Bản dịch
PV 30 — Chuyện Ngạ Quỷ về Đứa Bé Trai
5. Kumārapetavatthu
BJT 460Trí tuệ của đấng Thiện Thệ có bản chất kỳ diệu, bậc Đạo Sư đã giải thích theo từng cá nhân: Mặc dầu có phước báu dồi dào, nhiều người trở thành (hạ liệt), mặc dầu có phước báu ít ỏi, nhiều ngưởi trở thành (cao quý).
BJT 461Đứa bé trai này, bị quăng bỏ ở bãi tha ma, đã được nuôi dưỡng ban đêm nhờ vào dịch chất từ ngón tay. Dạ-xoa và quỷ sứ hay là các loài bò sát không thể quấy nhiễu đứa bé trai là người có phước báu đã tạo.
BJT 462Ngay cả các con chó còn liếm hai bàn chân của đứa bé này, các con quạ, các con chó rừng di chuyển xung quanh, các bầy chim mang đi chất nhơ của bào thai, còn các con quạ lấy đi ghèn ở mắt.
BJT 463Đối với đứa bé này, đã không có bất cứ người nào sắp xếp việc bảo vệ, việc thuốc men, hay là việc xông khói mù-tạt, cũng đã không xác định sự liên hệ với các vì tinh tú, cũng đã không rải rắc tất cả các loại hạt.
BJT 464(Đứa bé đã) bị rơi vào trường hợp cực kỳ khó khăn như thế ấy, bị đem đi vào ban đêm, bị quăng bỏ ở bãi tha ma, trong khi run rẩy tựa như miếng bơ tươi, phần còn lại của mạng sống là điều hoài nghi.
BJT 465Bậc được tôn vinh bởi chư Thiên và nhân loại đã nhìn thấy đứa bé ấy. Và sau khi nhìn thấy, đấng có tuệ bao la đã tiên tri về đứa bé rằng: ‘Nhờ vào tài sản, đứa bé trai này sẽ là người thuộc gia tộc tột đỉnh của thành phố này.”
BJT 466“Đứa bé có sự hành trì gì, thêm nữa có hạnh kiểm cao đẹp gì, quả thành tựu này là của việc thực hành gì mà sau khi nhận chịu sự bất hạnh như thế này lại sẽ được hưởng thụ sự thành công như thế ấy?”
BJT 467“Mọi người đã thực hiện việc cúng dường cao sang đến Hội Chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu, tâm của đứa bé này đã có quan điểm khác về sự việc ấy, nó đã nói lời thô lỗ, không lễ độ.
BJT 468Sau khi đã xua đi tư tưởng ấy, sau khi đã đạt lại được niềm vui và sự tin tưởng, sau đó đứa bé ấy đã phục vụ cháo bảy ngày đến đức Như Lai trong khi Ngài ngự tại Jetavana.
BJT 469Đứa bé có sự hành trì ấy, thêm nữa có hạnh kiểm cao đẹp ấy, quả thành tựu này là của việc thực hành ấy khiến sau khi nhận chịu sự bất hạnh như thế này thì sẽ hưởng thụ sự thành công như thế ấy.
BJT 470Đứa bé ấy, sau khi tồn tại ngay ở nơi này một trăm năm, được đầy đủ với tất cả các dục, do sự tan rã của thân xác, vào kiếp sống kế tiếp (sẽ) đi đến sự cộng trú với (Thiên Chủ) Vāsava.”
Chuyện Ngạ Quỷ về Đứa Bé Trai là thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Kumārapetavatthu
5. The Story of the Boy-Peta
5. Câu chuyện ngạ quỷ hài nhi
453.
453.
453.
Accherarūpaṃ sugatassa ñāṇaṃ, satthā yathā puggalaṃ byākāsi;
Ussannapuññāpi bhavanti heke, parittapuññāpi bhavanti heke.
5. Wondrous is the nature of the Sugata's knowledge, how the Teacher made a declaration concerning a person. Some, indeed, have abundant merit, while others have little merit.
Thật là kỳ diệu thay trí tuệ của bậc Thiện Thệ! Vị Đạo Sư đã thọ ký về cá nhân như thế nào (thì sự việc xảy ra đúng như thế). Có một số chúng sanh có nhiều phước đức, cũng có một số chúng sanh có ít phước đức.
454.
454.
454.
Ayaṃ kumāro sīvathikāya chaḍḍito, aṅguṭṭhasnehena yāpeti rattiṃ;
Na yakkhabhūtā na sarīsapā † vā, viheṭhayeyyuṃ katapuññaṃ kumāraṃ.
This boy, cast away in a charnel ground, is sustained through the night by the moisture from his thumb. Neither yakkhas, spirits, nor crawling creatures would harm a boy who has made merit.
Đứa bé này bị vứt bỏ ở nghĩa địa, đã sống qua đêm nhờ vào chất nhờn từ ngón tay cái. Các dạ xoa, các loài ma quỷ, hay các loài bò sát đã không hãm hại đứa bé đã tạo phước.
455.
455.
455.
Sunakhāpimassa palihiṃsu pāde, dhaṅkā siṅgālā † parivattayanti;
Gabbhāsayaṃ pakkhigaṇā haranti, kākā pana akkhimalaṃ haranti.
Dogs licked his feet; crows and jackals circled around. Flocks of birds carried away the afterbirth, while crows, for their part, carried away the dirt from his eyes.
Cả những con chó cũng đã liếm chân của đứa bé này, các con quạ, các con chó rừng đi vòng quanh. Bầy chim đã mang đi nhau thai, còn các con quạ thì mang đi ghèn mắt.
