Bản dịch
PV 26 — Chuyện Ngạ Quỷ Không Làm (Mặt) Nước Bị Vỡ Ra
1. Abhijjamānapetavatthu
BJT 392“Ngươi di chuyển ở đây, nơi con sông Gaṅgā, không làm (mặt) nước bị vỡ ra. Ngươi lõa lồ, nửa phần bên trên không giống ngạ quỷ, có mang tràng hoa, đã được trang điểm. Này ngạ quỷ, ngươi sẽ đi đâu? Chỗ trú ngụ sẽ là nơi nào?”
BJT 393Ngạ quỷ ấy nói rằng: ‘Tôi sẽ đi đến Cundatthika, ở trong khoảng đường đi đến làng vāsabha, và ở vùng phụ cận của Bārāṇasī.’
BJT 394Và sau khi nhìn thấy ngạ quỷ ấy, viên quan đại thần nổi tiếng tên Koliya đã bố thí đến ngạ quỷ ấy bánh lúa mạch, thức ăn, và hai xấp vải màu vàng.
BJT 395Khi con thuyền đang dừng lại, viên quan đại thần đã bảo cho (các vật trên) đến người thợ cạo; khi đã được ban phát đến người thợ cạo thì ngay lập tức (các vật thí) được thấy ở (cơ thể của) ngạ quỷ.
BJT 396Do đó, (ngạ quỷ) được mặc vải đẹp, có mang tràng hoa, đã được trang điểm. Sự cúng dường được đặt đúng chỗ đã có lợi ích đến ngạ quỷ ấy. Bởi thế, vì lòng thương tưởng quý vị nên bố thí đến các ngạ quỷ lần này đến lần khác.
BJT 397Một số có sự ăn mặc rách rưới, một số khác che đậy bằng mái tóc, các ngạ quỷ di chuyển, ra đi hướng này hướng khác vì thức ăn.
BJT 398Một số chạy đi đến các nơi xa, không được thọ lãnh, đã quay trở lại, bị đói, bị choáng váng, lảo đảo, quỵ xuống ở mặt đất.
BJT 399Tại nơi ấy, một số nào đó bị té ngã, quỵ xuống ở mặt đất, tựa như bị thiêu đốt bởi ngọn lửa vào mùa hạ, do trong thời quá khứ đã không làm việc tốt lành.
BJT 400‘Chúng tôi, trong thời quá khứ, có bản tính xấu xa, là nữ gia chủ, là những người mẹ trong gia đình; trong khi các vật bố thí đang hiện hữu, chúng tôi đã không tạo lập hòn đảo (nương nhờ) cho bản thân.
BJT 401Ngay cả khi có nhiều cơm ăn nước uống thậm chí bị quăng bỏ, chúng tôi đã không bố thí bất cứ vật gì đến bậc xuất gia đã thực hành chân chánh.
BJT 402Là những người ưa thích công việc sai trái, biếng nhác, ưa thích ngọt ngào, ham ăn, là những thí chủ cho thức ăn từng vắt nhỏ, chúng tôi mắng nhiếc những người nhận.
BJT 403Những căn nhà ấy và những tớ gái ấy, luôn cả những vật trang sức ấy của chúng tôi, chúng phục vụ những người khác, còn chúng tôi lãnh phần khổ đau.
BJT 404(Khi hết thời hạn ngạ quỷ, được sanh làm người) họ là những thợ đan tre bị khinh rẻ, và những người thợ đóng xe gian dối, là những người hạ tiện nghèo khó, và là những người hầu tắm lần này đến lần khác.
BJT 405Những gia đình nào là hạ tiện và nghèo khó, họ sanh ra ngay ở những gia đình ấy đấy; đây là phần số của những kẻ bỏn xẻn.
BJT 406Những người nào, ngay trong thời quá khứ đã làm việc tốt lành, là những thí chủ đã xa lìa sự bỏn xẻn, những người ấy làm cho cõi Trời được tràn ngập và vườn hoa Nandana được chiếu sáng.
BJT 407Họ vui thích ở tòa lâu đài Vejayanta, có dục lạc theo như ước muốn. Từ nơi đó chết đi, họ được sanh vào các gia tộc quý phái có của cải.
BJT 408Ở ngôi nhà mái nhọn và ở tòa lâu đài, ở chiếc ghế dài được trải tấm thảm len lông dài, các phần cơ thể (của họ) được quạt mát bởi những người cầm quạt lông công; được sanh ra ở gia đình danh giá, họ là những người có danh tiếng.
