Bản dịch
PV 40 — Chuyện Ngạ Quỷ Mía
5. Ucchupetavatthu
BJT 746“Rừng mía rộng lớn này sanh lên cho tôi là quả phước không phải ít, mà giờ đây nó không đem lại (cho tôi) việc thọ hưởng. Thưa ngài, xin ngài hãy nói cho đây là quả thành tựu của việc gì?
BJT 747Tôi bị đánh đập và bị nhai nghiến. (Khi) tôi ra sức, cố gắng thọ dụng cái gì đó, thì tôi đây có sức lực bị đứt đoạn, thê thảm, nên than vãn; đây là quả thành tựu của việc gì?
BJT 748Và bị đánh đập, tôi ngã quỵ ở mặt đất. Tôi lăn quay trong sự nóng bức tựa như loài cá (ở đất khô nóng bỏng). Và trong khi khóc lóc, nước mắt của tôi nhỏ xuống. Thưa ngài, xin ngài hãy nói cho đây là quả thành tựu của việc gì?
BJT 749Bị đói, bị nhọc mệt, và bị khát, bị hoảng sợ, tôi không tìm thấy thoải mái, an lạc. Thưa ngài đại đức, tôi hỏi ngài về việc này, làm thế nào tôi có thể đạt được việc thọ dụng mía?”
BJT 750“Trước đây, ngươi đã đích thân tạo nghiệp khi là con người trong kiếp sống trước đây. Và ta nói cho ngươi về việc này. Sau khi lắng nghe, ngươi hãy nhận biết về việc này.
BJT 751Ngươi đã bước đi trong lúc nhai mía. Và người đàn ông đã đi theo sau lưng ngươi. Trong lúc mong mỏi, người ấy đã nói với ngươi, ngươi đã không nói điều gì với người ấy.
BJT 752Và trong lúc ngươi không nói, người ấy đã cầu xin và đã nói với ngươi rằng: ‘Này ông, xin ông cho mía.’ Ngươi đã cho người ấy cây mía ở sau lưng của ngươi; đây là quả thành tựu của nghiệp ấy.
BJT 753‘Này, ông hãy cầm lấy cây mía ở sau lưng, sau khi cầm lấy ông hãy ăn tùy theo ý thích. Do chính điều ấy, ông sẽ hoan hỷ, vui mừng, phấn khởi, và hứng thú.’
BJT 754Người ấy đã đi đến cầm lấy (cây mía) ở sau lưng, sau khi cầm lấy đã nhai nó tùy theo ý thích. Do chính điều ấy, ông ấy đã trở nên hoan hỷ, vui mừng, phấn khởi, và hứng thú.”
Chuyện Ngạ Quỷ Mía là thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Ucchupetavatthu
5. The Story of the Sugarcane Peta
5. Câu chuyện ngạ quỷ cây mía
737.
737.
737.
‘‘Idaṃ mama ucchuvanaṃ mahantaṃ, nibbattati puññaphalaṃ anappakaṃ;
Taṃ dāni me na † paribhogameti, ācikkha bhante kissa ayaṃ vipāko.
“This great sugarcane plantation is mine; it is the abundant fruit of my merit. Yet now it is not for my enjoyment. Tell me, venerable sir, of what kamma is this the result?
Bạch ngài, rừng mía rộng lớn này của con là quả phước không nhỏ đã sanh khởi. Nhưng giờ đây, con không thể hưởng dụng nó. Bạch ngài, xin hãy cho biết, đây là quả báo của nghiệp gì?
738.
738.
738.
‘‘Haññāmi † khajjāmi ca vāyamāmi, parisakkāmi paribhuñjituṃ kiñci;
Svāhaṃ chinnathāmo kapaṇo lālapāmi, kissa † kammassa ayaṃ vipāko.
“I strive and rush about to enjoy anything at all, yet I am struck and cut. Deprived of strength, wretched, I wail. Of what kamma is this the result?
Con cố gắng, con nỗ lực để hưởng dụng một chút, nhưng con bị (lá mía) đánh đập, bị cắt xẻo. Con kiệt sức, khốn khổ, than khóc. Đây là quả báo của nghiệp gì?
739.
739.
739.
‘‘Vighāto cāhaṃ paripatāmi chamāyaṃ, parivattāmi vāricarova ghamme;
Rudato ca me † assukā niggalanti, ācikkha bhante kissa ayaṃ vipāko.
“Distressed, I fall upon the ground; I writhe like a fish out of water in the heat. As I weep, my tears stream down. Tell me, venerable sir, of what kamma is this the result?