456.
456.
456.
Nayimassa † rakkhaṃ vidahiṃsu keci, na osadhaṃ sāsapadhūpanaṃ vā;
Nakkhattayogampi na aggahesuṃ †, na sabbadhaññānipi ākiriṃsu.
No one arranged any protection for him, nor medicine or fumigation with mustard seeds. They did not determine the conjunction of the constellations for him, nor did they scatter all kinds of grain.
Không một ai đã sắp đặt việc bảo vệ cho đứa bé này, không thuốc men hay việc xông khói bằng hạt cải. Họ cũng không ghi nhận sự hội tụ của các vì sao, cũng không rải các loại ngũ cốc.
457.
457.
457.
Etādisaṃ uttamakicchapattaṃ, rattābhataṃ sīvathikāya chaḍḍitaṃ;
Nonītapiṇḍaṃva pavedhamānaṃ, sasaṃsayaṃ jīvitasāvasesaṃ.
Having reached such an extreme plight, brought at night and cast away in the charnel ground, trembling like a ball of fresh butter, with only a doubtful remnant of life.
(Đứa bé) đã đạt đến sự khốn khổ tột cùng như thế, được mang đi ban đêm và bị vứt bỏ ở nghĩa địa, đang run rẩy như một cục bơ tươi, mạng sống còn lại trong sự hoài nghi.
458.
458.
458.
Tamaddasā devamanussapūjito, disvā ca taṃ byākari bhūripañño;
‘‘Ayaṃ kumāro nagarassimassa, aggakuliko bhavissati bhogato ca’’ †.
The one worshipped by devas and humans saw him, and having seen him, the one of vast wisdom declared: ‘This boy will become of the foremost family in this city, and possessed of great wealth.’
Vị được chư thiên và nhân loại tôn kính, bậc có trí tuệ rộng lớn, đã nhìn thấy đứa bé ấy. Và sau khi nhìn thấy, Ngài đã thọ ký rằng: ‘Đứa bé này sẽ là người thuộc gia tộc hàng đầu của thành phố này và sẽ có nhiều tài sản’.
459.
459.
459.
‘‘Kissa † vataṃ kiṃ pana brahmacariyaṃ, kissa suciṇṇassa ayaṃ vipāko;
Etādisaṃ byasanaṃ pāpuṇitvā, taṃ tādisaṃ paccanubhossatiddhi’’nti.
‘What was his observance? What his holy life? Of what well-practiced deed is this the result, that having met with such a disaster, he will experience such power?’
Do hạnh nguyện nào, do phạm hạnh nào, do sự thực hành tốt đẹp nào mà có quả báo này? Sau khi đã gặp phải tai họa như thế, (đứa bé) sẽ được trải nghiệm thần thông như thế ấy.
460.
460.
460.
Buddhapamukhassa bhikkhusaṅghassa, pūjaṃ akāsi janatā uḷāraṃ;
Tatrassa cittassahu aññathattaṃ, vācaṃ abhāsi pharusaṃ asabbhaṃ.
The populace made a magnificent offering to the Sangha of bhikkhus with the Buddha at its head. There, a change occurred in his mind, and he uttered harsh and ignoble speech.
Đám đông đã thực hiện sự cúng dường to lớn đến Tăng chúng với đức Phật là vị dẫn đầu. Ở đó, tâm của đứa bé này đã trở nên khác thường, nó đã thốt ra lời nói thô lỗ, không xứng đáng.
461.
461.
461.
So taṃ vitakkaṃ pavinodayitvā, pītiṃ pasādaṃ paṭiladdhā pacchā;
Tathāgataṃ jetavane vasantaṃ, yāguyā upaṭṭhāsi sattarattaṃ.
Having dispelled that thought, he afterwards regained joy and confidence. For seven nights he attended upon the Tathāgata, who was dwelling in Jetavana, with rice-gruel.
Người ấy, sau khi đã xua tan đi tầm tư ấy, về sau đã lấy lại được hỷ và tín. Người ấy đã phục vụ đức Như Lai, đang trú tại Jetavana, bằng cháo trong bảy đêm liền.
462.
462.
462.
Tassa † vataṃ taṃ pana brahmacariyaṃ, tassa suciṇṇassa ayaṃ vipāko;
Etādisaṃ byasanaṃ pāpuṇitvā, taṃ tādisaṃ paccanubhossatiddhiṃ.
That was his observance, that his holy life; this is the result of that well-practiced deed. Having met with such a disaster, he will experience such power.
Đó là hạnh nguyện của người ấy, đó là phạm hạnh. Đây là quả báo của sự thực hành tốt đẹp của người ấy. Sau khi đã gặp phải tai họa như thế, (đứa bé) sẽ được trải nghiệm thần thông như thế ấy.
463.
463.
463.
Ṭhatvāna so vassasataṃ idheva, sabbehi kāmehi samaṅgibhūto;
Kāyassa bhedā abhisamparāyaṃ, sahabyataṃ gacchati vāsavassāti.
Having remained here for a hundred years, endowed with all sensual pleasures, at the breaking up of the body, in the life to come, he will go to the companionship of Vāsava.
Sau khi sống ở đây một trăm năm, được hội đủ tất cả các dục lạc, sau khi thân hoại, ở đời sau, người ấy sẽ đi đến làm bạn đồng hành của Vāsava (vua trời Đế Thích).
Kumārapetavatthu pañcamaṃ.
The Fifth Story: The Boy Peta.
Câu chuyện ngạ quỷ hài nhi, phần thứ năm.