BJT 409Có mang tràng hoa, được trang điểm, họ di chuyển từ sự ẵm bồng này đến sự ẵm bồng khác; các vú nuôi hầu cận đêm ngày, tìm cách tạo sự thoải mái.
BJT 410(Vườn hoa) không sầu muộn Nandana đáng yêu, khu vườn lớn ở cõi Ba Mươi (Ba), nơi này không dành cho những người đã không làm việc phước thiện, nơi này chỉ dành cho những người đã làm việc phước thiện.
BJT 411Đối với những người đã không làm việc phước thiện, thì không có sự an lạc ở đời này và đời sau; còn đối với những người đã làm việc phước thiện, thì có sự an lạc ở đời này và luôn cả đời sau nữa.
BJT 412Những người có ước muốn được cộng sự với các vị (chư Thiên) ấy cần phải làm nhiều việc thiện, bởi vì những người đã làm việc phước thiện vui sướng ở cõi Trời, có đầy đủ của cải.”
Chuyện Ngạ Quỷ Không Làm (Mặt) Nước Bị Vỡ Ra là thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Abhijjamānapetavatthu
1. The Story of the Peta on the Unbroken Water
1. Câu chuyện ngạ quỷ Abhijjamāna
387.
387.
387.
‘‘Abhijjamāne vārimhi, gaṅgāya idha gacchasi;
Naggo pubbaddhapetova māladhārī alaṅkato;
Kuhiṃ gamissasi peta, kattha vāso bhavissatī’’ti.
“On the unbroken water of the Ganges you walk here, naked, adorned with garlands, like a celestial being with only the front half of his body. O peta, where will you go? Where will your dwelling be?”
“Trên mặt nước không bị vỡ của sông Gaṅgā (Hằng) tại nơi đây, ngươi đang đi; (ngươi) lõa thể, giống như ngạ quỷ có nửa thân trước (của chư Thiên), mang vòng hoa, được trang sức. Hỡi ngạ quỷ, ngươi sẽ đi về đâu, nơi ở của ngươi sẽ là nơi nào?”
388.
388.
388.
‘‘Cundaṭṭhilaṃ † gamissāmi, peto so iti bhāsati;
Antare vāsabhagāmaṃ, bārāṇasiṃ ca † santike’’.
That peta says thus: “I will go to Cundaṭṭhila, situated between Vāsabhagāma and Bārāṇasī, and near to Bārāṇasī.”
Ngạ quỷ ấy đã nói như vầy: “Tôi sẽ đi đến (làng) Cundaṭṭhila, ở khoảng giữa làng Vāsabha và gần thành Bārāṇasī (Ba-la-nại).”
389.
389.
389.
Tañca disvā mahāmatto, koliyo iti vissuto;
Sattuṃ bhattañca petassa, pītakañca yugaṃ adā.
And having seen him, the great minister renowned as Koḷita gave meal and rice and a pair of yellow garments, dedicating them to the peta.
Vị đại thần, nổi danh là Koliya, sau khi nhìn thấy ngạ quỷ ấy, đã dâng cúng cho ngạ quỷ ấy bột (rang), cơm, và một bộ y phục màu vàng.
390.
390.
390.
Nāvāya tiṭṭhamānāya, kappakassa adāpayi;
Kappakassa padinnamhi, ṭhāne petassa dissatha †.
While the boat was stopped, he had the gift given to a barber who was a lay follower. When it was given to the barber, at that very moment it appeared on the peta's body.
Trong khi chiếc thuyền đang dừng lại, vị ấy đã khiến dâng cúng cho người thợ cạo. Khi vật đã được dâng đến người thợ cạo, (y phục) liền hiện ra trên (thân của) ngạ quỷ ngay tại chỗ.
391.
391.
391.
Tato suvatthavasano, māladhārī alaṅkato;
Ṭhāne ṭhitassa petassa, dakkhiṇā upakappatha;
Tasmā dajjetha petānaṃ, anukampāya punappunaṃ.
Thereupon, that peta became well-clothed and adorned with flower garlands. The offering, established in a worthy recipient, accrued to that peta. Therefore, out of compassion, one should repeatedly give offerings for the petas.
