi saraṇaṃ buddhaṃ, dhammañcāpi anuttaraṃ;
Saṅghañca naradevassa, gacchāmi saraṇaṃ ahaṃ.
I go for refuge to the Buddha, and to the unsurpassed Dhamma; and to the Sangha of the god among men, I go for refuge.
“Tôi xin quy y Phật, và Pháp vô thượng; Và Tăng đoàn của bậc Thiên Nhân Sư, tôi xin nương tựa.”
711.
711.
711.
‘‘Pāṇātipātā viramāmi khippaṃ, loke adinnaṃ parivajjayāmi;
Amajjapo no ca musā bhaṇāmi, sakena dārena ca homi tuṭṭho.
Quickly I refrain from destroying living beings; I avoid taking what is not given in the world; I am one who does not drink intoxicants and I do not speak falsely; and I am content with my own wife.
“Tôi nhanh chóng từ bỏ sát sanh, tôi tránh lấy của không cho trong đời; Không uống rượu, và không nói dối, và tôi biết đủ với vợ của mình.”
712.
712.
712.
‘‘Ophuṇāmi † mahāvāte, nadiyā sīghagāmiyā;
Vamāmi pāpikaṃ diṭṭhiṃ, buddhānaṃ sāsane rato’’.
I cast this evil view away in a great wind and in a swiftly flowing river; I vomit it out, delighting in the teaching of the Buddhas.
“Tôi thổi bay trong cơn gió lớn, trong dòng sông chảy xiết; Tôi nôn ra tà kiến, hoan hỷ trong giáo pháp của chư Phật.”
713.
713.
713.
Idaṃ vatvāna soraṭṭho, viramitvā pāpadassanā †;
Namo bhagavato katvā, pāmokkho rathamāruhīti.
Having said this, the king of Soraṭṭha, desisting from his evil view, paid homage to the Blessed One and, facing forward, mounted his chariot.
Vua Soraṭṭha sau khi nói điều này, đã từ bỏ tà kiến; Đảnh lễ Đức Thế Tôn, hướng về phía trước, đã lên xe.
Nandakapetavatthu tatiyaṃ.
The third: the Story of the Peta Nandaka.
Chuyện ngạ quỷ Nandaka, phần thứ ba.