Bản dịch
PV 23 — Chuyện Ngạ Quỷ Sợi Chỉ
11. Suttapetavatthu
BJT 344“Trước đây, thiếp đã dâng cúng chỉ sợi đến bậc xuất gia là vị tỳ khưu đã đi đến yêu cầu. Quả thành tựu của việc ấy là quả báo dồi dào được thành tựu, và nhiều koṭi vải vóc được phát sanh đến thiếp.’
BJT 345Thiên cung được rải rắc bông hoa, được vui sướng, có nhiều tranh vẽ, được các người nam người nữ lai vãng. Thiếp đây hưởng thụ và choàng đắp (vải vóc); có nhiều của cải và còn chưa đến lúc bị cạn kiệt.
BJT 346Tiếp theo quả thành tựu của chính nghiệp ấy, có sự an lạc và thoải mái được thành tựu ở nơi đây. Thiếp đây, sau khi đi đến cõi nhân loại thêm lần nữa, sẽ làm các việc phước thiện. Thưa công tử, hãy đưa thiếp về.”
BJT 347“Nàng đã đến đây được bảy trăm năm. Ở nơi ấy, nàng sẽ là người già nua và trưởng thượng, hết thảy tất cả thân quyến của nàng đã từ trần. Nàng sẽ làm gì sau khi từ đây đi đến nơi ấy?”
BJT 348“Thiếp đã đi đến nơi này chỉ mới bảy năm, thiếp đã có được sự an lạc của cõi Trời. Thiếp đây, sau khi đi đến cõi nhân loại thêm lần nữa, sẽ làm các việc phước thiện. Thưa công tử, hãy đưa thiếp về.”
BJT 349Sau khi đã nắm lấy nàng một cách chắc chắn ở cánh tay, vị ấy đã đưa nàng, (nay là) bà lão vô cùng yếu ớt, trở về (dặn rằng): “Nàng hãy nói với những người khác nữa đã đi đến nơi này rằng: ‘Quý vị hãy làm các việc phước thiện, sự an lạc (sẽ) được thành tựu.
BJT 350Tôi đã nhìn thấy các ngạ quỷ bị sầu khổ do không làm việc tốt lành, loài người cũng tương tự như vậy. Và sau khi tạo nghiệp đưa đến cảm thọ an lạc, chư Thiên và nhân loại là dòng dõi trụ vững trong sự an lạc.’”
Chuyện Ngạ Quỷ Sợi Chỉ là thứ mười một.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
11. Suttapetavatthu
11. The Story of the Thread Peta
11. Câu chuyện ngạ quỷ về sợi chỉ
341.
341.
341.
‘‘Ahaṃ pure pabbajitassa bhikkhuno, suttaṃ adāsiṃ upasaṅkamma yācitā;
Tassa vipāko vipulaphalūpalabbhati, bahukā ca me uppajjare † vatthakoṭiyo.
“In a previous life, when asked, I approached and gave thread to a monk who had gone forth. The result of that is obtained as an abundant fruit, and for me many koṭis of cloths arise.”
“Thuở xưa, khi được một vị Tỳ-khưu đã xuất gia đến gần và xin, tôi đã cúng dường một cuộn chỉ. Quả báo của việc ấy, với kết quả to lớn, nay đã được gặt hái. Và vô số y phục, hàng triệu cái, đã phát sinh cho tôi.”
342.
342.
342.
‘‘Pupphābhikiṇṇaṃ ramitaṃ † vimānaṃ, anekacittaṃ naranārisevitaṃ;
Sāhaṃ bhuñjāmi ca pārupāmi ca, pahūtavittā na ca tāva khīyati.
“A delightful celestial mansion, strewn with flowers, variously adorned, and frequented by men and women. I enjoy it and wear garments; my wealth is abundant and is not exhausted.
“Lâu đài này thật đáng vui thích, rải đầy hoa, trang trí đa dạng, được các nam nhân và nữ nhân viếng thăm. Tôi thụ hưởng, tôi mặc, tôi choàng, tài sản dồi dào và không hề vơi cạn.”
343.
343.
343.
‘‘Tasseva kammassa vipākamanvayā, sukhañca sātañca idhūpalabbhati;
Sāhaṃ gantvā punadeva mānusaṃ, kāhāmi puññāni nayayyaputta ma’’nti.
“As a consequence of the result of that very kamma, happiness and pleasure are obtained here. I will go to the human world once again and perform meritorious deeds. Noble son, lead me!”
“Chính nhờ quả báo của nghiệp đó mà ở đây tôi có được hạnh phúc và sự vui thích. Tôi sẽ trở lại cõi người một lần nữa để làm các công đức. Thưa ngài, xin hãy dẫn tôi đi.”
344.
344.
344.
‘‘Satta tuvaṃ vassasatā idhāgatā,
Jiṇṇā ca vuḍḍhā ca tahiṃ bhavissasi;
Sabbeva te kālakatā ca ñātakā,
Kiṃ tattha gantvāna ito karissasī’’ti.
“Seven hundred years have passed for you who have come here. You will be old and aged there. All your relatives have passed away. What will you do by going there from here?”
“Nàng đã đến đây được bảy trăm năm rồi. Ở nơi đó, nàng sẽ trở nên già nua và lớn tuổi. Tất cả quyến thuộc của nàng đều đã qua đời. Từ đây đi đến đó, nàng sẽ làm được gì?”
345.
345.
345.
‘‘Satteva vassāni idhāgatāya me, dibbañca sukhañca samappitāya;
Sāhaṃ gantvāna punadeva mānusaṃ, kāhāmi puññāni nayayyaputta ma’’nti.
“For me who came here, endowed with divine happiness, only seven years have passed. I will go to the human world once again and perform meritorious deeds. Noble son, lead me!”
“Đối với tôi, người đã đến đây và được hưởng hạnh phúc cõi trời, dường như chỉ mới bảy năm trôi qua. Tôi sẽ trở lại cõi người một lần nữa để làm các công đức. Thưa ngài, xin hãy dẫn tôi đi.”
346.
346.
346.
So taṃ gahetvāna pasayha bāhāyaṃ, paccānayitvāna theriṃ sudubbalaṃ;
‘‘Vajjesi aññampi janaṃ idhāgataṃ, ‘karotha puññāni sukhūpalabbhati’’.
Taking her, the very frail elderly woman, forcibly by the arm and bringing her back, he said: ‘You should tell the other people who have come here: “Perform meritorious deeds; happiness is obtained.”’
Vị ấy nắm lấy cánh tay nàng một cách mạnh mẽ, đưa người phụ nữ già nua, yếu ớt trở về. “Nàng hãy nói với những người khác đến đây rằng: ‘Hãy làm các công đức, hạnh phúc sẽ được thành tựu’.”
347.
347.
347.
‘‘Diṭṭhā mayā akatena sādhunā, petā vihaññanti tatheva manussā;
Kammañca katvā sukhavedanīyaṃ, devā manussā ca sukhe ṭhitā pajā’’ti.
“I have seen that by not doing good, petas suffer, and humans likewise. And having done kamma that is to be experienced as pleasant, beings among devas and humans are established in happiness.”
“Tôi đã thấy các ngạ quỷ và cả loài người phải chịu đau khổ vì không làm điều thiện. Và tôi cũng đã thấy các vị trời và loài người, những chúng sinh an trú trong hạnh phúc, sau khi đã làm nghiệp có quả báo an lạc.”
Suttapetavatthu ekādasamaṃ.
The Eleventh: The Story of the Thread Petī.
Câu chuyện ngạ quỷ về sợi chỉ, câu chuyện thứ mười một.