Bản dịch
PV 32 — Chuyện Ngạ Quỷ Người Thợ Săn Thú
7. Migaluddakapetavatthu
BJT 487“Đang tuổi thanh xuân, được tôn vinh bởi các người nam người nữ, ngươi chói sáng với các loại dục lạc vào ban đêm, và chịu đựng khổ hình vào ban ngày; ngươi đã làm việc gì trong kiếp sống trước dây?”
BJT 488“Ở thành Rājagaha đáng yêu, nơi Giribbaja xinh xắn, tôi trước đây đã là người thợ săn tàn bạo, có bàn tay vấy máu.
BJT 489Có tâm ý độc ác đối với các loài sinh vật không gây hại, đối với các chúng sanh thông thường, khi ấy tôi đã đi đó đây, vô cùng tàn bạo, thích thú trong việc hãm hại kẻ khác, không tự kiềm chế.
BJT 490Tôi đây có người bạn tâm huyết là nam cư sĩ có đức tin. Trong khi thương xót đến tôi, vị ấy cũng đã cản ngăn lần này đến lần khác:
BJT 491‘Này bạn thân, bạn chớ tạo nghiệp ác, chớ đi đến cảnh giới khổ đau. Nếu bạn mong muốn sự an lạc sau khi chết, bạn hãy lánh xa việc giết hại mạng sống, việc không tự kiềm chế.’
BJT 492Sau khi lắng nghe lời nói của vị ấy, người có lòng mong mỏi hạnh phúc, có lòng thương tưởng đến điều lợi ích (cho tôi), (tuy nhiên) là người thích thú việc ác trong thời gian dài, không có sự sáng suốt, tôi đã không làm theo toàn bộ lời khuyên bảo.
BJT 493Vị ấy, có trí thông minh bao la, vì lòng thương xót đã quy định thêm cho tôi về sự tự kiềm chế: ‘Nếu bạn giết hại các sanh mạng vào ban ngày, thì bạn hãy có sự tự kiềm chế vào ban đêm.’
BJT 494Tôi đây, sau khi giết chết các mạng sống vào ban ngày, đã lánh xa, đã tự kiềm chế vào ban đêm. (Giờ đây) vào ban đêm tôi hoàn toàn hài lòng, vào ban ngày tôi đi đến khổ cảnh, bị nhai nghiến.
BJT 495Do nghiệp thiện ấy, tôi hưởng thụ (dục lạc) không thuộc loài người vào ban đêm, vào ban ngày các con chó vừa mới bị đánh đập chạy đến gần (tôi) để nhai nghiến khắp mọi chỗ.
BJT 496Và những vị nào thường xuyên đeo đuổi, luôn luôn gắn bó vào lời dạy của đấng Thiện Thệ, tôi nghĩ rằng những người ấy chứng đắc trọn vẹn chính trạng thái Bất Tử, vị thế không còn tạo tác.”
Chuyện Ngạ Quỷ Người Thợ Săn Thú là thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Migaluddakapetavatthu
7. The Story of the Deer-Hunter Peta
7. Câu chuyện ngạ quỷ thợ săn
478.
478.
478.
‘‘Naranāripurakkhato yuvā, rajanīyehi kāmaguṇehi † sobhasi;
Divasaṃ anubhosi kāraṇaṃ, kimakāsi purimāya jātiyā’’ti.
“O youth, surrounded by men and women at night, you shine with delightful sensual pleasures. By day, you experience torment. What deed did you perform in a former birth?”
“Này chàng trai trẻ, được nam nữ vây quanh, ngươi tỏa sáng với những dục lạc đáng say đắm. Nhưng ban ngày, ngươi lại phải chịu cực hình. Ngươi đã làm nghiệp gì trong kiếp trước?”
479.
479.
479.
‘‘Ahaṃ rājagahe ramme, ramaṇīye giribbaje;
Migaluddo pure āsiṃ, lohitapāṇi dāruṇo.
“In delightful Rājagaha, in lovely Giribbaja, I was formerly a deer hunter, cruel and with blood-stained hands.
“Trước đây, tại thành Rājagaha khả ái, trong vùng Giribbaja xinh đẹp, tôi là một thợ săn, một kẻ tàn bạo với bàn tay vấy máu.
480.
480.
480.
‘‘Avirodhakaresu pāṇisu, puthusattesu paduṭṭhamānaso;
Vicariṃ atidāruṇo sadā †, parahiṃsāya rato asaññato.
With a malevolent mind toward harmless living beings and many creatures, I always wandered about, extremely cruel, delighting in harming others, unrestrained.
“Đối với các loài chúng sanh không làm hại ai, đối với vô số sinh vật, tôi có tâm ác độc. Tôi luôn đi lang thang, cực kỳ tàn bạo, thích thú trong việc hãm hại kẻ khác, và không tự chế.
481.
481.
481.
