Bản dịch
PV 37 — Chuyện Ngạ Quỷ Serissaka
2. Serīsakapetavatthu
BJT 613Chúng ta hãy lắng nghe về sự gặp gỡ của vị Dạ-xoa và các người thương buôn đã xảy ra vào lúc ấy. Câu chuyện đã khéo được trao đổi bởi người này với người kia như thế nào, xin tất cả hãy lắng nghe câu chuyện ấy.
BJT 614Vị vua ấy tên là Pāyāsi, có danh tiếng, đã đi đến cộng trú với chư Thiên địa cầu. Ngay trong lúc đang vui thích ở Thiên cung của mình, vị phi nhân ấy đã nói với loài người rằng:
BJT 615“Ở khu rừng hiểm trở, nơi không có loài người, ở sa mạc, thiếu nước, thiếu thức ăn, nơi vô cùng khó đi, ở giữa đầm cát, nhiều người bị mất trí vì nỗi sợ hãi sự hiểm trở.
BJT 616Ở nơi đây, không có các trái cây, và các loại cây có rễ, không có củi lửa, lấy đâu ở đây có thức ăn, ngoại trừ nhiều bụi bặm, lắm cát, các sự thiêu đốt, các sự nóng bức, và các sự khắc nghiệt?
BJT 617Vùng sa mạc tựa như cái chảo đã được đốt nóng, không có lợi ích, tương đương với thế giới khác (địa ngục); chỗ trú ngụ này là của những kẻ hung dữ trước đây, là vùng đất bị nguyền rủa.
BJT 618Còn các người, vì nguyên nhân gì, trong khi đang mong mỏi điều gì, lại vội vã tập hợp rồi đi vào chính khu vực này, do lòng tham, do sự sợ hãi, hay là đã bị lầm lẫn?”
BJT 619“Các chủ đoàn xe ở xứ sở Magadha và Aṅga sau khi cho chất lên hàng hoá với số lượng dồi dào, những người ấy đi đến vùng đất Sindhu và Sovīra với mục đích về tài sản, với mong mỏi về lợi nhuận.
BJT 620Vào ban ngày, do không chịu đựng được cơn khát và mãi quan tâm đến sự thương xót đối với các con vật kéo xe, tất cả chúng tôi di chuyển với tốc độ này và đến được con đường vào ban đêm, không đúng thời điểm.
BJT 621Đã khởi hành chậm trễ, đã bị lạc đường, bị rối loạn như người mù, đã bị lạc lối trong khu rừng, ở chỗ vô cùng khó đi, ở giữa biển cát, chúng tôi đây không nhận ra phương hướng, có tâm bị hoang mang.
BJT 622Và thưa vị Dạ-xoa, sau khi nhìn thấy việc này, việc chưa được thấy trước đây, là Thiên cung hạng nhất và ngài, trong khi đang mong mỏi về mạng sống sau này, đến lúc nhìn thấy (ngài), chúng tôi trở nên mừng rỡ, có tâm ý vui vẻ, phấn khởi.”
BJT 623“Vì nguyên nhân của cải, quý vị đi đến những phương trời khác biệt, đến bờ bên kia của biển cả và đầm cát này, đến con đường có sự di chuyển với gậy chống và lối đi có cắm cọc, đến những con sông, thêm nữa là những con đường hiểm trở ở các ngọn núi.
BJT 624Này quý vị, sau khi tiến vào lãnh thổ của những người khác, trong khi ngắm nhìn những con người thuộc nhiều quốc độ, điều nào đã được quý vị nghe, hoặc nhìn thấy, hãy cho chúng tôi nghe điều kỳ diệu ấy từ quý vị.”
BJT 625“Thưa Thiên tử, điều kỳ diệu hơn thế này chúng tôi không được nghe hoặc được nhìn thấy, tất cả đều vượt trội (thế giới) loài người, sau khi nhìn thấy chúng tôi được thỏa mãn về vẻ đẹp tuyệt vời.
BJT 626Ở không trung có những hồ sen với vô số bông hoa, với nhiều sen trắng, và những cây cối này được trổ quả thường xuyên, có những hương thơm tỏa ra cực kỳ thơm ngát.
BJT 627Có những cây cột bằng ngọc bích vươn cao một trăm (ratana), có bề mặt trải dài làm bằng đá và san hô, có các viên ngọc mắt mèo và các viên hồng ngọc, còn những trụ cột này làm bằng ngọc như ý.
BJT 628Có ngàn cây cột có năng lực không sánh bằng, phía trên chúng là Thiên cung tốt đẹp này, ở bên trong có châu báu, được kết hợp với hành lang bằng vàng, và được che phủ một cách khéo léo với những tấm lợp bằng vàng.
BJT 629(Thiên cung) này chói sáng với vàng từ sông Jambu đã được tinh luyện. (Khu vực ấy) khéo được đánh bóng, được hiện hữu với các tòa lâu đài, các cầu thang, các sân thượng, vững chãi, dễ thương, có dáng xinh xắn, khéo được phối hợp, vô cùng cuốn hút sự nhìn ngắm, làm hài lòng.
BJT 630Ở bên trong (Thiên cung) châu ngọc, có nhiều thức ăn thức uống, được vây quanh bởi đoàn tiên nữ, được vang vang tiếng trống con, trống lớn, và các nhạc cụ, ngài được tôn vinh với sự ngợi ca và lễ bái.
BJT 631Ở tòa lâu đài nơi Thiên cung cao quý, làm thích ý, với sự đánh thức bởi các nhóm phụ nữ, ngài đây, không thể nghĩ bàn, có đủ mọi đức tính, vui sướng giống như đức vua Vessavaṇa ở Nalinī.
BJT 632Ngài là Thiên nhân, hay ngài là Dạ-xoa, là Chúa của chư Thiên, hay là bản thể nhân loại? Những người thương buôn, các chủ đoàn xe hỏi ngài. Xin ngài hãy nói tên (của ngài) là gì, có phải ngài là Dạ-xoa?”
BJT 633“Tôi chính là Dạ-xoa tên Serissaka, sống ở sa mạc, là người canh giữ đầm cát. Tôi hộ trì khu vực này, là người thực thi mệnh lệnh của đức Vua Vessavaṇa.”
BJT 634“(Công việc này) được nhận lãnh bởi ngài một cách ngẫu nhiên, được nảy sanh do sự phát triển, tự mình tạo ra, hay được chư Thiên giao cho? Những người thương buôn, các chủ đoàn xe hỏi ngài: Bằng cách nào mà ngài đã đạt được công việc hài lòng này?”
