Bản dịch
PV 21 — Chuyện Ngạ Quỷ của Aṅkura
9. Aṅkurapetavatthu
BJT 258“Vì mục đích của việc (buôn bán) ấy mà chúng ta mang theo tài sản đi đến Kamboja. Dạ-xoa này (có khả năng) ban cho điều ước muốn, vậy chúng ta nên dẫn theo Dạ-xoa này.
BJT 259Chúng ta hãy giữ lấy Dạ-xoa này, bằng cách tốt đẹp hoặc là bằng võ lực, rồi cho người đưa lên xe, và hãy mau mau đi đến Dvāravatī.”
BJT 260“Người ngồi hoặc nằm ở bóng râm của thân cây nào thì không nên bẻ gãy cành của nó, bởi vì phản bội bạn bè là xấu xa.”
BJT 261“Người ngồi hoặc nằm ở bóng râm của thân cây nào thì có thể đốn ngã luôn cả thân của nó nếu nhu cầu là như thế ấy.”
BJT 262“Người ngồi hoặc nằm ở bóng râm của thân cây nào thì không nên bẻ gãy lá của nó, bởi vì phản bội bạn bè là xấu xa.”
BJT 263“Người ngồi hoặc nằm ở bóng râm của thân cây nào thì có thể bứng nó lên luôn cả gốc nếu nhu cầu là như thế ấy.”
BJT 264“Người cư ngụ trong ngôi nhà của ai đó cho dầu chỉ một đêm và thọ nhận cơm ăn nước uống ở nơi ấy, thì không nên suy nghĩ đến điều xấu xa đối với vị (chủ nhà) ấy dầu chỉ bằng tâm ý; trạng thái biết ơn đã được các bậc chân nhân ca ngợi.
BJT 265Người cư ngụ trong ngôi nhà của ai đó cho dầu chỉ một đêm và được phục vụ cơm ăn nước uống, thì không nên suy nghĩ đến điều xấu xa đối với vị (chủ nhà) ấy dầu chỉ bằng tâm ý; bàn tay của người không phản bội tiêu diệt kẻ phản bội bạn bè.
BJT 266Kẻ nào trước đây có việc tốt lành đã được (người khác) làm (cho mình) về sau hãm hại (ân nhân) một cách độc ác, người giết hại mạng sống ân nhân, kẻ ấy không gặp những điều may mắn.”
BJT 267“Kẻ nào mắng nhiếc người trong sạch, không bị hư hỏng, không có vết nhơ, điều xấu xa trở về lại chính kẻ ngu ấy, tựa như bụi bặm nhỏ nhoi đã được ném ngược chiều gió.”
BJT 268“Ta không dễ dàng bị khuất phục bởi vị Thiên nhân, hoặc bởi con người, hoặc bởi quyền uy. Ta là Dạ-xoa, đã đạt đến thần lực tối cao, có sự di chuyển xa, đã đạt được sắc đẹp và sức mạnh.”
BJT 269“Bàn tay của ngài là vàng toàn bộ, năm ngón tay là nguồn mật ngọt, có nhiều dịch chất tiết ra; tôi nghĩ rằng ngài là (Chúa Trời) Purindada (người đã bố thí trước đây).”
BJT 270“Ta không là Thiên nhân, không là nhạc sĩ Thiên đình, cũng không là (Chúa Trời) Sakka, người đã bố thí trước đây. Này Aṅkura, hãy biết ta là ngạ quỷ đã từ Bheruva đi đến nơi này.”
BJT 271“Trước đây ở Bheruva ngài đã có giới hạnh gì, có sự thực hành gì? Do hạnh kiểm cao đẹp nào của ngài mà phước báu được thành tựu ở nơi bàn tay?”
BJT 272“Trước đây ta đã là thợ may. Khi ấy ta ở Bheruva, có sự sinh sống rất khó khăn, nghèo khó; ta không có gì để bố thí.
BJT 273Nơi làm việc của ta đã ở khu vực lân cận với Asayha, là người thí chủ có đức tin, đã làm việc phước thiện, có liêm sỉ.
BJT 274Tại nơi ấy, những kẻ hành khất, những người nghèo túng thuộc phe nhóm khác nhau đi đến. Và họ hỏi ta về chỗ trú ngụ của Asayha.
