Bản dịch
PV 27 — Chuyện Ngạ Quỷ ở Núi Sānuvāsī
2. Sāṇavāsītherapetavatthu
BJT 413Vị trưởng lão của thành phố Kuṇḍi có sự cư ngụ ở núi Sānuvāsī, có tên là Poṭṭhapāda, là vị Sa-môn có giác quan đã được tu tập.
BJT 414Mẹ, cha, em trai của vị ấy bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây họ đã đi đến thế giới ngạ quỷ.
BJT 415Họ bị đọa đày, bị khổ sở như kim chích, lõa lồ, gầy guộc. Trong khi sợ hãi, có nỗi sợ hãi lớn lao, có nghiệp ghê rợn, họ không hiện hình cho thấy.
BJT 416Người em trai của vị ấy, lõa lồ, một mình trên lối đi bộ, quỳ chống hai tay, đã vội vã tiến đến và hiện hình ra cho vị trưởng lão nhìn thấy.
BJT 417Và vị trưởng lão không để ý đến, có trạng thái im lặng, đã bước đi. Và người ấy đã cho vị trưởng lão biết rằng: ‘Tôi là em trai, đã trở thành ngạ quỷ.
BJT 418Thưa ngài, mẹ và cha của ngài bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây họ đã đi đến thế giới ngạ quỷ.
BJT 419Họ bị đọa đày, bị khổ sở như kim chích, lõa lồ, gầy guộc. Trong khi sợ sệt, có nỗi sợ hãi lớn lao, có nghiệp ghê rợn, họ không hiện hình cho thấy.
BJT 420Là người có lòng bi mẫn, xin ngài hãy thương xót. Xin ngài hãy bố thí rồi chỉ định (việc ấy là) dành cho chúng tôi. Nhờ vào vật thí đã được ngài bố thí, những kẻ có nghiệp ghê rợn sẽ được nuôi sống.’
BJT 421Sau khi đi khất thực, vị trưởng lão và mười hai vị tỳ khưu khác nữa đã tụ tập tại một chỗ với lý do phân chia vật thực.
BJT 422Vị trưởng lão đã nói với toàn bộ tất cả các vị ấy rằng: ‘Xin các vị hãy cho tôi phần đã nhận được, tôi sẽ thực hiện bữa ăn dâng đến Hội Chúng, vì lòng thương xót các thân quyến.’
BJT 423Các vị đã trao cho vị trưởng lão. Vị trưởng lão đã thỉnh mời hội chúng. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:
BJT 424‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định thì vật thực đã được sanh lên ngay lập tức.
BJT 425(Vật thực) là sạch sẽ, hảo hạng, được đầy đủ, có nước xúp với nhiều gia vị. Kế đó, người em trai đã hiện ra, có sắc vóc, có sức mạnh, có sự an lạc.
BJT 426‘Thưa ngài, có nhiều thức ăn rồi. Xin ngài hãy nhìn xem chúng tôi bị lõa lồ. Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được vải vóc.’
BJT 427Sau khi góp nhặt những mảnh vải rách từ nơi đống rác, vị trưởng lão đã chế biến vải vụn thành y phục rồi dâng đến Hội Chúng bốn phương.
BJT 428Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai: ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’
BJT 429Khi được chỉ định thì các vải mặc đã được sanh lên ngay lập tức. Kế đó, được mặc vải đẹp, (người em trai) đã hiện thân ra cho vị trưởng lão nhìn thấy.
BJT 430‘Thưa ngài, các vải vóc ở lãnh thổ của đức vua Nanda nhiều chừng nào, thì các vải vóc và các y phục của chúng tôi còn nhiều hơn thế ấy.
BJT 431Chúng bằng tơ lụa, sợi len, sợi lanh, và bông vải. Chúng dư thừa và có trị giá cao, hơn nữa chúng treo lủng lẳng ở không trung.
BJT 432Chúng tôi đây chỉ khoác vào cái nào thích ý. Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được nhà ở.’