BJT 635“(Công việc này) không được nhận lãnh bởi tôi một cách ngẫu nhiên, không được nảy sanh do sự phát triển, không tự mình tạo ra, cũng không được chư Thiên giao cho. Công việc hài lòng này tôi đã đạt được nhờ vào những nghiệp không xấu xa, nhờ vào những phước thiện của chính mình.”
BJT 636“(Trước đây) phận sự của ngài là gì? Còn có hạnh kiểm cao đẹp gì? Quả thành tựu này là của việc gì đã khéo được thực hành? Những người thương buôn, các chủ đoàn xe hỏi ngài: Bằng cách nào mà ngài đã đạt được Thiên cung này?”
BJT 637“Vào lúc tôi cai quản vương quốc Kosala, Pāyāsi đã là danh hiệu của tôi. Lúc ấy tôi đã là người có quan điểm hư vô, keo kiệt, có bản tính xấu xa, và là người tuyên bố về đoạn kiến.
BJT 638Và rồi đã có vị Sa-môn Kumārakassapa, đa văn, có sự thuyết giảng sinh động, cao thượng. Khi ấy, vị ấy đã thực hiện việc thuyết giảng Giáo Pháp cho tôi, đã xua đuổi những sự méo mó về quan điểm cho tôi.
BJT 639Tôi đây, sau khi lắng nghe sự thuyết giảng Giáo Pháp của vị ấy, đã tuyên bố bản thân là người cư sĩ. Tôi đã kiêng chừa việc giết hại mạng sống, tôi đã xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, không có việc uống chất say, và tôi đã không nói lời dối trá, tôi đã được vui thích (chỉ) với người vợ của mình.
BJT 640Việc ấy là phận sự của tôi, việc ấy còn là hạnh kiểm cao đẹp. Quả thành tựu này là của việc đã khéo được thực hành ấy. Nhờ vào những nghiệp không xấu xa, nhờ vào những phước thiện ấy đấy, mà tôi đã đạt được Thiên cung này.”
BJT 641“Nghe rằng những người có trí tuệ đã nói sự thật; lời nói của các bậc hiền trí là không sai khác. Người có nghiệp phước thiện đi đến bất cứ nơi nào đều vui sướng ở tại nơi ấy, là người có dục lạc theo như ước muốn.
BJT 642Bất cứ nơi nào có sự sầu muộn và than vãn, có sự giết chóc và sự giam cầm, có sự chướng ngại, kẻ có ác pháp đi đến nơi ấy, không khi nào được thoát khỏi cảnh giới khổ đau.”
BJT 643“Tập thể (chư Thiên) tựa như có vẻ bị bối rối, tựa như đã bị làm vẩn đục vào giây phút này. Thưa Thiên tử, vậy thì do điều gì mà tập thể này và ngài đã có sự thất vọng?”
BJT 644“Thưa quý vị, từ khu rừng sirīsa kế cận những hương thơm này thuộc cõi Trời tỏa ra thơm ngát; sau khi đã tiêu diệt bóng tối vào ban ngày và ban đêm chúng tự tỏa đến Thiên cung này.
BJT 645Và khi đã trải qua một trăm năm, chỉ một quả của những cây này được kết trái. Kể từ khi tôi được sanh ra ở tập thể (chư Thiên) tại nơi này thì một trăm năm nhân loại đã trôi qua.
BJT 646Thưa quý vị, tôi đã nhìn thấy tôi sẽ tồn tại ở Thiên cung này năm trăm năm, do sự cạn kiệt của tuổi thọ, do sự cạn kiệt của phước báu, tôi sẽ chết; chính vì nỗi sầu muộn ấy tôi bị hoảng loạn.”
BJT 647“Bằng cách nào mà vị ấy, thuộc thành phần như thế, sau khi đạt được Thiên cung không thể sánh bằng một cách lâu dài, lại có thể sầu muộn? Chỉ có những người nào đã được sanh lên một cách ngắn ngủi, phải chăng những người ấy, với phước báu ít ỏi, mới có thể sầu muộn?”
BJT 648“Việc quý vị nói lời nói yêu mến với tôi (nghĩa là) điều khuyên bảo của tôi thích hợp đối với quý vị. Thưa quý vị, quý vị đã được tôi hộ trì theo như ước muốn, vì thế quý vị hãy lên đường một cách an toàn.”
BJT 649“Sau khi đi đến vùng đất Sindhu và Sovīra, chúng tôi với mục đích về tài sản, với mong mỏi về lợi nhuận, có sự hào phóng đầy đủ theo như kế hoạch, sẽ làm lễ hội cao sang cho Serissa.”
BJT 650“Quý vị chớ có làm lễ hội cho Serissa, và tất cả sẽ trở thành hiện thực cho quý vị theo điều quý vị nói. Quý vị hãy tránh xa hẳn các nghiệp ác xấu, và hãy phát nguyện gắn bó với Giáo Pháp.
BJT 651Ở tập thể này, có người cận sự nam đa văn, được đầy đủ giới hạnh và phận sự, có đức tin, có sự hào phóng, và vô cùng tốt lành, có sự suy xét, tự hài lòng, có sự thận trọng.
BJT 652Là người không cố tình nói lời dối trá, không suy nghĩ đến việc hãm hại người khác, không gây ra sự chia rẽ, đâm thọc, và nói lời mềm mỏng, tử tế.
BJT 653Có sự tôn kính, có sự phục tùng, đã được huấn luyện, không độc ác, thanh tịnh về giới bậc thượng, có hạnh kiểm thánh thiện, con người ấy nuôi dưỡng mẹ và luôn cả cha đúng theo Pháp.
BJT 654Tôi nghĩ rằng vị ấy tầm cầu của cải vì lý do (phụng dưỡng) mẹ cha, không vì nguyên nhân của bản thân. Với sự qua đời của mẹ và cha, người ấy, với khuynh hướng xuất ly, sẽ thực hành Phạm hạnh.
BJT 655Là người ngay thẳng, không khúc mắc, không gian trá, không xảo quyệt, và không phát biểu theo lối viện cớ. Vị ấy, như thế ấy, là người tạo nên hành động đã được thực hiện một cách tốt đẹp, đứng vững trong Giáo Pháp, sao lại nhận lãnh sự khổ đau?
BJT 656Bởi lý do người ấy, tôi tự thân hiện ra; vì thế, quý vị thương buôn hãy nhận thức Giáo Pháp. Ở đây, không có người ấy, quý vị có thể trở thành tro bụi, bị rối loạn như người mù, bị lạc lối trong khu rừng; (bởi vì) đối với kẻ đang xử tệ người ấy, như thế ấy hay việc khác nữa là điều dễ dàng. Quả vậy, việc kết giao với người tốt lành là hạnh phúc.”