BJT 275‘Chúng tôi sẽ đi đến nơi đâu? Chúc bạn tốt lành. Nơi nào vật thí được ban phát?’ Được họ hỏi, ta sẽ nói cho họ chỗ trú ngụ của Asayha.
BJT 276Sau khi duỗi ra cánh tay phải, (nói rằng): ‘Các người hãy đi đến nơi ấy. Chúc các người tốt lành. Nơi ấy vật thí được ban phát, ở chỗ trú ngụ của Asayha.’
BJT 277Do việc ấy bàn tay có sự ban cho điều ước muốn, do việc ấy bàn tay có nguồn mật ngọt, do hạnh kiểm cao đẹp ấy của ta mà phước báu được thành tựu ở nơi bàn tay.”
BJT 278“Nghe rằng ngài đã không tự tay mình ban phát vật thí đến bất cứ ai, trong khi tùy hỷ sự bố thí của người khác, ngài đã duỗi bàn tay ra và chỉ lối.
BJT 279Do việc ấy bàn tay có sự ban cho điều ước muốn, do việc ấy bàn tay có nguồn mật ngọt, do hạnh kiểm cao đẹp ấy của ngài mà phước báu được thành tựu ở nơi bàn tay.
BJT 280Thưa ngài, được tịnh tín, người ấy đã tự tay mình ban phát vật thí, vậy sau khi từ bỏ thân xác loài người, người ấy đã đi đến phương trời nào?”
BJT 281“Ta không biết được việc đi hay là việc đến của Aṅgīrasa, bậc chịu đựng điều không thể chịu đựng, nhưng ta đã được nghe trong sự hiện diện của (Thiên Vương) Vessavaṇa rằng Asayaha đã đi đến cộng trú với (Chúa Trời) Sakka.”
BJT 282“Quá đủ để làm việc tốt lành, để ban phát vật thí tùy theo khả năng. Sau khi nhìn thấy bàn tay có sự ban cho điều ước muốn, người nào mà chẳng làm việc phước thiện?
BJT 283Đương nhiên, chính tôi đây sau khi từ nơi này ra đi và sau khi về đến Dvāravatī, tôi sẽ tiến hành việc bố thí, là việc mang lại sự an lạc cho tôi.
BJT 284Tôi sẽ bố thí cơm ăn và nước uống, vải vóc và chỗ trú ngụ, trạm bố thí nước uống, giếng nước, và các lối vượt qua ở nơi hiểm trở.”
BJT 285“Do điều gì mà ngươi có ngón tay cong queo, có khuôn mặt bị làm thành méo mó, và các con mắt rỉ nước, việc xấu xa gì đã do ngươi gây ra?”
BJT 286“Trong lúc gia chủ Aṅgīrasa có đức tin đang ở nhà, tôi đã là người chủ chốt trong việc bố thí ở nơi phân phát thức ăn của ông ấy.
BJT 287Ở tại nơi ấy, sau khi nhìn thấy những người hành khất có nhu cầu về thức ăn đi đến, tôi đã tránh sang một bên rồi đã làm khuôn mặt méo mó.
BJT 288Do điều ấy mà tôi có ngón tay cong queo, có khuôn mặt bị làm thành méo mó, và các con mắt rỉ nước, việc xấu xa ấy đã do tôi gây ra.”
BJT 289“Này kẻ tội lỗi, ngươi có ngón tay cong queo, có khuôn mặt bị làm thành méo mó, và các con mắt rỉ nước là đúng theo pháp, bởi vì ngươi đã làm khuôn mặt méo mó đối với việc bố thí của người khác.”
BJT 290“Tại sao trong khi ban phát vật thí về cơm ăn, nước uống, vật thực cứng, vải vóc, và chỗ trú ngụ, mà lại có thể nhờ cậy người khác?”
BJT 291“Đương nhiên, chính tôi đây sau khi từ nơi này ra đi và sau khi về đến Dvāravatī, tôi sẽ tiến hành việc bố thí, là việc mang lại sự an lạc cho tôi.