Con kiệt sức, ngã xuống đất, quằn quại như con cá trên cạn trong nắng nóng. Nước mắt con tuôn rơi khi con khóc. Bạch ngài, xin hãy cho biết, đây là quả báo của nghiệp gì?
740.
740.
740.
‘‘Chāto kilanto ca pipāsito ca, santassito sātasukhaṃ na vinde;
Pucchāmi taṃ etamatthaṃ bhadante, kathaṃ nu ucchuparibhogaṃ labheyya’’nti.
“Hungry, weary, and thirsty, and terrified, I find no pleasant happiness. I ask you this matter, venerable sir: how might I obtain the enjoyment of sugarcane?”
Bạch ngài, con vừa đói, vừa mệt, vừa khát nước, con vô cùng khát nên không tìm thấy được sự an lạc hạnh phúc. Bạch ngài, con xin hỏi ngài về vấn đề này: làm thế nào con có thể được dùng mía?
741.
741.
741.
‘‘Pure tuvaṃ kammamakāsi attanā, manussabhūto purimāya jātiyā;
Ahañca taṃ etamatthaṃ vadāmi, sutvāna tvaṃ etamatthaṃ vijāna.
“Formerly, you yourself performed a deed when you were a human being in a previous birth. I will tell you this matter; having heard it, understand it.
Trong kiếp trước, khi là người, chính ngươi đã tự mình tạo nghiệp. Ta sẽ nói cho ngươi nghe về vấn đề này, sau khi nghe xong, ngươi hãy biết rõ vấn đề đó.
742.
742.
742.
‘‘Ucchuṃ tuvaṃ khādamāno payāto, puriso ca te piṭṭhito anvagacchi;
So ca taṃ paccāsanto kathesi, tassa tuvaṃ na kiñci ālapittha.
“While eating sugarcane, you were walking along, and a man followed behind you. Hoping for some, he spoke to you, but you said nothing at all to him.”
Ngươi vừa đi vừa ăn mía, và có một người đàn ông đi theo sau lưng ngươi. Người đàn ông đó mong muốn (mía) nên đã nói với ngươi, nhưng ngươi đã không nói bất cứ lời nào với ông ta.
743.
743.
743.
‘‘So ca taṃ abhaṇantaṃ ayāci, ‘dehayya ucchu’nti ca taṃ avoca;
Tassa tuvaṃ piṭṭhito ucchuṃ adāsi, tassetaṃ kammassa ayaṃ vipāko.
“He begged from you as you remained silent, and he said to you, ‘Please give me sugarcane!’ You gave him a sugarcane from behind your back. This is the result of that deed.”
Người đàn ông đó đã van xin ngươi, người đang im lặng, và cũng đã nói với ngươi rằng: ‘Xin hãy cho tôi mía.’ Ngươi đã đưa cho ông ta một cây mía từ phía sau lưng. Đây chính là quả báo của nghiệp đó.
744.
744.
744.
‘‘Iṅgha tvaṃ gantvāna piṭṭhito gaṇheyyāsi †, gahetvāna taṃ khādassu yāvadatthaṃ;
Teneva tvaṃ attamano bhavissasi, haṭṭho cudaggo ca pamodito cā’’ti.
“Come now, go and take a sugarcane from behind. Having taken it, eat as much as you wish. By that you will be pleased in mind, joyful, elated, and delighted.”
Này, ngươi hãy đi và lấy cây mía từ phía sau lưng. Sau khi lấy, hãy ăn tùy thích. Chỉ bằng cách đó, ngươi sẽ trở nên hài lòng, vui vẻ, hân hoan và hoan hỷ.
745.
745.
745.
Gantvāna so piṭṭhito aggahesi, gahetvāna taṃ khādi yāvadatthaṃ;
Teneva so attamano ahosi, haṭṭho cudaggo ca pamodito cāti.
He went and took it from behind; having taken it, he ate as much as he wished. By that he became pleased in mind, joyful, elated, and delighted.
Ngạ quỷ đó đã đi và lấy cây mía từ phía sau lưng. Sau khi lấy, nó đã ăn tùy thích. Chỉ bằng cách đó, ngạ quỷ đó đã trở nên hài lòng, vui vẻ, hân hoan và hoan hỷ.
Ucchupetavatthu pañcamaṃ.
The Story of the Sugarcane Peta, the fifth.
Câu chuyện ngạ quỷ (ăn) mía, thứ năm.