‘‘Tassa me sahāyo suhadayo †, saddho āsi upāsako;
Sopi † maṃ anukampanto, nivāresi punappunaṃ.
I had a good-hearted friend, a faithful lay follower. He, out of compassion for me, repeatedly restrained me.
“Tôi có một người bạn, một người thiện tâm, một vị cận sự nam có đức tin. Với lòng bi mẫn, vị ấy đã nhiều lần can ngăn tôi.
482.
482.
482.
‘‘‘Mākāsi pāpakaṃ kammaṃ, mā tāta duggatiṃ agā;
Sace icchasi pecca sukhaṃ, virama pāṇavadhā asaṃyamā’.
‘Dear one, do not perform an evil deed; do not go to a woeful state. If you desire happiness after death, abstain from the unrestrained killing of living beings.’
“‘Này bạn, đừng làm nghiệp ác, đừng đi đến khổ cảnh. Nếu bạn mong muốn hạnh phúc sau khi chết, hãy từ bỏ việc sát sanh, từ bỏ sự không tự chế.’
483.
483.
483.
‘‘Tassāhaṃ vacanaṃ sutvā, sukhakāmassa hitānukampino;
Nākāsiṃ sakalānusāsaniṃ, cirapāpābhirato abuddhimā.
Though I heard the words of him who desired my happiness and was compassionate for my welfare, being foolish and long delighting in evil, I did not follow his complete instruction.
“Dù đã nghe lời của vị ấy, người mong cầu hạnh phúc và lợi ích cho tôi, nhưng tôi, kẻ ngu si, đã không làm theo toàn bộ lời chỉ dạy, vì đã lâu ngày ưa thích điều ác.
484.
484.
484.
‘‘So maṃ puna bhūrisumedhaso, anukampāya saṃyame nivesayi;
‘Sace divā hanasi pāṇino, atha te rattiṃ bhavatu saṃyamo’.
That one of vast and excellent wisdom, out of compassion, again established me in restraint, saying: ‘If you kill living beings by day, then at night, let there be restraint for you.’
“Vị ấy, người có trí tuệ rộng lớn, lại một lần nữa với lòng bi mẫn đã khuyên tôi thực hành sự tự chế: ‘Nếu ban ngày ngươi sát sanh, thì ban đêm hãy thực hành sự tự chế.’
485.
485.
485.
‘‘Svāhaṃ divā hanitvā pāṇino, virato rattimahosi saññato;
Rattāhaṃ paricāremi, divā khajjāmi duggato.
I, having killed living beings by day, was abstinent and restrained at night. At night I am attended upon; by day, being wretched, I am devoured by dogs.
“Tôi, sau khi sát sanh vào ban ngày, đã từ bỏ và tự chế vào ban đêm. Ban đêm tôi được hưởng thụ, còn ban ngày tôi bị ăn thịt trong cảnh khổ.
486.
486.
486.
‘‘Tassa kammassa kusalassa, anubhomi rattiṃ amānusiṃ;
Divā paṭihatāva † kukkurā, upadhāvanti samantā khādituṃ.
As the result of that wholesome kamma, at night I experience non-human bliss. By day, however, dogs, as if bearing a grudge, rush up from all around to devour me.
“Do nghiệp thiện đó, ban đêm tôi hưởng thụ cảnh giới phi nhân. Ban ngày, những con chó như kẻ thù chạy đến từ khắp nơi để ăn thịt tôi.
487.
487.
487.
‘‘Ye ca te satatānuyogino, dhuvaṃ payuttā sugatassa sāsane;
Maññāmi te amatameva kevalaṃ, adhigacchanti padaṃ asaṅkhata’’nti.
But those who are constantly dedicated, steadfastly committed in the Dispensation of the Sugata, I think they attain the Deathless itself, the unconditioned state.
“Những ai luôn luôn nỗ lực, kiên trì tinh tấn trong giáo pháp của bậc Thiện Thệ, tôi nghĩ rằng họ chắc chắn sẽ đạt đến trạng thái bất tử, vô vi, thuần tịnh.”
Migaluddakapetavatthu sattamaṃ.
The Story of the Hunter Peta, the Seventh.
Câu chuyện ngạ quỷ thợ săn, phẩm thứ bảy.
8. Dutiyamigaluddakapetavatthu
8. The Second Story of the Deer-Hunter Peta
8. Câu chuyện ngạ quỷ thợ săn thứ hai
488.
488.
488.
‘‘Kūṭāgāre ca pāsāde, pallaṅke gonakatthate;
Pañcaṅgikena turiyena, ramasi suppavādite.
8. In a gabled chamber and a palace, on a couch with a long-fleeced cover, you delight in the well-played five-fold music.
“Trong lâu đài có đỉnh nhọn, trên chiếc giường trải thảm lông, ngươi vui hưởng với dàn nhạc năm loại được hòa tấu tuyệt vời.
489.
489.
489.