BJT 433Sau khi làm cái cốc bằng lá, vị trưởng lão đã dâng đến Hội Chúng bốn phương. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:
BJT 434‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định thì các ngôi nhà đã được sanh lên ngay lập tức.
BJT 435Những ngôi nhà mái nhọn và các chỗ ngụ là được phân chia thành từng phần cân xứng. Các ngôi nhà của chúng tôi ở nơi đây như thế nào thì ở loài người không giống như thế này.
BJT 436Ở các cõi Trời như thế nào thì các ngôi nhà của chúng tôi ở nơi đây giống như thế ấy. Trong lúc tỏa sáng rực rỡ, chúng chiếu sáng bốn phương ở xung quanh.
BJT 437‘Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được nước uống.’ Sau khi làm đầy bình đựng nước, vị trưởng lão đã dâng đến Hội Chúng bốn phương.
BJT 438Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai: ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’
BJT 439Khi được chỉ định thì nước uống đã được sanh lên ngay lập tức. Có các hồ sen sâu thẳm, hình chữ nhật, đã khéo được hóa hiện ra.
BJT 440Có nước trong, có những bến bãi xinh đẹp, mát mẻ, có mùi thơm, được che phủ bởi nhiều loại sen hồng và sen xanh, tràn ngập nước và phấn hoa.
BJT 441Sau khi tắm và uống nước ở nơi ấy, họ đã xuất hiện cho vị trưởng lão thấy (nói rằng): ‘Thưa ngài, có nhiều nước uống rồi. Các bàn chân của chúng tôi bị nứt nẻ đau đớn.
BJT 442Trong khi lang thang, chúng tôi đi khập khiễng ở nơi sỏi đá, ở gai nhọn của cỏ kusa. Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được phương tiện di chuyển.’
BJT 443Sau khi nhận được chiếc giày, vị trưởng lão đã dâng đến Hội Chúng bốn phương. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:
BJT 444‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định thì ngay lập tức các ngạ quỷ đã đi đến bằng cỗ xe.
BJT 445‘Thưa ngài đại đức, chúng tôi đã được thương xót với vật thực, với y phục, với ngôi nhà, với sự bố thí nước uống, với sự bố thí phương tiện di chuyển, và cả hai. Thưa ngài, chúng tôi đi đến để đảnh lễ bậc hiền trí, đấng bi mẫn ở thế gian.’
Chuyện Ngạ Quỷ ở Núi Sānuvāsī là thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Sāṇavāsītherapetavatthu
2. The Story of the Peta and the Elder Sāṇavāsī
2. Câu chuyện về ngạ quỷ của Trưởng lão Sāṇavāsī
408.
408.
408.
Kuṇḍināgariyo thero, sāṇavāsi † nivāsiko;
Poṭṭhapādoti nāmena, samaṇo bhāvitindriyo.
An elder from the city of Kuṇḍi, a resident of Sāṇavāsa, an ascetic named Poṭṭhapāda, was one whose spiritual faculties were developed.
Vị Trưởng lão người thành Kuṇḍi, trú tại Sāṇavāsi, tên là Poṭṭhapāda, là một vị Sa-môn có các căn đã được tu tập.
409.
409.
409.
Tassa mātā pitā bhātā, duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṃ karitvāna, petalokaṃ ito gatā.
His mother, father, and brother, having gone to a woeful state, belonged to the world of Yama; having done evil deeds, they had passed from this world to the realm of petas.
Mẹ, cha, và anh của vị ấy, đã rơi vào khổ cảnh, thuộc về thế giới của Yama. Sau khi đã làm ác nghiệp, họ đã đi từ đây đến thế giới ngạ quỷ.
410.
410.
410.
Te duggatā sūcikaṭṭā, kilantā naggino kisā;
Uttasantā † mahattāsā †, na dassenti kurūrino †.
Those cruel ones in that woeful state were tormented by piercing hunger, weary, naked, and emaciated; terrified and with great fear, they did not show themselves.
