Bản dịch
PV 35 — Chuyện Ngạ Quỷ Do Chê Bai Xá-Lợi
10. Dhātuvivaṇṇapetavatthu
BJT 516“Ngươi đứng ở không trung, có mùi hôi, toát ra mùi thối tha, và những con dòi rúc rỉa cái miệng có mùi hôi thối của ngươi; ngươi đã tạo nghiệp gì trước đây?
BJT 517Sau đó, chúng cầm lấy cây dao cắt xẻo lần này đến lần khác. Chúng rưới khắp (thân ngươi) với chất kiềm rồi cắt xẻo lần này đến lần khác.
BJT 518Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà ngươi lại trải nghiệm sự khổ đau này?”
BJT 519“Thưa ngài, ở thành Rājagaha đáng yêu, nơi Giribbaja xinh xắn, tôi đã là chủ nhân của tài sản và lúa gạo vô cùng dồi dào.
BJT 520Người vợ này của tôi đây, con gái và con dâu của tôi, trong khi các cô ấy đang mang tràng hoa, luôn cả hoa sen xanh, và dầu thoa đắt giá đến ngôi bảo tháp, tôi đã ngăn cản; việc xấu xa ấy đã do tôi gây ra.
BJT 521Tám mươi sáu ngàn người chúng tôi có cảm thọ (khổ) riêng biệt, sau khi chê bai việc cúng dường đến ngôi bảo tháp, chúng tôi bị nung nấu dữ dội ở địa ngục.
BJT 522Và trong khi lễ hội của bậc A-la-hán đang được cử hành, những kẻ nào công bố điều bất lợi đối với việc cúng dường ngôi bảo tháp, quý vị hãy tách ly những kẻ ấy khỏi nơi đó.
BJT 523Và quý vị hãy nhìn xem các cô nàng đang đi đến, có mang tràng hoa, đã được trang điểm, các cô ấy hưởng thụ quả thành tựu về tràng hoa, có sự thành công, có danh tiếng.
BJT 524Và sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu, phi thường, khiến nổi da gà ấy, các bậc có trí tuệ thực hiện việc nghiêng mình đảnh lễ ngài, bậc đại hiền trí.
BJT 525Chắc chắn rằng chính tôi đây, sau khi đi khỏi nơi này, sau khi đạt được sự xuất thân thuộc loài người, sẽ thực hiện việc đảnh lễ ngôi bảo tháp, không bị xao lãng, lần này đến lần khác.”
Chuyện Ngạ Quỷ Do Chê Bai Xá-Lợi là thứ mười.
Tiểu Phẩm là thứ ba.
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY
Chuyện không làm (mặt) nước bị vỡ ra, vị Koṇḍañña, ở hồ Rathakāra, và với vỏ trấu, đứa bé trai, luôn cả cô kỹ nữ, hai người thợ săn, (nói xấu) sau lưng, cúng dường; bởi vậy phẩm được gọi tên thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Dhātuvivaṇṇapetavatthu
10. The Story of the Peta Who Disparaged Relics
10. Câu chuyện về ngạ quỷ phỉ báng (việc cúng dường) xá-lợi
‘‘Antalikkhasmiṃ tiṭṭhanto, duggandho pūti vāyasi;
Mukhañca te kimayo pūtigandhaṃ, khādanti kiṃ kammamakāsi pubbe.
Standing in the sky, you emit a foul, putrid stench, and worms devour your mouth, which reeks of putrefaction. What kamma did you perform in the past?
“Ngươi đang đứng giữa không trung, thân có mùi hôi thối, từ miệng tỏa ra mùi hôi. Miệng hôi thối của ngươi lại bị giòi bọ ăn. Ngươi đã làm nghiệp gì trong quá khứ?
‘‘Tato satthaṃ gahetvāna, okkantanti punappunaṃ;
Khārena paripphositvā, okkantanti punappunaṃ.
Then, taking a knife, they carve you up again and again. Having sprinkled you with a caustic substance, they carve you up again and again.
“Hơn nữa, (những người khác) cầm lấy vũ khí, cắt (miệng) ngươi nhiều lần. Sau khi rắc nước muối, họ lại cắt (miệng) ngươi nhiều lần.
510.
510.
510.
‘‘Ahaṃ rājagahe ramme, ramaṇīye giribbaje;
Issaro dhanadhaññassa, supahūtassa mārisa.
In charming Rājagaha, in delightful Giribbaja, I was a master of abundant wealth and grain, venerable sir.