BJT 657“Người ấy tên là gì, làm nghề nghiệp gì, tên gọi là gì, hơn nữa họ của người ấy là gì? Thưa vị Dạ-xoa, chúng tôi cũng có mong muốn được gặp người ấy, vì lòng thương tưởng người ấy mà ngài đã đi đến nơi đây, bởi vì người nào mà ngài yêu quý thì lợi ích là thuộc về người ấy.”
BJT 658“Người nào là thợ cạo, có tên gọi là Sambhava, là người cận sự nam, có sự nuôi mạng bằng lược và dao cạo, quý vị biết người ấy, người ấy là người sai vặt của quý vị. Đúng vậy, chớ khinh chê người ấy, người ấy vô cùng tốt lành.”
BHĀṆAVĀRAṂ TATIYAṂ.
BJT 659Thưa vị Dạ-xoa, chúng tôi biết người mà ngài nói, nhưng chúng tôi quả không biết người ấy là người như thế ấy. Thưa vị Dạ-xoa, chúng tôi cũng sẽ tôn vinh người ấy sau khi lắng nghe lời nói cao cả của ngài.”
BJT 660“Bất cứ người nào ở đoàn xe này, thanh niên, lão niên, luôn cả trung niên, hết thảy tất cả những người ấy hãy bước lên Thiên cung, những kẻ keo kiệt hãy nhìn xem quả báo của các việc phước thiện.”
BJT 661“Tại đó, sau khi đã đưa người thợ cạo ấy lên phía trước tại nơi ấy, hết thảy tất cả những người ấy (đã nói rằng): ‘Tôi trước,’ hết thảy tất cả những người ấy đã bước lên Thiên cung tựa như (Thiên cung) Masakkasāra của vị Vāsava (Chúa Trời Sakka).
BJT 662Tại đó, hết thảy tất cả những người ấy (đã nói rằng): ‘Tôi trước’ và đã tuyên bố bản thân là người cư sĩ. Họ đã kiêng chừa việc giết hại mạng sống, họ đã xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời.
BJT 663Không có việc uống chất say, và họ đã không nói lời dối trá, họ đã được vui thích (chỉ) với người vợ của mình. Tại đó, hết thảy tất cả những người ấy (đã nói rằng): ‘Tôi trước’ và đã tuyên bố bản thân là người cư sĩ. Trong khi đang tùy hỷ với thần thông của vị Dạ-xoa đợt này đến đợt khác, đoàn xe, được cho phép, đã khởi hành.
BJT 664Sau khi đi đến vùng đất Sindhu và Sovīra, những người ấy với mục đích về tài sản, với mong mỏi về lợi nhuận, có sự đạt được đầy đủ theo như kế hoạch, đã trở về lại Pāṭaliputta không bị tổn hại.
BJT 665Những người ấy, sau khi đi về đến căn nhà của mình, có sự an toàn, được gần gũi với những người con và những người vợ, có sự vui thích, hớn hở, có tâm ý vui vẻ, trở nên mừng rỡ, đã làm lễ hội cao sang cho Serissa.
BJT 666Những người ấy đã cho xây dựng tòa nhà Serissakā. Sự thân cận với những người tốt lành là như thế ấy, sự thân cận với những đức tính của Giáo Pháp là có lợi ích lớn, nhờ vào sự lợi ích của một cận sự nam, hết thảy tất cả chúng sanh đã có trạng thái hạnh phúc.”
Chuyện Ngạ Quỷ Serissaka là thứ nhì.
TỤNG PHẨM THỨ BA.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Serīsakapetavatthu
2. The Story of the Peta Serīsaka
2. Chuyện ngạ quỷ Serīsaka
604.
604.
604.
† Suṇotha yakkhassa vāṇijāna ca, samāgamo yattha tadā ahosi;
Yathā kathaṃ itaritarena cāpi, subhāsitaṃ tañca suṇātha sabbe.
Listen, all of you, to the meeting of the yakkha and the merchants that then took place, and also to the well-spoken words exchanged between them.
Xin hãy lắng nghe về cuộc gặp gỡ giữa dạ-xoa và các thương nhân đã diễn ra khi ấy; và cũng xin tất cả hãy lắng nghe những lời khéo nói mà họ đã trao đổi với nhau.
605.
605.
605.
Yo so ahu rājā pāyāsi nāma †, bhummānaṃ sahabyagato yasassī;
So modamānova sake vimāne, amānuso mānuse ajjhabhāsīti.
He who was the king named Pāyāsi, a glorious one gone to the company of the earth devas, was rejoicing in his own mansion. A non-human, he addressed the humans.
Vị vua tên là Pāyāsi, người đã trở thành bạn đồng hành của các vị địa thiên, một vị có danh tiếng; vị phi nhân ấy, hoan hỷ trong lâu đài của mình, đã nói với những người loài người.
606.
606.
606.
‘‘Vaṅke araññe amanussaṭṭhāne, kantāre appodake appabhakkhe;
Suduggame vaṇṇupathassa majjhe, vaṅkaṃbhayā naṭṭhamanā manussā.
In a treacherous forest, a haunt of non-humans, a wilderness with little water and little food; in the middle of a sandy track most difficult to traverse, are humans with minds undone, fearful of this perilous place.
Hỡi những người có tâm trí hoang mang, sợ hãi sự hiểm nguy, trong khu rừng quanh co, nơi ở của phi nhân, trong hoang địa không nước, không thức ăn, giữa con đường cát rất khó đi qua.
607.
607.
607.
‘‘Nayidha phalā mūlamayā ca santi, upādānaṃ natthi kutodha bhakkho †;
Aññatra paṃsūhi ca vālukāhi ca, tatāhi uṇhāhi ca dāruṇāhi ca.
Here there are neither fruits nor edible roots; there are no provisions, so whence could there be food? There is nothing here but dust and sand—scorching, hot, and fierce.
Ở đây không có trái cây hay củ rễ, không có nhiên liệu, làm sao có thức ăn? Ngoài bụi và cát, nóng bỏng, thiêu đốt và khắc nghiệt.
608.
608.
608.
‘‘Ujjaṅgalaṃ tattamivaṃ kapālaṃ, anāyasaṃ paralokena tulyaṃ;
Luddānamāvāsamidaṃ purāṇaṃ, bhūmippadeso abhisattarūpo.
A barren land like a heated potsherd, without comfort, comparable to the next world. This is an ancient abode of cruel beings, a region of land that seems as if it were cursed.
