Bản dịch
PV 33 — Chuyện Ngạ Quỷ Người Thợ Săn Thú thứ nhì
8. Dutiyamigaluddakapetavatthu
BJT 497“Ở ngôi nhà mái nhọn và ở tòa lâu đài, ở chiếc ghế dài được trải tấm thảm len lông dài, ngươi vui thích ở phần trình tấu khéo léo với năm loại nhạc cụ.
BJT 498Sau đó, vào lúc cuối đêm cho đến lúc mọc lên của mặt trời, ngươi bị thảy ra ở nơi nghĩa địa, trải nghiệm nhiều sự khổ đau.
BJT 499Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà ngươi lại trải nghiệm sự khổ đau này?”
BJT 500“Ở thành Rājagaha đáng yêu, nơi Giribbaja xinh xắn, tôi trước đây đã là người thợ săn thú rừng, và tôi đã là người thợ săn không tự kiềm chế.
BJT 501Tôi đây có người bạn tâm huyết là nam cư sĩ có đức tin. Vị tỳ khưu thường xuyên lui tới nhà của bạn ấy đã là Thinh Văn của đức Gotama.
BJT 502Trong khi thương xót đến tôi, bạn ấy cũng đã cản ngăn lần này đến lần khác: ‘Này bạn thân, bạn chớ tạo nghiệp ác, chớ đi đến cảnh giới khổ đau.
BJT 503Nếu bạn mong muốn sự an lạc sau khi chết, bạn hãy lánh xa việc giết hại mạng sống, việc không tự kiềm chế.’ Tôi đã lắng nghe lời nói của bạn ấy, người có lòng mong mỏi hạnh phúc, có lòng thương tưởng đến điều lợi ích (cho tôi).
BJT 504(Tuy nhiên) là người thích thú việc ác trong thời gian dài, không có sự sáng suốt, tôi đã không làm theo toàn bộ lời khuyên bảo. Vị (tỳ khưu) ấy, có trí thông minh bao la, vì lòng thương xót đã còn quy định thêm cho tôi về sự tự kiềm chế:
BJT 505‘Nếu đạo hữu giết hại các sanh mạng vào ban ngày, thì đạo hữu hãy có sự tự kiềm chế vào ban đêm.’ Tôi đây, sau khi giết chết các mạng sống vào ban ngày, đã lánh xa, đã tự kiềm chế vào ban đêm.
BJT 506(Giờ đây) vào ban đêm tôi hoàn toàn hài lòng, vào ban ngày tôi đi đến khổ cảnh, bị nhai nghiến. Do nghiệp thiện ấy, tôi hưởng thụ (dục lạc) không thuộc loài người vào ban đêm, vào ban ngày các con chó vừa mới bị đánh đập chạy đến gần (tôi) để nhai nghiến khắp mọi chỗ.
BJT 507Và những vị nào thường xuyên đeo đuổi, luôn luôn gắn bó vào lời dạy của đấng Thiện Thệ, tôi nghĩ rằng những người ấy chứng đắc trọn vẹn chính trạng thái Bất Tử, vị thế không bị tạo tác.”
Chuyện Ngạ Quỷ Người Thợ Săn Thú thứ nhì là thứ tám.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Tato ratyā vivasāne †, sūriyuggamanaṃ pati;
Apaviddho susānasmiṃ, bahudukkhaṃ nigacchasi.
Then, at the end of the night, towards sunrise, cast away in a charnel ground, you experience much suffering.
“Sau đó, khi đêm tàn, lúc mặt trời mọc, ngươi bị vất bỏ vào nghĩa địa, chịu đựng nhiều đau khổ.
490.
490.
490.
‘‘Kiṃ nu kāyena vācāya, manasā dukkaṭaṃ kataṃ;
Kissa kammavipākena, idaṃ dukkhaṃ nigacchasi’’.
What misdeed was done by you with body, speech, or mind? By the result of what kamma do you experience this suffering?
“Ngươi đã làm ác nghiệp gì bằng thân, khẩu, hay ý? Do quả báo của nghiệp nào mà ngươi phải chịu sự đau khổ này?”
491.
491.
491.
‘‘Ahaṃ rājagahe ramme, ramaṇīye giribbaje;
Migaluddo pure āsiṃ, luddo cāsimasaññato.
In delightful Rājagaha, in lovely Giribbaja, I was formerly a hunter; I was cruel and unrestrained.
“Trước đây, tại thành Rājagaha khả ái, thú vị, được bao bọc bởi núi non, tôi là một thợ săn, một kẻ tàn bạo và không tự chế.
