Bản dịch
PV 25 — Chuyện Ngạ Quỷ của Ubbarī
13. Ubbaripetavatthu
BJT 372Xưa có đức vua Brahmadatta, vị chúa của các kỵ sĩ thuộc xứ sở Pañcāla. Khi ấy, sau khi trải qua những ngày và đêm, đức vua đã từ trần.
BJT 373Người vợ Ubbarī đã đi đến nơi hỏa táng của vị ấy than khóc. Trong khi không nhìn thấy Brahmadatta, nàng than khóc rằng: “Ôi Brahmadatta!”
BJT 374Và vị ẩn sĩ ở nơi ấy, bậc hiền trí đầy đủ đức hạnh, đã đi đến. Và ở nơi ấy, vị ấy đã hỏi những người đã tụ tập ở nơi ấy rằng:
BJT 375“Đài hỏa táng này là của ai mà được tỏa ra với nhiều mùi thơm khác nhau? Nàng này là vợ của ai mà than khóc người chồng đã từ nơi này đi xa?
BJT 376Trong khi không nhìn thấy Brahmadatta, nàng than khóc rằng: ‘Ôi Brahmadatta!’” Và những người đã tụ tập ở nơi ấy, họ đã giải thích về việc ấy rằng:
BJT 377“Thưa ngài đại đức, là của (đức vua) Brahmadatta. Thưa tôn ông, là của (đức vua) Brahmadatta. Đài hỏa táng này là của vị ấy nên được tỏa ra với nhiều mùi thơm khác nhau.
BJT 378Nàng này là vợ của vị ấy nên than khóc chồng đã từ nơi này đi xa. Trong khi không nhìn thấy Brahmadatta, nàng than khóc rằng: ‘Ôi Brahmadatta!’”
BJT 379“Tám mươi sáu ngàn người có tên là Brahmadatta đã được thiêu đốt ở đài hỏa táng này, nàng sầu muộn cho ai trong số những người ấy?”
BJT 380“Thưa ngài, vị nào là đức vua, con trai của Cūḷanī, vị chúa của các kỵ sĩ thuộc xứ sở Pañcāla, tôi sầu muộn cho vị ấy, người chồng đã ban cho mọi điều ước muốn.”
BJT 381“Toàn thể tất cả đã là các vị vua, đều có tên là Brahmadatta. Toàn thể tất cả đều là con trai của Cūḷanī, là những vị chúa của các kỵ sĩ thuộc xứ sở Pañcāla.
BJT 382Nàng đã làm chánh hậu của tất cả theo tuần tự, tại sao nàng lại từ bỏ những người trước kia mà chỉ sầu muộn cho người sau cùng?”
BJT 383“Thưa tôn ông, ngài nói về tôi đây đã là người nữ nhiều lần trong sự luân hồi, có phải bản thân tôi đã là người nữ trong thời gian dài?”
BJT 384“Nàng đã là người nữ, nàng đã là người nam, nàng cũng đã đi đến ở bào thai của loài thú, việc ấy là như vậy, (nhưng) không được xem là giới hạn của những kiếp quá khứ.”
BJT 385“Quả thật, trong khi tôi đang bị thiêu đốt tựa như ngọn lửa được rưới bơ lỏng, tôi có thể dập tắt tất cả nỗi buồn bực như là đang rưới nước xuống.
BJT 386Quả vậy, mũi tên sầu muộn cắm ở tim của tôi đã được nhổ lên, trong khi tôi bị ưu phiền vì nỗi sầu muộn, ngài đã xua tan nỗi sầu muộn về người chồng cho tôi.
BJT 387Tôi đây, với mũi tên đã được rút ra, có được trạng thái mát mẻ, được an tịnh. Thưa bậc đại hiền trí, sau khi lắng nghe ngài, tôi không sầu muộn, tôi không khóc than.”
BJT 388“Sau khi lắng nghe lời nói ấy của của vị ấy, lời đã được khéo nói của vị Sa-môn, nàng đã cầm lấy bình bát và y, rồi đã xuất gia sống đời không nhà.