Họ ở trong khổ cảnh, bị đói khát hành hạ, mệt mỏi, lõa thể, gầy còm. Do kinh hãi, vô cùng sợ sệt, và do hung dữ, họ đã không hiện hình.
411.
411.
411.
Tassa bhātā vitaritvā, naggo ekapathekako;
Catukuṇḍiko bhavitvāna, therassa dassayītumaṃ.
His brother, having overcome his fear, naked and alone on a narrow path, crawling on all fours, showed himself to the elder.
Người anh của vị ấy, sau khi vượt qua sự sợ hãi, đã lõa thể, một mình trên con đường mòn, đi bằng bốn chi, và đã hiện mình ra cho vị Trưởng lão.
412.
412.
412.
Thero cāmanasikatvā, tuṇhībhūto atikkami;
So ca viññāpayī theraṃ, ‘bhātā petagato ahaṃ’.
The elder, however, not paying attention, passed by in silence. But that peta informed the elder: ‘I am your brother, who has gone to the peta-state.’
Vị Trưởng lão, do không tác ý, đã im lặng đi qua. Và ngạ quỷ ấy đã thưa với vị Trưởng lão rằng: “Tôi là anh của ngài, đã sanh làm ngạ quỷ.”
413.
413.
413.
‘‘Mātā pitā ca te bhante, duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṃ karitvāna, petalokaṃ ito gatā.
‘Venerable sir, your mother and father, having gone to a woeful state, belong to the world of Yama; having done evil deeds, they have passed from this world to the realm of petas.’
“Kính bạch ngài, mẹ và cha của ngài đang ở trong khổ cảnh, thuộc về thế giới của Yama. Sau khi đã làm ác nghiệp, họ đã đi từ đây đến thế giới ngạ quỷ.”
414.
414.
414.
‘‘Te duggatā sūcikaṭṭā, kilantā naggino kisā;
Uttasantā mahattāsā, na dassenti kurūrino.
‘Those cruel ones in that woeful state are tormented by piercing hunger, weary, naked, and emaciated; terrified and with great fear, they do not show themselves.
“Họ ở trong khổ cảnh, bị đói khát hành hạ, mệt mỏi, lõa thể, gầy còm. Do kinh hãi, vô cùng sợ sệt, và do hung dữ, họ đã không hiện hình.”
415.
415.
415.
‘‘Anukampassu kāruṇiko, datvā anvādisāhi no;
Tava dinnena dānena, yāpessanti kurūrino’’ti.
‘O compassionate one, have compassion on us! Having given a gift, dedicate the merit to us. By the gift given by you, we cruel ones will be able to sustain ourselves.’
“Bậc từ bi, xin hãy thương xót, sau khi bố thí, xin hãy hồi hướng cho chúng con. Với vật thí do ngài đã cho, những người tàn ác sẽ được nuôi sống.”
416.
416.
416.
Thero caritvā piṇḍāya, bhikkhū aññe ca dvādasa;
Ekajjhaṃ sannipatiṃsu, bhattavissaggakāraṇā.
The elder, having gone for alms-food, and twelve other monks, assembled together for the purpose of the meal.
Vị trưởng lão và mười hai vị tỳ-khưu khác, sau khi đi khất thực, đã tụ họp lại cùng nhau vì lý do vật thực.
417.
417.
417.
Thero sabbeva te āha, ‘‘yathāladdhaṃ dadātha me;
Saṅghabhattaṃ karissāmi, anukampāya ñātinaṃ’’.
The elder said to all of them: ‘Give me whatever you have received. I will make an offering of food to the Sangha out of compassion for my relatives.’
Vị trưởng lão nói với tất cả các vị ấy: “Xin hãy cho tôi những gì quý vị đã nhận được. Tôi sẽ làm một bữa cúng dường đến Tăng đoàn vì lòng thương xót các quyến thuộc của tôi.”
418.
418.
418.