BJT 292Tôi sẽ bố thí cơm ăn và nước uống, vải vóc và chỗ trú ngụ, trạm bố thí nước uống, giếng nước, và các lối vượt qua ở nơi hiểm trở.”
BJT 293Từ nơi ấy, sau khi quay trở về và đã đạt đến Dvāravatī, vị Aṅkura ấy đã tiến hành việc bố thí, là việc mang lại sự an lạc cho bản thân.
BJT 294Aṅkura đã bố thí cơm ăn và nước uống, vải vóc và chỗ trú ngụ, trạm bố thí nước uống, và giếng nước với tâm ý thanh tịnh.
BJT 295‘Ai đói? Và ai khát? Ai sẽ mặc vải vóc? Những con thú kéo xe của ai bị mệt nhọc, hãy chọn những con thú ở đây thắng vào cỗ xe.
BJT 296Ai muốn lọng che và vật thơm? Ai tràng hoa? Ai giày dép?’ Những người thợ cạo, đầu bếp, và buôn bán hương liệu luôn rao vang như thế, ban đêm và ban ngày, ở nơi ấy, tại chỗ trú ngụ của Aṅkura.
BJT 297“‘Aṅkura ngủ an lạc,’ dân chúng biết về ta như vậy. Này Sindhaka, ta ngủ khổ sở bởi vì ta không nhìn thấy các hành khất.
BJT 298‘Aṅkura ngủ an lạc,’ dân chúng biết về ta như vậy. Này Sindhaka, ta ngủ khổ sở khi các người nghèo túng là ít ỏi.”
BJT 299“Nếu Sakka, Chúa Tể cõi Ba Mươi Ba và toàn thể thế gian, ban cho ngài điều ước muốn, thì trong khi ước muốn, ngài sẽ ước muốn điều ước muốn về việc gì?”
BJT 300“Nếu Sakka, Chúa Tể cõi Ba Mươi Ba, ban cho ta điều ước muốn thì: vào thời điểm ta đang thức dậy là lúc mọc lên của mặt trời, có các món ăn của cõi Trời hiện ra và các hành khất là có giới hạnh.
BJT 301Khi ta đang bố thí thì (vật thí) không bị cạn kiệt, sau khi bố thí thì ta không hối tiếc, trong khi bố thí thì tâm được tịnh tín, ta ước muốn điều ước muốn của Sakka là như thế.”
BJT 302“Không nên ban bố tất cả của cải cho kẻ khác, nên ban phát vật thí và nên bảo vệ tài sản; chính vì thế tài sản hiển nhiên là hơn sự bố thí, với sự ban phát quá mức thì các gia đình không còn tồn tại.
BJT 303Các bậc sáng suốt không khen ngợi việc không bố thí và việc bố thí quá mức; chính vì thế tài sản hiển nhiên là hơn sự bố thí; người có bản tính sáng suốt nên hành xử theo lối trung dung.”
BJT 304“Ôi, thật vậy sao, thưa ông. Tôi sẽ còn bố thí, bởi vì những người tốt, các bậc chân nhân sẽ cộng sự với tôi, tựa như cơn mưa đang làm tràn đầy những vùng đất trũng, tôi nên làm cho tất cả những người nghèo túng được toại ý.
BJT 305Người nào sau khi nhìn thấy các hành khất mà có vẻ mặt tươi tắn, sau khi bố thí mà có tâm ý hoan hỷ; điều ấy là hạnh phúc của người đang sống tại gia.
BJT 306Người nào sau khi nhìn thấy các hành khất mà có vẻ mặt tươi tắn, sau khi bố thí mà có tâm ý hoan hỷ; điều ấy là sự thành công của việc dâng hiến.
BJT 307Ngay trước khi bố thí có tâm hoan hỷ, trong khi bố thí nên làm cho tâm được tịnh tín, và sau khi đã bố thí có tâm hoan hỷ; điều ấy là sự thành công của việc dâng hiến.”
BJT 308“Bữa ăn thường xuyên được bố thí cho mọi người ở chỗ trú ngụ của Aṅkura, con người mong mỏi việc dâng hiến, là sáu mươi ngàn cỗ xe.