BJT 389Và nàng ấy, trong khi đã được xuất gia, rời nhà sống không nhà, đã tu tập tâm từ nhằm đạt đến thế giới Phạm Thiên.
BJT 390Trong khi lang thang từ làng này sang làng khác, đến các thị trấn, các kinh thành, nàng đã từ trần ở ngôi làng tên Uruvelā.
BJT 391Sau khi phát triển tâm từ nhằm đạt đến thế giới Phạm Thiên, sau khi xa lìa tâm của người nữ, nàng đã đi đến thế giới Phạm Thiên.”
Chuyện Ngạ Quỷ của Ubbarī là thứ mười ba.
Phẩm Ubbarī là thứ nhì.
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY
(Ngạ quỷ) vàng vọt, người mẹ, và người chồng, Nandā, Maṭṭakuṇḍalī, Ghaṭa (Kaṇha), hai người đại phú, người thợ may (Aṅkura), nghỉ trưa (Mẹ của Uttara), chỉ sợi, cầu thang (hồ Kaṇṇamuṇḍa), Ubbarī.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
13. Ubbaripetavatthu
13. The Story of Ubbarī
13. Câu chuyện ngạ quỷ Ubbarī
368.
368.
368.
Ahu rājā brahmadatto, pañcālānaṃ rathesabho;
Ahorattānamaccayā, rājā kālamakrubbatha †.
There was a king named Brahmadatta, lord of the Pañcālas, pre-eminent among chariot warriors. With the passing of days and nights, that king met his time.
Đã có một vị vua tên là Brahmadatta, bậc tối thượng của xứ Pañcāla. Sau khi ngày đêm trôi qua, vị vua ấy đã băng hà.
369.
369.
369.
Tassa āḷāhanaṃ gantvā, bhariyā kandati ubbarī †;
Brahmadattaṃ apassantī, brahmadattāti kandati.
Having gone to his cremation ground, his wife, Ubbarī, wept. Not seeing Brahmadatta, she cried out, 'O Brahmadatta!'
Vợ của vua ấy, nàng Ubbarī, đi đến nơi hỏa táng và than khóc. Không thấy Brahmadatta, nàng than khóc: 'Ôi, Brahmadatta!'
370.
370.
370.
Isi ca tattha āgacchi, sampannacaraṇo muni;
So ca tattha apucchittha, ye tattha susamāgatā.
A sage came there, a wise one perfect in conduct. And he inquired of those who were assembled there.
Và một vị ẩn sĩ, bậc thánh nhân có đầy đủ phẩm hạnh, đã đến đó. Vị ấy hỏi những người đã tụ tập ở nơi ấy.
371.
371.
371.
‘‘Kassa idaṃ āḷāhanaṃ, nānāgandhasameritaṃ;
Kassāyaṃ kandati bhariyā, ito dūragataṃ patiṃ;
Brahmadattaṃ apassantī, ‘brahmadattā’ti kandati’’.
“Whose is this cremation ground, wafting various fragrances? Whose wife is this who weeps for her husband gone far from here, not seeing Brahmadatta and crying out, 'O Brahmadatta!'?”
Nơi hỏa táng này, tỏa ra nhiều mùi hương khác nhau, là của ai? Người vợ này, than khóc cho người chồng đã đi xa, không thấy Brahmadatta, than khóc 'Ôi, Brahmadatta!', là vợ của ai?
372.
372.
372.
Te ca tattha viyākaṃsu, ye tattha susamāgatā;
‘‘Brahmadattassa bhadante †, brahmadattassa mārisa.
Those who were assembled there explained: “It is Brahmadatta’s, good sir; it is Brahmadatta’s, venerable sir.
Và những người đã tụ tập ở đó giải thích: 'Thưa ngài tôn kính, của Brahmadatta. Thưa ngài, của Brahmadatta.'
373.
373.
373.
‘‘Tassa idaṃ āḷāhanaṃ, nānāgandhasameritaṃ;
Tassāyaṃ kandati bhariyā, ito dūragataṃ patiṃ;
Brahmadattaṃ apassantī, ‘brahmadattā’ti kandati’’.