Vùng đất hoang vu này nóng như mảnh sành nung, không an toàn, giống như một thế giới khác. Đây là nơi ở cũ của những kẻ hung dữ; vùng đất này dường như bị nguyền rủa.
609.
609.
609.
‘‘‘Atha tumhe kena vaṇṇena, kimāsamānā imaṃ padesaṃ hi;
Anupaviṭṭhā sahasā samacca, lobhā bhayā atha vā sampamūḷhā’’’ti.
Then for what reason, hoping for what, have you all entered this region together and so suddenly? Was it out of greed, or fear, or because you are utterly bewildered?
Vậy thì vì lý do gì, mong muốn điều gì mà các người đã vào vùng đất này? Có phải các người đã vào đây một cách vội vàng, thiếu suy xét, vì tham lam, vì sợ hãi, hay vì bị lạc đường?
610.
610.
610.
‘‘Magadhesu aṅgesu ca satthavāhā, āropayitvā paṇiyaṃ puthuttaṃ;
Te yāmase sindhusovīrabhūmiṃ, dhanatthikā uddayaṃ patthayānā.
We are caravan merchants from Magadha and Aṅga. Having loaded up abundant merchandise, we are travelling to the land of Sindhu-Sovīra, desirous of wealth and seeking profit.
Chúng tôi là những thương nhân đoàn buôn từ Magadha và Aṅga, đã chất nhiều hàng hóa, chúng tôi đi đến vùng đất Sindhu-Sovīra, vì mong muốn của cải và tìm kiếm lợi nhuận.
611.
611.
611.
‘‘Divā pipāsaṃ nadhivāsayantā, yoggānukampañca samekkhamānā;
Etena vegena āyāma sabbe, rattiṃ maggaṃ paṭipannā vikāle.
Unable to endure the thirst by day, and also out of consideration and compassion for our draft animals, we all travel with this speed, having taken to the road at night, an unsuitable time.
Không thể chịu đựng cơn khát vào ban ngày, và cũng vì thương xót các con vật kéo xe, tất cả chúng tôi đã đi với tốc độ này, đi trên con đường vào ban đêm, một thời điểm không thích hợp.
612.
612.
612.
‘‘Te duppayātā aparaddhamaggā, andhākulā vippanaṭṭhā araññe;
Suduggame vaṇṇupathassa majjhe, disaṃ na jānāma pamūḷhacittā.
Having travelled badly and taken the wrong path, confused as if blind and utterly lost in the wilderness, in the middle of this sandy track most difficult to traverse, with deluded minds, we do not know the direction.
Chúng tôi đã đi sai đường, lạc lối, bối rối như người mù, mất phương hướng trong khu rừng; giữa con đường cát rất khó đi, với tâm trí mê muội, chúng tôi không biết phương hướng.
613.
613.
613.
‘‘Idañca disvāna adiṭṭhapubbaṃ, vimānaseṭṭhañca tavañca yakkha;
Tatuttariṃ jīvitamāsamānā, disvā patītā sumanā udaggā’’ti.
But now, O yakkha, having seen this never-before-seen excellent mansion, and you, and all of this, we are joyful, glad-minded, and elated, hoping for our lives even more than before.
Và khi thấy điều chưa từng thấy này, lâu đài tuyệt vời và cả ngài nữa, hỡi dạ-xoa, chúng tôi lại càng hy vọng được sống. Khi thấy ngài, chúng tôi vui mừng, hoan hỷ và phấn chấn.
614.
614.
614.
‘‘Pāraṃ samuddassa imañca vaṇṇuṃ, vettācaraṃ † saṅkupathañca maggaṃ;
Nadiyo pana pabbatānañca duggā, puthuddisā gacchatha bhogahetu.
For the sake of wealth, you go in many directions: to the other shore of the ocean, to this sandy wilderness, along paths made difficult by rattan and paths beset with stakes, and furthermore to rivers and the rugged regions of mountains.
Vì của cải, các người đi đến bờ bên kia của đại dương, đến sa mạc này, con đường mây, con đường cọc, các con sông, và những nơi hiểm trở của núi non, đến nhiều phương hướng khác nhau.
615.
615.
615.
‘‘Pakkhandiyāna vijitaṃ paresaṃ, verajjake mānuse pekkhamānā;
Yaṃ vo sutaṃ vā atha vāpi diṭṭhaṃ, accherakaṃ taṃ vo suṇoma tātā’’ti.
Having entered the territory of others and observing people in foreign lands, whatever marvel you have heard or seen, please tell it. We would hear it from you, O dear sirs.
Khi vào lãnh thổ của người khác, quan sát những người ở xứ lạ, điều kỳ diệu nào mà các người đã nghe hoặc đã thấy, hỡi các bạn, chúng tôi muốn nghe điều đó từ các người.
616.
616.
616.
‘‘Itopi accherataraṃ kumāra, na no sutaṃ vā atha vāpi diṭṭhaṃ;
Atītamānussakameva sabbaṃ, disvā na tappāma anomavaṇṇaṃ.
O youth, more wonderful than this we have neither heard nor seen. Having seen all this, which surpasses the human realm, and your perfect form, we are not satiated.
Thưa ngài, chúng tôi chưa từng nghe hay thấy điều gì kỳ diệu hơn thế này. Khi thấy tất cả những thứ vượt xa loài người, với vẻ đẹp hoàn hảo, chúng tôi không thể nào thỏa mãn.
617.
617.
617.
‘‘Vehāyasaṃ pokkharañño savanti, pahūtamalyā † bahupuṇḍarīkā;
Dumā cime niccaphalūpapannā, atīva gandhā surabhiṃ pavāyanti.
Your lotus ponds, with abundant flowers and many white lotuses, flow in the sky. And these trees of yours, ever endowed with fruit, are exceedingly fragrant; from them, a sweet scent wafts forth.
Các hồ sen của ngài chảy trên không trung, có nhiều hoa và nhiều sen trắng. Những cây này của ngài luôn trĩu quả, tỏa ra hương thơm ngào ngạt.
618.
618.
618.
‘‘Veḷūriyathambhā satamussitāse, silāpavāḷassa ca āyataṃsā;
Masāragallā sahalohitaṅgā, thambhā ime jotirasāmayāse.
Pillars of beryl, a hundred cubits high; pillars of crystal and coral with long beams; pillars of sapphire along with ruby. These pillars are made of radiant gems.
Những cột bằng lưu ly cao một trăm thước, những cột bằng thạch anh và san hô có cạnh dài; những cột bằng mã não, cùng với hồng ngọc, những cột này được làm bằng đá quý phát sáng.
619.
619.
619.