“Thưa ngài, tại thành Rājagaha khả ái, thú vị, được bao bọc bởi núi non, tôi đã là chủ nhân của rất nhiều của cải và lúa gạo.
511.
511.
511.
‘‘Tassāyaṃ me bhariyā ca, dhītā ca suṇisā ca me;
Tā mālaṃ uppalañcāpi, paccagghañca vilepanaṃ;
Thūpaṃ harantiyo vāresiṃ, taṃ pāpaṃ pakataṃ mayā.
When this wife of mine, my daughter, and my daughter-in-law were carrying garlands, water lilies, and fresh unguent to the stūpa, I prevented them. That evil deed was done by me.
“Người vợ này, người con gái này, và người con dâu này của tôi, khi họ mang vòng hoa, hoa sen, và hương liệu mới đến bảo tháp (để cúng dường), tôi đã ngăn cản họ. Ác nghiệp đó đã được tôi làm.
512.
512.
512.
‘‘Chaḷāsītisahassāni, mayaṃ paccattavedanā;
Thūpapūjaṃ vivaṇṇetvā, paccāma niraye bhusaṃ.
We are eighty-six thousand who, having disparaged veneration of the stūpa, burn fiercely in a state of woe, each experiencing the torment individually.
“Chúng tôi, tám mươi sáu ngàn người, mỗi người đều cảm thọ nỗi khổ riêng, vì đã phỉ báng việc cúng dường bảo tháp, nên đang chịu đựng nỗi khổ cùng cực trong địa ngục.
513.
513.
513.
‘‘Ye ca kho thūpapūjāya, vattante arahato mahe;
Ādīnavaṃ pakāsenti, vivecayetha † ne tato.
And as for those who proclaim the faults of the great veneration of the Arahant's stūpa while it is taking place, you should make them desist from that.
“Khi lễ hội cúng dường bảo tháp của bậc A-la-hán đang diễn ra, những người nào tuyên bố sự nguy hại (của việc cúng dường), hãy làm cho họ tránh xa (ác nghiệp) đó.
514.
514.
514.
‘‘Imā ca passa āyantiyo, māladhārī alaṅkatā;
Mālāvipākaṃnubhontiyo †, samiddhā ca tā † yasassiniyo.
Behold these goddesses approaching, wearing garlands and adorned, enjoying the fruit of their offerings of garlands; they are prosperous and glorious.
“Và hãy nhìn những người nữ này đang đến, trang điểm bằng vòng hoa, trang sức lộng lẫy. Họ đang hưởng quả báo của việc cúng dường hoa, họ thành công, có danh tiếng và đoàn tùy tùng.
515.
515.
515.
‘‘Tañca disvāna accheraṃ, abbhutaṃ lomahaṃsanaṃ;
Namo karonti sappaññā, vandanti taṃ mahāmuniṃ.
And seeing that marvel, wonderful and hair-raising, the wise pay homage; they venerate that great sage.
Và khi thấy được (quả báo) kỳ diệu, phi thường, và dựng tóc gáy ấy, những người có trí tuệ đã thành kính đảnh lễ, đã cúi đầu trước vị Đại ẩn sĩ ấy.
516.
516.
516.
‘‘Sohaṃ nūna ito gantvā, yoniṃ laddhāna mānusiṃ;
Thūpapūjaṃ karissāmi, appamatto punappuna’’nti.
Surely, when I depart from here and obtain a human birth, I will venerate the stūpa, being heedful again and again.
Chắc chắn rằng, sau khi từ đây ra đi, và được tái sanh vào loài người, con sẽ không xao lãng, sẽ cúng dường bảo tháp nhiều lần.
Dhātuvivaṇṇapetavatthu dasamaṃ.
The tenth, the Story of the Peta Who Disparaged the Relics.
Câu chuyện ngạ quỷ chê bai xá lợi, thứ mười.
The Third Minor Chapter is concluded.
Phẩm Nhỏ, thứ ba, đã kết thúc.
Tassuddānaṃ –
The summary thereof:
Tóm lược phẩm ấy:
Abhijjamāno kuṇḍiyo †, rathakārī bhusena ca;
Kumāro gaṇikā ceva, dve luddā piṭṭhipūjanā;
Vaggo tena pavuccatīti.
Abhijjamāna, Kuṇḍiya, the Chariot-maker, and the one with Chaff; the Youth and the Courtesan, the two Hunters, the Back-eater, and the Veneration story. By these the chapter is named.
Abhijjamāna, Kuṇḍiya, Rathakārī, và Bhusa; Kumāra và Gaṇikā, hai người thợ săn, người ăn thịt lưng; do đó phẩm này được gọi tên.