“This cremation ground, wafting various fragrances, is his. This woman who weeps for her husband gone far from here, not seeing Brahmadatta and crying out ‘O Brahmadatta!’, is his wife.”
Nơi hỏa táng này, tỏa ra nhiều mùi hương khác nhau, là của vua ấy. Người vợ này, than khóc cho người chồng đã đi xa, không thấy Brahmadatta, than khóc 'Ôi, Brahmadatta!', là vợ của vua ấy.
374.
374.
374.
‘‘Chaḷāsītisahassāni, brahmadattassanāmakā;
Imasmiṃ āḷāhane daḍḍhā, tesaṃ kamanusocasī’’ti.
“Eighty-six thousand kings named Brahmadatta have been burned in this cremation ground. For which of them do you grieve?”
Tám mươi sáu ngàn vị vua tên Brahmadatta đã được hỏa táng tại nơi này. Trong số đó, bà đang sầu muộn vì vị Brahmadatta nào?
375.
375.
375.
‘‘Yo rājā cūḷanīputto, pañcālānaṃ rathesabho;
Taṃ bhante anusocāmi, bhattāraṃ sabbakāmada’’nti.
“Venerable sir, that king who was the son of Cūḷanī, lord of the Pañcālas, pre-eminent among chariot warriors—for him, my husband, the giver of all desires, I grieve.”
Vị vua là con của Cūḷani, bậc tối thượng của xứ Pañcāla, con sầu muộn vì vị ấy, thưa ngài, người chồng đã ban cho mọi ước muốn.
376.
376.
376.
‘‘Sabbe vāhesuṃ rājāno, brahmadattassanāmakā;
Sabbevacūḷanīputtā, pañcālānaṃ rathesabhā.
“All were kings named Brahmadatta. All were sons of Cūḷanī, lords of the Pañcālas, pre-eminent among chariot warriors.
Tất cả các vị vua đều có tên là Brahmadatta. Tất cả đều là con của Cūḷani, bậc tối thượng của xứ Pañcāla.
377.
377.
377.
‘‘Sabbesaṃ anupubbena, mahesittamakārayi;
Kasmā purimake hitvā, pacchimaṃ anusocasī’’ti.
“For all of them in succession you acted as chief queen. Why, having abandoned the former ones, do you grieve only for the last one?”
Bà đã lần lượt làm hoàng hậu cho tất cả các vị vua ấy. Tại sao lại bỏ qua những người trước mà sầu muộn cho người sau cùng?
378.
378.
378.
‘‘Ātume itthibhūtāya, dīgharattāya mārisa;
Yassā me itthibhūtāya, saṃsāre bahubhāsasī’’ti.
“Venerable sir, you speak much of my being a woman in saṃsāra. For me, who has been a woman for a long time, was I always reborn only as a woman?”
Thưa ngài, ngài nói nhiều về vòng luân hồi của con, người đã là phụ nữ trong một thời gian dài. Phải chăng trong suốt thời gian dài ấy, con chỉ luôn là phụ nữ?
379.
379.
379.
‘‘Ahu itthī ahu puriso, pasuyonimpi āgamā;
Evametaṃ atītānaṃ, pariyanto na dissatī’’ti.
“Sometimes you were a woman, sometimes you were a man, and you have also been born in an animal womb. Thus, for your past existences, no end can be seen.”
Đã có lúc là phụ nữ, có lúc là đàn ông, cũng đã từng sinh vào loài thú. Như vậy, không thể thấy được giới hạn của những kiếp quá khứ này.
380.
380.
380.
‘‘Ādittaṃ vata maṃ santaṃ, ghatasittaṃva pāvakaṃ;
Vārinā viya osiñcaṃ, sabbaṃ nibbāpaye daraṃ.
“Indeed, I was burning like a fire sprinkled with ghee. As if sprinkling it with water, you have extinguished all my anguish.