‘‘Sahassathambhaṃ atulānubhāvaṃ, tesūpari sādhumidaṃ vimānaṃ;
Ratanantaraṃ kañcanavedimissaṃ, tapanīyapaṭṭehi ca sādhuchannaṃ.
Upon a thousand pillars, of incomparable power, stands this excellent mansion of yours. It is inlaid with various gems, interspersed with golden railings, and well-roofed with plates of burnished gold.
Lâu đài tuyệt đẹp này ở trên những cột đó, có một nghìn cột, với uy lực không thể sánh bằng; được trang trí bằng các loại đá quý, xen lẫn lan can bằng vàng, và được lợp kỹ bằng những tấm vàng ròng.
620.
620.
620.
‘‘Jambonaduttattamidaṃ sumaṭṭho, pāsādasopāṇaphalūpapanno;
Daḷho ca vaggu ca susaṅgato ca †, atīva nijjhānakhamo manuñño.
This mansion of yours shines like the finest Jambu-river gold and is well-polished. It is endowed with palaces, stairs, and platforms. It is strong, lovely, and well-proportioned, exceedingly worthy of beholding and delightful to the heart.
Nó sáng chói như vàng Jambu, được đánh bóng kỹ lưỡng, có các cung điện, cầu thang và tấm ván. Nó vững chắc, đẹp đẽ, cân đối, rất đáng chiêm ngưỡng và làm vui lòng.
621.
621.
621.
‘‘Ratanantarasmiṃ bahuannapānaṃ, parivārito accharāsaṅgaṇena;
Murajaālambaratūriyaghuṭṭho, abhivanditosi thutivandanāya.
In this jeweled mansion is abundant food and drink. You are surrounded by a host of celestial nymphs. It resounds with the sound of drums, cymbals, and musical instruments. You are revered with praise and homage.
Trong lâu đài bằng đá quý có nhiều đồ ăn thức uống, ngài được đoàn tiên nữ vây quanh; tiếng trống muraja, ālambara và các nhạc cụ vang dội, ngài được tôn vinh bằng lời ca tụng và tán dương.
622.
622.
622.
‘‘So modasi nārigaṇappabodhano, vimānapāsādavare manorame;
Acintiyo sabbaguṇūpapanno, rājā yathā vessavaṇo naḷinyā †.
You rejoice in this excellent and delightful palace-mansion, awakening joy in the host of nymphs. Inconceivable, endowed with all virtues, you are like King Vessavaṇa rejoicing in his celestial abode, Nāḷinī.
Ngài hoan hỷ, được đoàn tùy tùng nữ nhân đánh thức, trong lâu đài cung điện tuyệt vời và làm say đắm lòng người. Không thể nghĩ bàn, hội đủ mọi phẩm chất, ngài giống như vua Vessavaṇa ở Naḷinī.
623.
623.
623.
‘‘Devo nu āsi udavāsi yakkho, udāhu devindo manussabhūto;
Pucchanti taṃ vāṇijā satthavāhā, ācikkha ko nāma tuvaṃsi yakkho’’ti.
Are you a deva, or are you a yakkha? Or perhaps the lord of devas? Or are you a human being? The merchants, the caravan leaders, ask you. Being asked, please tell us: what is your name, O yakkha?
Ngài có phải là một vị trời, hay một dạ-xoa, hay là vua của các vị trời, hay là một con người? Các thương nhân, những người dẫn đoàn, hỏi ngài: 'Xin hãy cho biết, hỡi dạ-xoa, ngài tên là gì?'
624.
624.
624.
‘‘Serīsako nāma ahamhi yakkho, kantāriyo vaṇṇupathamhi gutto;
Imaṃ padesaṃ abhipālayāmi, vacanakaro vessavaṇassa rañño’’ti.
I am the yakkha named Serīsaka, a guardian belonging to the wilderness, a protector on the sandy path. I watch over this region, carrying out the word of King Vessavaṇa.
Ta là dạ-xoa tên Serīsaka, người canh giữ hoang địa, bảo vệ con đường cát này. Ta bảo hộ vùng đất này, là người vâng lời vua Vessavaṇa.
625.
625.
625.
‘‘Adhiccaladdhaṃ pariṇāmajaṃ te, sayaṃ kataṃ udāhu devehi dinnaṃ;
Pucchanti taṃ vāṇijā satthavāhā, kathaṃ tayā laddhamidaṃ manuñña’’nti.
Was this mansion obtained by you spontaneously? Was it born of transformation? Or was it self-made, or perhaps given by the devas? The merchants, the caravan leaders, ask you: how was this delightful mansion obtained by you?
Ngài có được nó một cách tình cờ, hay nó sinh ra từ sự biến hóa, hay do chính ngài tạo ra, hay do chư thiên ban tặng? Các thương nhân, những người dẫn đoàn, hỏi ngài: 'Làm thế nào ngài có được lâu đài đáng yêu này?'
626.
626.
626.
‘‘Nādhiccaladdhaṃ na pariṇāmajaṃ me, na sayaṃ kataṃ na hi devehi dinnaṃ;
Sakehi kammehi apāpakehi, puññehi me laddhamidaṃ manuñña’’nti.
This mansion was not obtained by me spontaneously, nor was it born of transformation. It was not self-made, nor was it given by the devas. By my own meritorious and non-evil deeds was this delightful mansion obtained by me.
Ta không có được nó một cách tình cờ, cũng không phải do biến hóa, không phải do ta tự làm, cũng không phải do chư thiên ban tặng. Ta có được lâu đài đáng yêu này nhờ vào các công đức, nhờ vào các hành động không xấu xa của chính mình.
627.
627.
627.
‘‘Kiṃ te vataṃ kiṃ pana brahmacariyaṃ, kissa suciṇṇassa ayaṃ vipāko;
Pucchanti taṃ vāṇijā satthavāhā, kathaṃ tayā laddhamidaṃ vimāna’’nti.
What was your observance? What was your holy life? Of what good conduct is this the result? The merchants, the caravan leaders, ask you: how was this mansion obtained by you?
“Giới hạnh của ngài là gì, phạm hạnh của ngài là gì? Quả báo này là do thiện hạnh nào? Các thương nhân, những người dẫn đầu đoàn lữ hành, hỏi ngài rằng: ‘Do đâu mà ngài có được thiên cung này?’”
628.
628.
628.
‘‘Mamaṃ pāyāsīti ahu samaññā, rajjaṃ yadā kārayiṃ kosalānaṃ;
Natthikadiṭṭhi kadariyo pāpadhammo, ucchedavādī ca tadā ahosiṃ.
When I ruled the kingdom of the Kosalans, my designation was Pāyāsi. At that time, I held nihilistic views, was miserly and of evil nature, and was an annihilationist.