Do đó, ngạ quỷ ấy đã có y phục được mặc tươm tất, mang vòng hoa, được trang sức. Vật cúng dường đã sinh khởi cho ngạ quỷ đang đứng tại chỗ. Vì thế, do lòng bi mẫn, người nên dâng cúng cho các ngạ quỷ nhiều lần.
392.
392.
392.
Sātunnavasanā † eke, aññe kesanivāsanā †;
Petā bhattāya gacchanti, pakkamanti disodisaṃ.
Some petas wear ragged garments; others are clothed only in their own hair. The petas go for food; they wander from one direction to another.
Một số ngạ quỷ mặc y phục rách rưới, một số khác lấy tóc làm y phục. Các ngạ quỷ đi tìm vật thực, chúng đi lang thang từ phương này đến phương khác.
393.
393.
393.
Dūre eke † padhāvitvā, aladdhāva nivattare;
Chātā pamucchitā bhantā, bhūmiyaṃ paṭisumbhitā.
Some, having run far for food, return having obtained nothing. Hungry, faint, and bewildered, they fall collapsed upon the ground.
Một số (ngạ quỷ) sau khi chạy đi xa, đã quay về mà không nhận được gì. Bị đói, mê mẩn, lảo đảo, chúng ngã quỵ xuống đất.
394.
394.
394.
Te ca † tattha papatitā †, bhūmiyaṃ paṭisumbhitā;
Pubbe akatakalyāṇā, aggidaḍḍhāva ātape.
And there they lie fallen, collapsed upon the ground—those who in the past did no wholesome deeds—like those scorched by fire in the heat of the sun.
Và chúng đã ngã xuống tại nơi ấy, bị quật ngã trên mặt đất. Do trước kia không làm điều thiện, (chúng) giống như bị lửa thiêu đốt giữa trời nắng nóng.
395.
395.
395.
‘‘Mayaṃ pubbe pāpadhammā, gharaṇī kulamātaro;
Santesu deyyadhammesu, dīpaṃ nākamha attano.
“In a past life, we, being housewives and clan-mothers, were of evil nature. Though there were things suitable for giving, we made no refuge for ourselves.”
“Trước kia, chúng tôi là những người có ác pháp, là những người nội trợ, những người mẹ trong gia đình. Dù có các vật đáng thí, chúng tôi đã không tạo hòn đảo (nương tựa) cho chính mình.”
396.
396.
396.
‘‘Pahūtaṃ annapānampi, apissu avakirīyati;
Sammaggate pabbajite, na ca kiñci adamhase.
“Though food and drink were abundant, and some was even thrown away, we gave nothing at all to a renunciant of good conduct.”
“Dù cho đồ ăn thức uống dồi dào thậm chí bị vứt bỏ, chúng tôi đã không dâng cúng bất cứ thứ gì đến các vị xuất gia đã hành trì chân chánh.”
397.
397.
397.
‘‘Akammakāmā alasā, sādukāmā mahagghasā;
Ālopapiṇḍadātāro, paṭiggahe paribhāsimhase †.
“We were averse to deeds and lazy, desiring fine tastes and gluttonous; we reviled the givers of even a morsel of almsfood and the recipients.”
“Chúng tôi ưa thích việc bất thiện, biếng nhác, ham muốn đồ ngon, tham ăn. Chúng tôi đã mắng nhiếc những người cho dù chỉ một vắt cơm và cả những người nhận.”
398.
398.
398.
‘‘Te gharā tā ca dāsiyo, tānevābharaṇāni no;
Te aññe paricārenti, mayaṃ dukkhassa bhāgino.
“Those houses, those female slaves, and those very ornaments of ours—others now enjoy them, while we are the partakers of suffering.”
“Những ngôi nhà ấy, những nữ tỳ ấy, và chính những đồ trang sức ấy của chúng tôi, những người khác đang hưởng dụng chúng. Còn chúng tôi là những người thừa hưởng sự đau khổ.”
399.
399.
399.
‘‘Veṇī vā avaññā honti, rathakārī ca dubbhikā;
Caṇḍālī kapaṇā honti, kappakā † ca punappunaṃ.
“And when reborn among humans, again and again they become bamboo-weavers or despised people, leather-workers or treacherous people, caṇḍālas or the wretched, and barbers.”
“(Khi sanh làm người), họ trở thành những người đan tre, hoặc những người đáng khinh, và những người làm xe, những người phản bội, những người hạ tiện, những người khốn khổ, và những người thợ cạo, lặp đi lặp lại.”
400.
400.
400.