Con đang bừng cháy như ngọn lửa được tưới dầu, ngài đã dập tắt mọi phiền não của con, như dùng nước để dập lửa.
381.
381.
381.
‘‘Abbahī vata me sallaṃ, sokaṃ hadayanissitaṃ;
Yo me sokaparetāya, patisokaṃ apānudi.
“Indeed, you have extracted the dart of sorrow lodged in my heart, you who have dispelled the grief for my husband for me, who was overcome by sorrow.”
Ngài thật đã nhổ mũi tên sầu muộn nằm trong tim con. Ngài đã xua tan nỗi sầu muộn của con, người đang bị sầu muộn dày vò.
382.
382.
382.
‘‘Sāhaṃ abbūḷhasallāsmi, sītibhūtāsmi nibbutā;
Na socāmi na rodāmi, tava sutvā mahāmunī’’ti.
“I am one whose dart has been extracted; I have become cool and am quenched. Having heard your words, O great sage, I no longer grieve, nor do I weep.”
Con đã được nhổ mũi tên, đã trở nên mát mẻ, đã được dập tắt. Sau khi nghe lời ngài, hỡi bậc Đại ẩn sĩ, con không còn sầu muộn, không còn khóc than.
383.
383.
383.
Tassa taṃ vacanaṃ sutvā, samaṇassa subhāsitaṃ;
Pattacīvaramādāya, pabbaji anagāriyaṃ.
Having heard that well-spoken word of the ascetic, she took up bowl and robes and went forth into the homeless life.
Nghe những lời thiện thuyết ấy của vị sa-môn, nàng đã lấy y bát và xuất gia vào đời sống không nhà.
384.
384.
384.
Sā ca pabbajitā santā, agārasmā anagāriyaṃ;
Mettācittaṃ abhāvesi, brahmalokūpapattiyā.
And she, having gone forth from home into homelessness and being at peace, developed a mind of loving-kindness for the sake of rebirth in the Brahma-world.
Và sau khi xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà, nàng đã tu tập tâm từ để được tái sanh vào cõi Phạm thiên.
385.
385.
385.
Gāmā gāmaṃ vicarantī, nigame rājadhāniyo;
Uruvelā nāma so gāmo, yattha kālamakrubbatha.
Wandering from village to village, and to market towns and royal cities, she met her time in a village named Uruvelā.
Du hành từ làng này sang làng khác, đến các thị trấn và kinh thành, ngôi làng nơi nàng qua đời có tên là Uruvelā.
386.
386.
386.
Mettācittaṃ ābhāvetvā, brahmalokūpapattiyā;
Itthicittaṃ virājetvā, brahmalokūpagā ahūti.
Having developed a mind of loving-kindness for the sake of rebirth in the Brahma-world, and having become dispassionate towards a woman's mind, she became one who went to the Brahma-world.
Sau khi tu tập tâm từ để được tái sanh vào cõi Phạm thiên, và ly tham khỏi tâm nữ tính, nàng đã đi đến cõi Phạm thiên.
Ubbaripetavatthu terasamaṃ.
The Thirteenth Story of the Peta Ubbarī.
Câu chuyện ngạ quỷ Ubbarī, phẩm thứ mười ba.
The Second Chapter, the Ubbarī Chapter, is finished.
Phẩm Ubbarī, thứ hai, đã kết thúc.
Tassuddānaṃ –
The summary thereof:
Tóm tắt của phẩm này:
Mocakaṃ † mātā mattā † ca, nandā kuṇḍalīnā ghaṭo;
Dve seṭṭhī tunnavāyo ca, uttara † suttakaṇṇa † ubbarīti.
Pantha, the Mother, and Tissā; Nandā, Kuṇḍalīna, and Ghaṭa; the two Merchants and the Tailor; Uttara, Sutta, Kaṇṇa, and Ubbarī.
Mocaka, Mātā và Mattā, Nandā, Kuṇḍalī, Ghaṭa; Hai vị trưởng giả, người thợ may, và Uttara, Sutta, Kaṇṇa, và Ubbarī.