“Khi ta trị vì vương quốc của dân Kosala, ta có danh hiệu là Pāyāsi. Khi ấy, ta là người có tà kiến, keo kiệt, theo tà pháp, và là người theo thuyết đoạn diệt.”
629.
629.
629.
‘‘Samaṇo ca kho āsi kumārakassapo, bahussuto cittakathī uḷāro;
So me tadā dhammakathaṃ abhāsi, diṭṭhivisūkāni vinodayī me.
At that time, there was the monk named Kumārakassapa, who was very learned, an eloquent speaker, and magnificent. He then spoke the Dhamma to me and dispelled the perversions of my views.
“Khi ấy, có vị Sa-môn tên là Kumārakassapa, bậc đa văn, khéo thuyết pháp, cao thượng. Vị ấy đã thuyết pháp cho ta, và đã loại bỏ những tà kiến sai lầm của ta.”
630.
630.
630.
‘‘Tāhaṃ tassa dhammakathaṃ suṇitvā, upāsakattaṃ paṭidevayissaṃ;
Pāṇātipātā virato ahosiṃ, loke adinnaṃ parivajjayissaṃ;
Amajjapo no ca musā abhāṇiṃ, sakena dārena ca ahosi tuṭṭho.
Having heard that Dhamma talk, I declared myself a lay follower. I became one who abstained from the destruction of life; I avoided taking what is not given in the world; I was not a drinker of intoxicants and did not speak falsely; and I was content with my own wife.
“Sau khi nghe pháp thoại của vị ấy, ta đã tuyên bố mình là một cận sự nam. Ta đã từ bỏ sát sanh, tránh xa việc lấy của không cho ở trên đời. Ta không uống rượu, không nói dối, và biết đủ với vợ của mình.”
631.
631.
631.
‘‘Taṃ me vataṃ taṃ pana brahmacariyaṃ, tassa suciṇṇassa ayaṃ vipāko;
Teheva kammehi apāpakehi, puññehi me laddhamidaṃ vimāna’’nti.
That was my observance, and that was my holy life. This is the result of that good conduct. It is by those very meritorious and non-evil deeds that this mansion was obtained by me.
“Đó là giới hạnh của ta, đó là phạm hạnh của ta. Quả báo này là do thiện hạnh ấy. Chính nhờ những nghiệp thiện lành, không tội lỗi ấy mà ta có được thiên cung này.”
632.
632.
632.
‘‘Saccaṃ kirāhaṃsu narā sapaññā, anaññathā vacanaṃ paṇḍitānaṃ;
Yahiṃ yahiṃ gacchati puññakammo, tahiṃ tahiṃ modati kāmakāmī.
Truly, wise people have spoken rightly; the word of the wise is not otherwise. Wherever a person of meritorious deeds goes, there they rejoice, enjoying all they desire.
“Quả thật, những người có trí tuệ đã nói lời chân thật, lời của bậc hiền trí không bao giờ sai khác. Người làm phước đi đến đâu, thì ở đó được hoan hỷ, thỏa mãn các dục vọng.”
633.
633.
633.
‘‘Yahiṃ yahiṃ sokapariddavo ca, vadho ca bandho ca parikkileso;
Tahiṃ tahiṃ gacchati pāpakammo, na muccati duggatiyā kadācī’’ti.
Wherever there is sorrow and lamentation, killing, bondage, and affliction, there the evil-doer goes; he is never freed from a bad destination.
“Nơi nào có sầu bi, than khóc, có giết chóc, trói buộc và phiền não, kẻ làm ác đi đến nơi đó, và không bao giờ thoát khỏi ác thú.”
634.
634.
634.
‘‘Sammūḷharūpova jano ahosi, asmiṃ muhutte kalalīkatova;
Janassimassa tuyhañca kumāra, appaccayo kena nu kho ahosī’’ti.
O youth, this host of devas became as if bewildered, in this moment as if turned to mud. For what reason indeed did this displeasure arise for this host of devas and for you?
“Này thiên tử, chúng hội dường như mê muội, trong khoảnh khắc này trở nên như vũng bùn. Do nguyên nhân nào mà chúng hội này và cả ngài lại không vui lòng?”
635.
635.
635.
‘‘Ime ca sirīsavanā † tātā, dibbā gandhā surabhī sampavanti;
Te sampavāyanti imaṃ vimānaṃ, divā ca ratto ca tamaṃ nihantvā.
O dear sirs, from these Sirīsa groves, divine and fragrant scents waft forth. Having dispelled the darkness, they make this celestial mansion fragrant both day and night.
“Này các bạn, từ khu rừng Sirīsa này, những hương thơm của chư thiên, ngào ngạt lan tỏa. Chúng tỏa hương khắp thiên cung này, xua tan bóng tối cả ngày lẫn đêm.”
636.
636.
636.
‘‘Imesañca kho vassasataccayena, sipāṭikā phalati ekamekā;
Mānussakaṃ vassasataṃ atītaṃ, yadagge kāyamhi idhūpapanno.
And of these trees, with the passing of a hundred years, each single pod ripens and falls. A hundred human years have passed since the time I arose in this divine company.
“Và sau mỗi một trăm năm, một quả của những cây này lại rụng xuống. Một trăm năm của cõi người đã trôi qua, kể từ khi ta được tái sanh vào thân này ở đây.”
637.
637.
637.
‘‘Disvānahaṃ vassasatāni pañca, asmiṃ vimāne ṭhatvāna tātā;
Āyukkhayā puññakkhayā cavissaṃ, teneva sokena pamucchitosmī’’ti.
“O dear sirs, after remaining in this celestial mansion for five hundred years, I see that I shall pass away because of the exhaustion of my lifespan and the exhaustion of my merit. It is by that very sorrow that I am bewildered.”
“Này các bạn, sau khi đã ở trong thiên cung này năm trăm năm, ta sẽ phải mệnh chung do hết thọ mạng và hết phước báu. Chính vì nỗi sầu muộn đó mà ta bị mê mờ.”
638.
638.
638.
‘‘Kathaṃ nu soceyya tathāvidho so, laddhā vimānaṃ atulaṃ cirāya;
Ye cāpi kho ittaramupapannā, te nūna soceyyuṃ parittapuññā’’ti.
How indeed would such a one grieve, having obtained an incomparable celestial mansion for a long time? It is surely those of little merit, who have arisen for but a short time, who should grieve.
“Làm sao một người như ngài lại sầu muộn, khi đã có được một thiên cung vô song trong một thời gian dài? Chắc chắn chỉ những người có ít phước, sanh ra trong một thời gian ngắn, mới nên sầu muộn.”
639.