Niyyādayiṃsu therassa, thero saṅghaṃ nimantayi;
Datvā anvādisi thero, mātu pitu ca bhātuno;
‘‘Idaṃ me ñātīnaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo’’.
They handed over their alms to the elder. The elder invited the Sangha. Having given, the elder dedicated the merit to his mother, father, and brother: ‘May this be for my relatives! May my relatives be happy!’
Họ đã trao cho vị trưởng lão. Vị trưởng lão đã mời Tăng đoàn. Sau khi cúng dường, vị trưởng lão hồi hướng cho mẹ, cha, và anh trai: “Nguyện cho vật thí này đến các quyến thuộc của tôi. Nguyện cho các quyến thuộc được an lạc.”
419.
419.
419.
Samanantarānuddiṭṭhe, bhojanaṃ udapajjatha;
Suciṃ paṇītaṃ sampannaṃ, anekarasabyañjanaṃ.
Immediately upon the dedication of merit, food arose: pure, excellent, and perfect, with curries of various flavors.
Ngay sau khi được hồi hướng, vật thực đã hiện ra, thanh tịnh, cao quý, đầy đủ, với các món ăn nhiều hương vị.
420.
420.
420.
Tato uddassayī † bhātā, vaṇṇavā balavā sukhī;
‘‘Pahūtaṃ bhojanaṃ bhante, passa naggāmhase mayaṃ;
Tathā bhante parakkama, yathā vatthaṃ labhāmase’’ti.
Then his brother showed himself, handsome, strong, and happy, and said: ‘Venerable sir, there is abundant food, but see, we are naked. Venerable sir, please strive so that we may obtain clothing.’
Sau đó, người anh trai, xinh đẹp, mạnh mẽ, và an lạc, đã hiện thân và nói: “Kính bạch ngài, vật thực thì dồi dào, nhưng xin hãy nhìn xem, chúng con đang trần truồng. Kính bạch ngài, xin hãy cố gắng để chúng con có thể nhận được y phục.”
421.
421.
421.
Thero saṅkārakūṭamhā, uccinitvāna nantake;
Pilotikaṃ paṭaṃ katvā, saṅghe cātuddise adā.
The elder, having collected coarse cloths from a rubbish heap and made them into a robe of rags, gave it to the Sangha of the four quarters.
Vị trưởng lão, sau khi nhặt những mảnh vải vụn từ đống rác, làm thành một tấm y bằng vải vụn, rồi cúng dường đến Tăng đoàn bốn phương.
422.
422.
422.
Datvā anvādisī thero, mātu pitu ca bhātuno;
‘‘Idaṃ me ñātīnaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo’’.
Having given, the elder dedicated the merit to his mother, father, and brother: ‘May this be for my relatives! May my relatives be happy!’
Sau khi cúng dường, vị trưởng lão hồi hướng cho mẹ, cha, và anh trai: “Nguyện cho vật thí này đến các quyến thuộc của tôi. Nguyện cho các quyến thuộc được an lạc.”
423.
423.
423.
Samanantarānuddiṭṭhe, vatthāni udapajjisuṃ;
Tato suvatthavasano, therassa dassayītumaṃ.
Immediately upon the dedication of merit, garments arose. Then, well-clothed, his brother showed himself to the elder.
Ngay sau khi được hồi hướng, y phục đã hiện ra. Sau đó, người anh trai, mặc y phục đẹp, đã hiện thân trước vị trưởng lão.
424.
424.
424.
‘‘Yāvatā nandarājassa, vijitasmiṃ paṭicchadā;
Tato bahutarā bhante, vatthānacchādanāni no.
‘Venerable sir, whatever apparel exists in the realm of King Nanda, our garments and coverings are far more numerous than that.
“Kính bạch ngài, y phục và đồ che thân của chúng con còn nhiều hơn tất cả y phục trong vương quốc của vua Nanda.
425.
425.
425.