492.
492.
492.
‘‘Tassa me sahāyo suhadayo, saddho āsi upāsako;
Tassa kulupako bhikkhu, āsi gotamasāvako;
Sopi maṃ anukampanto, nivāresi punappunaṃ.
I had a good-hearted friend, a faithful lay follower. A bhikkhu who frequented his family was a disciple of Gotama. He too, out of compassion for me, repeatedly restrained me.
“Tôi có một người bạn thân, một cận sự nam có tín tâm. Vị Tỳ-khưu thường đến nhà người ấy là đệ tử của đức Gotama. Vị ấy vì lòng bi mẫn đối với tôi, đã nhiều lần can ngăn.
493.
493.
493.
‘‘‘Mākāsi pāpakaṃ kammaṃ, mā tāta duggatiṃ agā;
Sace icchasi pecca sukhaṃ, virama pāṇavadhā asaṃyamā’.
‘Dear one, do not perform an evil deed; do not go to a woeful state. If you desire happiness after death, abstain from the unrestrained killing of living beings.’
“‘Này thí chủ, chớ làm ác nghiệp, chớ đi đến ác thú. Nếu ngươi mong muốn an lạc ở đời sau, hãy từ bỏ việc sát sanh do không tự chế’.
494.
494.
494.
‘‘Tassāhaṃ vacanaṃ sutvā, sukhakāmassa hitānukampino;
Nākāsiṃ sakalānusāsaniṃ, cirapāpābhirato abuddhimā.
Though I heard the words of him who desired my happiness and was compassionate for my welfare, being foolish and long delighting in evil, I did not follow his complete instruction.
“Dù đã nghe lời của vị ấy, người mong cầu an lạc và bi mẫn vì lợi ích, nhưng tôi, kẻ ưa thích điều ác lâu dài và không có trí tuệ, đã không làm theo toàn bộ lời giáo huấn.
495.
495.
495.
‘‘So maṃ puna bhūrisumedhaso, anukampāya saṃyame nivesayi;
‘Sace divā hanasi pāṇino, atha te rattiṃ bhavatu saṃyamo’.
That one of vast and excellent wisdom, out of compassion, again established me in restraint, saying: ‘If you kill living beings by day, then at night, let there be restraint for you.’
“Vị ấy, người có trí tuệ rộng lớn, vì lòng bi mẫn lại khiến tôi an trú trong sự tự chế: ‘Nếu ban ngày ngươi giết hại chúng sanh, thì ban đêm ngươi hãy tự chế’.
496.
496.
496.
‘‘Svāhaṃ divā hanitvā pāṇino, virato rattimahosi saññato;
Rattāhaṃ paricāremi, divā khajjāmi duggato.
I, having killed living beings by day, was abstinent and restrained at night. At night I am attended upon; by day, being wretched, I am devoured by dogs.
“Tôi đó, ban ngày giết hại chúng sanh, ban đêm thì từ bỏ, trở nên tự chế. Ban đêm tôi được hầu hạ, ban ngày tôi gặp khổ, bị (chó) ăn thịt.
497.
497.
497.
‘‘Tassa kammassa kusalassa, anubhomi rattiṃ amānusiṃ;
Divā paṭihatāva kukkurā, upadhāvanti samantā khādituṃ.
As the result of that wholesome kamma, at night I experience non-human bliss. By day, however, dogs, as if bearing a grudge, rush up from all around to devour me.
“Do quả báo của thiện nghiệp đó, ban đêm tôi hưởng thụ (sự an lạc) phi nhân. Ban ngày, những con chó như thể có lòng oán hận, từ mọi phía chạy đến để ăn thịt.
498.
498.
498.
‘‘Ye ca te satatānuyogino, dhuvaṃ payuttā † sugatassa sāsane;
Maññāmi te amatameva kevalaṃ, adhigacchanti padaṃ asaṅkhata’’nti.
But those who are constantly dedicated, steadfastly committed in the Dispensation of the Sugata, I think they attain the Deathless itself, the unconditioned state.
“Còn những ai có sự tinh tấn liên tục, nỗ lực vững chắc trong giáo pháp của bậc Thiện Thệ, tôi nghĩ rằng họ chỉ chứng đắc trạng thái bất tử, vô vi, chính là Niết-bàn’.”
Dutiyamigaluddakapetavatthu aṭṭhamaṃ.
The Second Story of the Hunter Peta, the Eighth.
Câu chuyện về ngạ quỷ thợ săn thứ hai, phẩm thứ tám.