639.
639.
‘‘Anucchaviṃ ovadiyañca me taṃ, yaṃ maṃ tumhe peyyavācaṃ vadetha;
Tumhe ca kho tātā mayānuguttā, yenicchakaṃ tena paletha sotthi’’nti.
That which you speak to me is suitable, instructive, and endearing. And you, dear sirs, are protected by me. Go in safety wherever you wish.
“Lời khuyên của các bạn thật thích hợp với ta, những lời ái ngữ mà các bạn đã nói với ta. Này các bạn, các bạn đã được ta bảo vệ, hãy đi đến nơi nào các bạn muốn một cách an lành.”
640.
640.
640.
‘‘Gantvā mayaṃ sindhusovīrabhūmiṃ, dhannatthikā uddayaṃ patthayānā;
Yathāpayogā paripuṇṇacāgā, kāhāma serīsamahaṃ uḷāra’’nti.
Having gone to the land of Sindhu-Sovīra, desiring wealth and aspiring for gain, with effort according to our means and with complete generosity, we shall perform a great festival for Serīsaka.
“Chúng tôi sẽ đi đến xứ Sindhu-Sovīra, vì muốn có tài sản, mong cầu lợi nhuận. Tùy theo khả năng, với lòng bố thí trọn vẹn, chúng tôi sẽ tổ chức một lễ hội cúng dường lớn cho ngài Serīsa.”
641.
641.
641.
‘‘Mā ceva serīsamahaṃ akattha, sabbañca vo bhavissati yaṃ vadetha;
Pāpāni kammāni vivajjayātha, dhammānuyogañca adhiṭṭhahātha.
Do not perform a festival for Serīsaka. And all that you say shall come to be for you. Avoid evil actions, and undertake the practice of the Dhamma.
“Đừng tổ chức lễ hội cúng dường cho Serīsa. Mọi điều các bạn nói sẽ thành tựu. Hãy tránh xa các nghiệp ác, và hãy kiên trì thực hành Chánh pháp.”
642.
642.
642.
‘‘Upāsako atthi imamhi saṅghe, bahussuto sīlavatūpapanno;
Saddho ca cāgī ca supesalo ca, vicakkhaṇo santusito mutīmā.
There is a lay follower in this assembly, very learned and endowed with virtue; faithful, generous, and very amiable; discerning, contented, and wise.
“Trong đoàn này có một vị cận sự nam, bậc đa văn, đầy đủ giới hạnh, có tín tâm, hay bố thí, yêu mến giới luật, sáng suốt, biết đủ và có trí tuệ.”
643.
643.
643.
‘‘Sañjānamāno na musā bhaṇeyya, parūpaghātāya ca cetayeyya;
Vebhūtikaṃ pesuṇaṃ no kareyya, saṇhañca vācaṃ sakhilaṃ bhaṇeyya.
Knowing, he would not speak falsely, nor would he intend harm for another; he would not engage in divisive speech that causes dissension, but would speak words that are gentle and friendly.
“Vị ấy biết rõ mà không nói dối, không có ý định làm hại người khác, không nói lời chia rẽ gây bất hòa, chỉ nói lời nhẹ nhàng, hòa ái.”
644.
644.
644.
‘‘Sagāravo sappaṭisso vinīto, apāpako adhisīle visuddho;
So mātaraṃ pitarañcāpi jantu, dhammena poseti ariyavutti.
Respectful, deferential, and disciplined, blameless and pure in higher virtue; that being righteously supports his mother and father, living a noble life.
“Vị ấy có lòng tôn kính, vâng lời, được huấn luyện, không làm điều ác, thanh tịnh trong tăng thượng giới. Người ấy nuôi dưỡng cha mẹ một cách đúng pháp, có lối sống cao thượng.”
645.
645.
645.
‘‘Maññe so mātāpitūnaṃ kāraṇā, bhogāni pariyesati na attahetu;
Mātāpitūnañca yo accayena, nekkhammapoṇo carissati brahmacariyaṃ.
I think he seeks wealth for his parents’ sake, not for his own. And after his parents’ passing, inclined to renunciation, he will lead the holy life.
“Ta nghĩ rằng vị ấy tìm kiếm tài sản vì cha mẹ, chứ không phải vì bản thân. Và sau khi cha mẹ qua đời, vị ấy sẽ hướng tâm xuất ly, thực hành phạm hạnh.”
646.
646.
646.
‘‘Ujū avaṅko asaṭho amāyo, na lesakappena ca vohareyya;
So tādiso sukatakammakārī, dhamme ṭhito kinti labhetha dukkhaṃ.
Upright, not crooked, not fraudulent, not deceitful, he would not conduct his affairs with subterfuge. Such a one, a doer of good deeds, established in the Dhamma—how could he obtain suffering?
“Vị ấy ngay thẳng, không cong vạy, không xảo trá, không lừa dối, và không nói lời mưu mẹo. Một người như vậy, hay làm việc thiện, an trú trong Chánh pháp, làm sao có thể gặp khổ đau?”
647.
647.
647.
‘‘Taṃ kāraṇā pātukatomhi attanā, tasmā dhammaṃ passatha vāṇijāse;
Aññatra teniha bhasmī † bhavetha, andhākulā vippanaṭṭhā araññe;
Taṃ khippamānena lahuṃ parena, sukho have sappurisena saṅgamo’’ti.
For that reason I have manifested myself. Therefore, O merchants, see the Dhamma! Without him, you would have become ashes here, bewildered and lost in the wilderness, quickly tormented by some other danger. Happy indeed is association with a good person!
“Chính vì vị ấy mà ta đã tự mình hiện ra. Vì vậy, hỡi các thương nhân, hãy thấy Chánh pháp. Nếu không có vị ấy, các ông ở đây sẽ thành tro bụi, mù quáng, lạc lối trong hoang địa. Bị kẻ khác nhanh chóng hãm hại. Thật vậy, giao du với bậc chân nhân là hạnh phúc.”
648.
648.
648.
‘‘Kiṃ nāma so kiñca karoti kammaṃ, kiṃ nāmadheyyaṃ kiṃ pana tassa gottaṃ;
Mayampi naṃ daṭṭhukāmamha yakkha, yassānukampāya idhāgatosi;
Lābhā hi tassa yassa tuvaṃ pihesī’’ti.
What is his name and what work does he do? What is his designation and what is his clan? We too wish to see him, O yakkha, for whom you have come here out of compassion. It is indeed a gain for him whom you cherish!
“Vị ấy tên là gì, làm nghề gì? Danh xưng là gì, dòng họ là gì? Thưa Dạ-xoa, chúng tôi cũng muốn gặp vị ấy, người mà ngài vì lòng bi mẫn đã đến đây. Thật là lợi lạc cho người mà ngài yêu mến.”