BJT 309Ba ngàn đầu bếp chính, có các bông hoa tai bằng ngọc ma-ni đã được trau chuốt, sống phụ thuộc vào Aṅkura, bận rộn với vật dâng hiến trong việc bố thí.
BJT 310Sáu mươi ngàn người nam, là các thanh niên, có các bông hoa tai bằng ngọc ma-ni đã được trau chuốt, bổ củi ở cuộc đại thí của Aṅkura.
BJT 311Mười sáu ngàn phụ nữ, những người đàn bà đã được điểm trang với mọi thứ trang sức, nhồi trộn các món (gia vị) ở cuộc đại thí của Aṅkura.
BJT 312Mười sáu ngàn phụ nữ đã được điểm trang với mọi thứ trang sức, cầm thìa phục vụ ở cuộc đại thí của Aṅkura.
BJT 313Vị Sát-đế-lỵ đã ban phát nhiều (vật) đến nhiều (người), đã tự tay ban phát trong một thời gian dài, một cách nghiêm chỉnh, sau khi đã thể hiện sự tôn trọng, lần này đến lần khác.
BJT 314Aṅkura đã tiến hành cuộc đại thí trong khoảng thời gian dài, trong nhiều tháng, nhiều nửa tháng, nhiều mùa, và nhiều năm.
BJT 315Aṅkura đã bố thí và dâng hiến như vậy trong khoảng thời gian dài, sau khi từ bỏ thân xác loài người, vị ấy đã đi đến cõi Ba Mươi Ba.”
BJT 316“Indaka đã dâng phần thức ăn một muỗng đến ngài Anuruddha, sau khi từ bỏ thân xác loài người, vị ấy đã đi đến cõi Ba Mươi Ba.
BJT 317Indaka sáng chói vượt trội Aṅkura về mười phương diện: về sắc, về thinh, về vị, về hương, về xúc làm thích ý, …
BJT 318… về tuổi thọ, luôn cả về danh tiếng, về sắc đẹp, về hạnh phúc, và về quyền hành; Indaka sáng chói vượt trội Aṅkura.”
BJT 319“Này Aṅkura, cuộc đại thí đã được ngươi bố thí trong thời gian dài. Ngươi ngồi quá xa, hãy tiến đến gần Ta.”
BJT 320Ở cõi Ba Mươi Ba, khi ấy đức Phật, bậc Tối Thượng Nhân, đã trú ngụ ở gốc cây san hô, nơi tảng đá Paṇḍukambala.
BJT 321Chư Thiên ở mười (ngàn) thế giới tụ hội lại hầu cận đấng Toàn Giác đang cư ngụ ở đỉnh ngọn núi.
BJT 322Không có vị Thiên nhân nào sáng chói vượt trội đấng Toàn Giác về màu da; sau khi vượt trội tất cả chư Thiên, chỉ đấng Toàn Giác chói sáng.
BJT 323Khi ấy, Aṅkura ấy đã ở cách mười hai do-tuần, còn Indaka chói sáng vượt trội ở không xa đức Phật lắm.
BJT 324Sau khi quan sát Aṅkura luôn cả Indaka, đấng Toàn Giác, trong lúc nhấn mạnh về đối tượng xứng đáng cúng dường, đã nói lời nói này:
BJT 325‘Này Aṅkura, cuộc đại thí đã được ngươi bố thí trong thời gian dài. Ngươi ngồi quá xa, hãy tiến đến gần Ta.’
BJT 326Được khích lệ bởi bậc có bản thân đã được tu tập, Aṅkura đã đáp lại lời này: ‘Con được gì với sự bố thí ấy, khi có tình trạng thiếu vắng đối tượng xứng đáng cúng dường?
BJT 327Dạ-xoa Indaka này đây sau khi dâng cúng vật thí chút ít thì chói sáng vượt trội chúng con, giống như mặt trăng ở quần thể các vì sao.’
BJT 328‘Giống như hạt giống, dẫu nhiều, đã được gieo ở thửa ruộng cằn cỗi, kết quả là không dồi dào, cũng không làm người nông phu vui mừng.
BJT 329Tương tự y như thế, nhiều vật thí đã được thiết lập ở những kẻ có giới tồi, quả báo là không dồi dào, cũng không làm người thí chủ vui mừng.