‘‘Koseyyakambalīyāni, khoma kappāsikāni ca;
Vipulā ca mahagghā ca, tepākāsevalambare.
‘Silks and woolens, linen and cotton fabrics, abundant and of great value—they hang in the sky.
“Những y phục bằng lụa, len, vải lanh và vải bông, vừa rộng lớn vừa quý giá, chúng treo lơ lửng trên không trung.
426.
426.
426.
‘‘Te mayaṃ paridahāma, yaṃ yaṃ hi manaso piyaṃ;
Tathā bhante parakkama, yathā gehaṃ labhāmase’’ti.
‘We clothe ourselves in whatever is pleasing to our minds. Venerable sir, please strive so that we may obtain a home.’
“Chúng con mặc bất cứ y phục nào mà tâm ưa thích. Kính bạch ngài, xin hãy cố gắng để chúng con có thể nhận được nhà cửa.”
427.
427.
427.
Thero paṇṇakuṭiṃ katvā, saṅghe cātuddise adā;
Datvā anvādisī thero, mātu pitu ca bhātuno;
‘‘Idaṃ me ñātīnaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo’’.
The elder made a leaf-hut and gave it to the Sangha of the four quarters. Having given, the elder dedicated the merit to his mother, father, and brother: ‘May this be for my relatives! May my relatives be happy!’
Vị trưởng lão, sau khi làm một tịnh xá lợp lá, đã cúng dường đến Tăng đoàn bốn phương. Sau khi cúng dường, vị trưởng lão hồi hướng cho mẹ, cha, và anh trai: “Nguyện cho vật thí này đến các quyến thuộc của tôi. Nguyện cho các quyến thuộc được an lạc.”
428.
428.
428.
Samanantarānuddiṭṭhe, gharāni udapajjisuṃ;
Kūṭāgāranivesanā, vibhattā bhāgaso mitā.
Immediately upon the dedication of merit, houses arose—mansions with gabled roofs and dwellings, well-portioned and measured out.
Ngay sau khi được hồi hướng, những ngôi nhà đã hiện ra, là những dinh thự có mái nhọn, được phân chia và đo lường theo từng phần.
429.
429.
429.
‘‘Na manussesu īdisā, yādisā no gharā idha;
Api dibbesu yādisā, tādisā no gharā idha.
‘Among humans there are no such houses as we have here. Indeed, our houses here are just like those in the celestial realms.
“Những ngôi nhà của chúng con ở đây không giống như ở cõi người. Những ngôi nhà của chúng con ở đây giống như những ngôi nhà ở cõi trời.
430.
430.
430.
‘‘Daddallamānā ābhenti †, samantā caturo disā;
‘Tathā bhante parakkama, yathā pānīyaṃ labhāmase’’ti.
‘Blazing, they illuminate the four directions all around. Venerable sir, please strive so that we may obtain drinking water.’
“Chúng tỏa sáng rực rỡ, chiếu soi khắp bốn phương. Kính bạch ngài, xin hãy cố gắng để chúng con có thể nhận được nước uống.”
431.
431.
431.
Thero karaṇaṃ † pūretvā, saṅghe cātuddise adā;
Datvā anvādisī thero, mātu pitu ca bhātuno;
‘‘Idaṃ me ñātīnaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo’.
The elder filled a water-strainer and gave it to the Sangha of the four quarters. Having given, the elder dedicated the merit to his mother, father, and brother: ‘May this be for my relatives! May my relatives be happy!’
Vị trưởng lão, sau khi đổ đầy nước vào một bình lọc, đã cúng dường đến Tăng đoàn bốn phương. Sau khi cúng dường, vị trưởng lão hồi hướng cho mẹ, cha, và anh trai: “Nguyện cho vật thí này đến các quyến thuộc của tôi. Nguyện cho các quyến thuộc được an lạc.”
432.
432.
432.
Samanantarānuddiṭṭhe, pānīyaṃ udapajjatha;
Gambhīrā caturassā ca, pokkharañño sunimmitā.
