Bản dịch
PV 34 — Chuyện Ngạ Quỷ có sự Quyết Đoán Sái Quấy
9. Kūṭavinicchayikapetavatthu
BJT 508“Ngươi có tràng hoa, có đội mão, có vòng xuyến, các phần thân thể của ngươi có chất bôi thơm là trầm hương, ngươi có sắc diện tươi tỉnh, ngươi chói sáng tựa như màu sắc của mặt trời.
BJT 509Các tùy tùng nam của ngươi thuộc tập thể không phải nhân loại, các hầu cận nữ của ngươi là mười ngàn thiếu nữ.
BJT 510Các cô ấy có mang các vòng xuyến bằng vàng, được điểm trang với vòng hoa đội đầu bằng vàng. Ngươi có đại oai lực, có dáng vóc khiến nổi da gà, ngươi tự mình rứt ra rồi ngấu nghiến các miếng thịt lưng của mình.
BJT 511Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà ngươi lại tự mình rứt ra rồi ngấu nghiến các miếng thịt lưng của mình?”
BJT 512“Trong cuộc sống ở thế gian, tôi đã cư xử bằng sự đâm thọc và lời nói dối, bằng sự gian trá và lừa gạt đem lại điều không lợi ích cho bản thân.
BJT 513Tại nơi ấy, sau khi đi đến tập thể vào thời điểm (xác định) sự thật đã được thiết lập, tôi đã không đếm xỉa đến phương thức có sự lợi ích, tôi đã hành xử theo điều sai trái.
BJT 514Như thế, kẻ nào là người nói xấu sau lưng, kẻ ấy ngấu nghiến bản thân, giống như tôi hôm nay ngấu nghiến các miếng thịt lưng của mình.
BJT 515Thưa ngài Nārada, việc này đây đã được ngài đích thân nhìn thấy. Những người có lòng thương xót, tốt lành có thể nói rằng: ‘Chớ nói đâm thọc và chớ nói lời dối trá, đúng vậy ngươi chớ là kẻ nói xấu sau lưng.’”
Chuyện Ngạ Quỷ có sự Quyết Đoán Sái Quấy là thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Kūṭavinicchayikapetavatthu
9. The Story of the Peta of the Fraudulent Judge
9. Câu chuyện về ngạ quỷ phán xử gian dối
499.
499.
499.
‘‘Mālī kiriṭī kāyūrī †, gattā te candanussadā;
Pasannamukhavaṇṇosi, sūriyavaṇṇova sobhasi.
You wear garlands, a diadem, and armlets; your limbs are anointed with sandalwood. With a serene facial complexion, you shine like the sun.
“Ngươi trang điểm vòng hoa, đội vương miện, đeo vòng tay, thân ngươi được thoa bằng gỗ đàn hương. Ngươi có sắc mặt trong sáng, tỏa sáng như màu sắc của mặt trời.
500.
500.
500.
‘‘Amānusā pārisajjā, ye teme paricārakā;
Dasa kaññāsahassāni, yā temā paricārikā;
Tā † kambukāyūradharā, kañcanāveḷabhūsitā.
9. Your attendants in the assembly are non-human, these who serve you. Ten thousand maidens are your female attendants; they wear armlets made of conch and are adorned with golden hair ornaments.
“Những người hầu cận trong hội chúng của ngươi là phi nhân. Mười ngàn thiếu nữ hầu cận của ngươi, họ đeo vòng tay bằng vỏ ốc, được trang điểm bằng những vật trang sức bằng vàng.
501.
501.
501.
‘‘Mahānubhāvosi tuvaṃ, lomahaṃsanarūpavā;
Piṭṭhimaṃsāni attano, sāmaṃ ukkacca † khādasi.
You are of great majesty, having a hair-raising form; yet you tear the flesh from your own back and eat it yourself.
“Ngươi có đại oai lực, có hình dáng khiến người nhìn phải dựng tóc gáy. (Vậy mà) ngươi lại tự mình cắt thịt lưng của chính mình mà ăn.
502.
502.
502.
‘‘Kiṃ nu kāyena vācāya, manasā dukkuṭaṃ kataṃ;
Kissa kammavipākena, piṭṭhimaṃsāni attano;
Sāmaṃ ukkacca khādasī’’ti.
What evil deed was done by you with body, speech, or mind? As the result of what kamma do you tear the flesh from your own back and eat it yourself?
“Ngươi đã làm ác nghiệp gì bằng thân, khẩu, hay ý? Do quả báo của nghiệp nào mà ngươi tự mình cắt thịt lưng của chính mình mà ăn?”
503.
503.
503.
‘‘Attanohaṃ anatthāya, jīvaloke acārisaṃ;
Pesuññamusāvādena, nikativañcanāya ca.
For my own harm I conducted myself in the world of the living, by means of slander and false speech, and by deceit and fraud.
“Trong thế giới của chúng sanh, tôi đã hành xử vì sự bất lợi cho chính mình, bằng lời nói hai lưỡi, nói dối, và bằng sự lừa đảo, gian trá.
504.
504.
504.
‘‘Tatthāhaṃ parisaṃ gantvā, saccakāle upaṭṭhite;
Atthaṃ dhammaṃ nirākatvā †, adhammamanuvattisaṃ.
There, having gone into an assembly when the time for truth had come, I rejected what was beneficial and right, and followed what was wrong.
“Ở đó, khi đến hội chúng, vào lúc phải nói sự thật, tôi đã từ bỏ lợi ích và chánh pháp, và đã đi theo phi pháp.
505.
505.
505.
‘‘Evaṃ so khādatattānaṃ, yo hoti piṭṭhimaṃsiko;
Yathāhaṃ ajja khādāmi, piṭṭhimaṃsāni attano.
Thus does one who is a backbiter devour himself, just as I today devour the flesh from my own back.
“Người nào là kẻ nói lời đâm thọc, chia rẽ, người đó sẽ ăn thịt chính mình, cũng như tôi hôm nay đang ăn thịt lưng của chính mình.
506.
506.
506.
‘‘Tayidaṃ tayā nārada sāmaṃ diṭṭhaṃ, anukampakā ye kusalā vadeyyuṃ;
Mā pesuṇaṃ mā ca musā abhāṇi, mā khosi piṭṭhimaṃsiko tuva’’nti.
This, Nārada, you have seen for yourself. The compassionate and the wise would say: ‘Do not speak slander, do not speak falsely, and do not become a backbiter.’
“Thưa ngài Nārada, điều này đã được ngài tự mình thấy. Những bậc thiện xảo, bi mẫn sẽ nói rằng: ‘Chớ nói lời đâm thọc, chớ nói lời dối trá, chớ trở thành người ăn thịt lưng (của người khác)’.”
Kūṭavinicchayikapetavatthu navamaṃ.
The Story of the Peta of the Corrupt Adjudicator, the Ninth.
Câu chuyện về ngạ quỷ phán xử gian dối, phẩm thứ chín.
507.
507.
507.
508.
508.
508.
509.
509.
509.
‘‘Kiṃ nu kāyena vācāya, manasā dukkaṭaṃ kataṃ;
Kissa kammavipākena, idaṃ dukkhaṃ nigacchasī’’ti.
10. What evil deed was done by you with body, speech, or mind? As the result of what kamma do you undergo this suffering?
“Ngươi đã làm ác nghiệp gì bằng thân, khẩu, hay ý? Do quả báo của nghiệp nào mà ngươi phải chịu sự đau khổ này?”