‘‘Yāni yāni nihīnāni, kulāni kapaṇāni ca;
Tesu tesveva jāyanti, esā maccharino gati.
“Whatever families are low and wretched, in those very families they are born; this is the destination of the stingy.”
“Bất cứ những gia đình nào là thấp kém và khốn khổ, họ sanh vào chính những gia đình ấy. Đây là cảnh giới của người keo kiệt.”
401.
401.
401.
‘‘Pubbe ca katakalyāṇā, dāyakā vītamaccharā;
Saggaṃ te paripūrenti, obhāsenti ca nandanaṃ.
“But those who in a past life have done wholesome deeds, who are givers free from stinginess, they fill the heavenly world and illuminate the Nandana grove.”
“Còn những người trước kia đã làm điều thiện, là những người thí chủ, không còn keo kiệt, họ làm cho cõi trời được sung mãn và làm rực sáng khu vườn Nandana.”
402.
402.
402.
‘‘Vejayante ca pāsāde, ramitvā kāmakāmino;
Uccākulesu jāyanti, sabhogesu tato cutā.
“Having delighted in the Vejayanta Palace, enjoying sensual pleasures as they wish, they pass away from there and are reborn in high families endowed with wealth.”
“Sau khi vui hưởng trong cung điện Vejayanta, thỏa thích trong các dục lạc, khi mạng chung từ nơi ấy, họ sanh vào các gia đình cao quý, có nhiều của cải.”
403.
403.
403.
‘‘Kūṭāgāre ca pāsāde, pallaṅke gonakatthate;
Bījitaṅgā † morahatthehi, kule jātā yasassino.
“Born into renowned families, they delight in gabled halls and palaces, on couches spread with long-fleeced covers, their bodies fanned by hands holding peacock-feather fans.”
“Được sanh vào gia đình danh tiếng, trong các ngôi nhà có mái nhọn và các cung điện, trên những chiếc giường được trải thảm len, thân thể của họ được quạt bằng những chiếc quạt lông công.”
404.
404.
404.
‘‘Aṅkato aṅkaṃ gacchanti, māladhārī alaṅkatā;
Dhātiyo upatiṭṭhanti, sāyaṃ pātaṃ sukhesino.
“They are passed from lap to lap. Adorned with flower garlands, nurses attend them evening and morning, desiring their happiness.”
“Họ được chuyền từ lòng người này sang lòng người khác, mang vòng hoa, được trang sức. Các vú nuôi, mong cầu hạnh phúc cho họ, hầu hạ họ vào buổi chiều và buổi sáng.”
405.
405.
405.
‘‘Nayidaṃ akatapuññānaṃ, katapuññānamevidaṃ;
Asokaṃ nandanaṃ rammaṃ, tidasānaṃ mahāvanaṃ.
“The great forest of the Thirty-three, the Nandana grove, is sorrowless and delightful. This is not for those who have not done merit; this is only for those who have done merit.”
“Điều này không dành cho những người không có phước, mà chính là dành cho những người có phước: khu vườn Nandana không sầu muộn, khả ái, là khu rừng lớn của chư Thiên Ba Mươi.”
406.
406.
406.
‘‘Sukhaṃ akatapuññānaṃ, idha natthi parattha ca;
Sukhañca katapuññānaṃ, idha ceva parattha ca.
“For those who have not done merit, there is no happiness either here or in the next world; but for those who have done merit, there is happiness both here and in the next world.”
“Đối với những người không có phước, không có hạnh phúc ở đời này và cả ở đời sau. Còn đối với những người có phước, có hạnh phúc ở chính đời này và cả ở đời sau.”
407.
407.
407.
‘‘Tesaṃ sahabyakāmānaṃ, kattabbaṃ kusalaṃ bahuṃ;
Katapuññā hi modanti, sagge bhogasamaṅgino’’ti.
“By those desiring to be in their company, much that is wholesome should be done. For indeed, those who have done merit rejoice in the heavenly world, endowed with celestial enjoyments.”
“Những ai mong muốn được đồng hành với họ (chư Thiên) nên làm nhiều điều thiện. Vì rằng những người có phước, được đầy đủ tài sản, hoan hỷ ở cõi trời.”
Abhijjamānapetavatthu paṭhamaṃ.
The First Story: The Peta on the Unbroken Water.
Câu chuyện về ngạ quỷ trên mặt nước không vỡ, (phẩm) thứ nhất.