Immediately upon the dedication of merit, drinking water arose in well-fashioned lotus ponds, deep and square.
Ngay sau khi được hồi hướng, nước uống đã hiện ra; những hồ sen sâu và vuông vức, được khéo tạo tác, cũng hiện ra.
433.
433.
433.
Sītodikā suppatitthā, sītā appaṭigandhiyā;
Padumuppalasañchannā, vārikiñjakkhapūritā.
With cool water and fine bathing places, cool and free from foul odors, covered with red and blue lotuses, and filled with their floral pollen.
Nước trong hồ thì mát lạnh, có những bến tắm tốt, mát mẻ và không có mùi hôi, được bao phủ bởi hoa sen hồng và sen xanh, và đầy nhụy hoa.
434.
434.
434.
Tattha nhatvā pivitvā ca, therassa paṭidassayuṃ;
‘‘Pahūtaṃ pānīyaṃ bhante, pādā dukkhā phalanti no’’.
Having bathed and drunk there, they showed themselves to the elder and said: ‘Venerable sir, there is abundant drinking water, but our feet are sore and cracked.
Sau khi tắm và uống nước ở đó, họ hiện thân trước vị trưởng lão và nói: “Kính bạch ngài, nước uống thì dồi dào, nhưng chân của chúng con đau đớn và nứt nẻ.”
435.
435.
435.
‘‘Āhiṇḍamānā khañjāma, sakkhare kusakaṇṭake;
‘Tathā bhante parakkama, yathā yānaṃ labhāmase’’’ti.
‘As we wander about, we limp on gravel and kusa-thorns. Venerable sir, please strive so that we may obtain a vehicle.’
“Khi đi lang thang trên sỏi đá và gai nhọn, chúng con đi khập khiễng. Kính bạch ngài, xin hãy cố gắng để chúng con có thể nhận được xe cộ.”
436.
436.
436.
Thero sipāṭikaṃ laddhā, saṅghe cātuddise adā;
Datvā anvādisī thero, mātu pitu ca bhātuno;
‘‘Idaṃ me ñātīnaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo’’.
The elder, having obtained a sandal, gave it to the Sangha of the four quarters. Having given, the elder dedicated the merit to his mother, father, and brother: ‘May this be for my relatives! May my relatives be happy!’
Vị trưởng lão, sau khi nhận được một đôi dép, đã cúng dường đến Tăng đoàn bốn phương. Sau khi cúng dường, vị trưởng lão hồi hướng cho mẹ, cha, và anh trai: “Nguyện cho vật thí này đến các quyến thuộc của tôi. Nguyện cho các quyến thuộc được an lạc.”
437.
437.
437.
Samanantarānuddiṭṭhe, petā rathena māgamuṃ;
‘‘Anukampitamha bhadante, bhattenacchādanena ca.
Immediately upon the dedication, the petas approached in a chariot, saying: ‘Venerable sir, we have been favored with compassion by you with food and clothing,
Ngay sau khi được hồi hướng, các ngạ quỷ đã đến bằng xe ngựa và nói: “Kính bạch đại đức, ngài đã thương xót chúng con bằng vật thực và y phục.
438.
438.
438.
‘‘Gharena pānīyadānena, yānadānena cūbhayaṃ;
Muniṃ kāruṇikaṃ loke, bhante vanditumāgatā’’ti.
‘and with a dwelling, a gift of water, and a gift of a vehicle. Venerable sir, we have come to pay homage to you, the compassionate sage in the world.’
“...bằng nhà cửa, bằng sự bố thí nước uống, và bằng sự bố thí xe cộ. Kính bạch ngài, chúng con đã đến để đảnh lễ bậc hiền triết từ bi trong thế gian.”
Sāṇavāsītherapetavatthu dutiyaṃ.
The Second Story: The Petas related to the Elder Sāṇavāsī.
Câu chuyện về ngạ quỷ của trưởng lão Sāṇavāsī, câu chuyện thứ hai.