649.
649.
649.
‘‘Yo kappako sambhavanāmadheyyo, upāsako kocchaphalūpajīvī;
Jānātha naṃ tumhākaṃ pesiyo so, mā kho naṃ hīḷittha supesalo so’’ti.
The lay follower who is a barber named Sambhava, who makes his living by his craft; know him. He is your attendant. Do not despise him, for he is very amiable.
“Người thợ cạo tên là Sambhava, một cận sự nam sống bằng nghề dùng ghế và ván. Hãy biết rằng vị ấy là người phục vụ của các ông. Đừng khinh miệt vị ấy, vì vị ấy rất yêu mến giới luật.”
650.
650.
650.
‘‘Jānāmase yaṃ tvaṃ pavadesi yakkha, na kho naṃ jānāma sa edisoti;
Mayampi naṃ pūjayissāma yakkha, sutvāna tuyhaṃ vacanaṃ uḷāra’’nti.
We know him of whom you speak, O yakkha, but indeed we did not know he is such a one. We too shall honor him, O yakkha, having heard your excellent words.
“Thưa Dạ-xoa, chúng tôi biết người mà ngài nói đến, nhưng chúng tôi không biết vị ấy có những phẩm chất như vậy. Thưa Dạ-xoa, sau khi nghe lời cao thượng của ngài, chúng tôi cũng sẽ cúng dường vị ấy.”
651.
651.
651.
‘‘Ye keci imasmiṃ satthe manussā, daharā mahantā athavāpi majjhimā;
Sabbeva te ālambantu vimānaṃ, passantu puññānaṃ phalaṃ kadariyā’’ti.
Whatever humans are in this caravan—young, old, or else middle-aged—let all of them ascend the celestial mansion! Let the stingy see the fruit of meritorious deeds!
“Tất cả những người trong đoàn lữ hành này, dù trẻ, già hay trung niên, tất cả hãy lên thiên cung này. Hãy để những người keo kiệt thấy được quả báo của phước báu.”
652.
652.
652.
Te tattha sabbeva ‘ahaṃ pure’ti, taṃ kappakaṃ tattha purakkhatvā †;
Sabbeva te ālambiṃsu vimānaṃ, masakkasāraṃ viya vāsavassa.
There, all of them, saying, 'I first!', having placed that barber at their head, ascended the celestial mansion, which was like the Masakkasāra of Vāsava.
“Tại đó, tất cả họ đều nói ‘Tôi trước’, và đặt người thợ cạo ấy lên trước. Tất cả họ đều lên thiên cung, lộng lẫy như cung điện của Vāsava (Đế Thích).”
653.
653.
653.
Te tattha sabbeva ‘ahaṃ pure’ti, upāsakattaṃ paṭivedayiṃsu;
Pāṇātipātā paṭiviratā ahesuṃ, loke adinnaṃ parivajjayiṃsu;
Amajjapā no ca musā bhaṇiṃsu, sakena dārena ca ahesuṃ tuṭṭhā.
There, all of them, vying with one another, 'I first!', declared themselves lay followers. They abstained from the destruction of life; they avoided taking what is not given in the world; they were not drinkers of intoxicants nor did they speak falsely; and they were content with their own wives.
“Tại đó, tất cả họ đều nói ‘Tôi trước’, và tuyên bố mình là cận sự nam. Họ đã từ bỏ sát sanh, tránh xa việc lấy của không cho ở trên đời. Họ không uống rượu, không nói dối, và biết đủ với vợ của mình.”
654.
654.
654.
Te tattha sabbeva ‘ahaṃ pure’ti, upāsakattaṃ paṭivedayitvā;
Pakkāmi sattho anumodamāno, yakkhiddhiyā anumato punappunaṃ.
There, all of them, vying with one another, 'I first!', having declared themselves lay followers, the caravan departed rejoicing, repeatedly approved by the yakkha’s psychic power.
“Tại đó, sau khi tất cả họ đều nói ‘Tôi trước’ và tuyên bố mình là cận sự nam, đoàn lữ hành đã ra đi, được vị Dạ-xoa cho phép, và họ đã tùy hỷ nhiều lần trước thần lực của vị Dạ-xoa.”
655.
655.
655.
Gantvāna te sindhusovīrabhūmiṃ, dhanatthikā uddayaṃ † patthayānā;
Yathāpayogā paripuṇṇalābhā, paccāgamuṃ pāṭaliputtamakkhataṃ.
Having gone to the land of Sindhu-Sovīra, desiring wealth and aspiring for gain, with their profits fulfilled according to their investment, they returned unharmed to Pāṭaliputta.
“Họ đã đi đến xứ Sindhu-Sovīra, vì muốn có tài sản, mong cầu lợi nhuận. Tùy theo khả năng, với lợi lộc dồi dào, họ đã trở về Pāṭaliputta một cách an toàn.”
656.
656.
656.
Gantvāna te saṅgharaṃ sotthivanto, puttehi dārehi samaṅgibhūtā;
Ānandī vittā sumanā patītā, akaṃsu serīsamahaṃ uḷāraṃ;
Serīsakaṃ te pariveṇaṃ māpayiṃsu.
Having gone safely to their own homes, they were reunited with their children and wives. Joyful, delighted, glad-minded, and elated, they performed a great festival for Serīsaka and had the Serīsaka residence built.
“Khi trở về nhà một cách an lành, họ đoàn tụ với con cái và vợ. Vui mừng, hoan hỷ, phấn khởi, họ đã tổ chức một lễ hội cúng dường lớn cho Serīsa. Họ đã xây dựng một nơi ở riêng cho Serīsa.”
657.
657.
657.
Etādisā sappurisāna sevanā, mahatthikā dhammaguṇāna sevanā;
Ekassa atthāya upāsakassa, sabbeva sattā sukhitā † ahesunti.
Such is association with good persons; of great benefit is the cultivation of the qualities of the Dhamma. For the sake of one lay follower, all those beings became happy.
Sự thân cận các bậc thiện sĩ là như thế, sự thân cận các đức tính của Pháp có lợi ích lớn lao; vì lợi ích của một người cận sự nam, tất cả chúng sanh đều đã được an lạc.
Serīsakapetavatthu dutiyaṃ.
The Second Story: The Serīsaka Peta.
Câu chuyện ngạ quỷ Serīsaka thứ hai.
Bhāṇavāraṃ tatiyaṃ niṭṭhitaṃ.
The Third Recitation Section is finished.
Phẩm tụng thứ ba đã kết thúc.