BJT 330Cũng giống như hạt giống, dẫu ít, đã được gieo ở thửa ruộng màu mỡ, khi được ban cho mưa đều đặn, kết quả khiến người nông phu vui mừng.
BJT 331Tương tự y như thế, hành động dầu nhỏ nhoi được làm ở các vị có giới có đức hạnh như thế ấy, phước báu là có kết quả lớn lao.’
BJT 332Sau khi cân nhắc vật thí nên được bố thí nơi nào khiến vật đã được bố thí có quả báo lớn lao, các thí chủ, sau khi cân nhắc rồi dâng cúng vật thí, đi đến cõi Trời.
BJT 333Sự bố thí sau khi cân nhắc được đấng Thiện Thệ khen ngợi. Những vị nào là đối tượng xứng đáng cúng dường ở thế giới sinh vật này đây, các vật đã được bố thí ở những vị ấy có những quả báo lớn lao, giống như các hạt giống đã được gieo ở thửa ruộng tốt.”
Chuyện Ngạ Quỷ của Aṅkura là thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Aṅkurapetavatthu
9. The Story of the Peta Aṅkura
9. Câu chuyện ngạ quỷ Aṅkura
257.
257.
257.
‘‘Yassa atthāya gacchāma, kambojaṃ dhanahārakā;
Ayaṃ kāmadado yakkho, imaṃ yakkhaṃ nayāmase.
“We go to Kamboja as seekers of wealth. This yakkha is a giver of all that is desired; let us take this yakkha.”
‘Vì mục đích mà chúng ta, những người mang theo của cải, đi đến xứ Kamboja, vị dạ-xoa này là người ban cho điều mong muốn. Chúng ta hãy mang vị dạ-xoa này đi.’
258.
258.
258.
‘‘Imaṃ yakkhaṃ gahetvāna, sādhukena pasayha vā;
Yānaṃ āropayitvāna, khippaṃ gacchāma dvāraka’’nti.
“Having seized this yakkha, either by gentle request or by force, and having placed him in a vehicle, let us quickly go to Dvārakā.”
‘Sau khi bắt lấy vị dạ-xoa này, dù bằng cách tử tế hay bằng vũ lực, và đặt lên xe, chúng ta hãy nhanh chóng đi đến thành Dvārakā.’
259.
259.
259.
† ‘‘Yassa rukkhassa chāyāya, nisīdeyya sayeyya vā;
Na tassa sākhaṃ bhañjeyya, mittadubbho hi pāpako’’ti.
“Of a tree in whose shade one might sit or lie, one should not break a branch, for a betrayer of a friend is indeed evil.”
‘Dưới bóng của cây nào mà người ta ngồi hoặc nằm, người ấy không nên bẻ cành của cây ấy. Vì kẻ phản bạn là kẻ xấu xa.’
260.
260.
260.
‘‘Yassa rukkhassa chāyāya, nisīdeyya sayeyya vā;
Khandhampi tassa chindeyya, attho ce tādiso siyā’’ti.
“Of a tree in whose shade one might sit or lie, one may even cut down its trunk, if such a need should arise.”
‘Dưới bóng của cây nào mà người ta ngồi hoặc nằm, người ấy có thể chặt cả thân cây, nếu có nhu cầu như vậy.’
261.
261.
261.
‘‘Yassa rukkhassa chāyāya, nisīdeyya sayeyya vā;
Na tassa pattaṃ bhindeyya †, mittadubbho hi pāpako’’ti.
“Of a tree in whose shade one might sit or lie, one should not harm even a leaf, for a betrayer of a friend is indeed evil.”
‘Dưới bóng của cây nào mà người ta ngồi hoặc nằm, người ấy không nên làm hại đến một chiếc lá của cây ấy. Vì kẻ phản bạn là kẻ xấu xa.’
262.
262.
262.
‘‘Yassa rukkhassa chāyāya, nisīdeyya sayeyya vā;
Samūlampi taṃ abbuhe †, attho ce tādiso siyā’’ti.
“Of a tree in whose shade one might sit or lie, one may uproot it completely, if such a need should arise.”
‘Dưới bóng của cây nào mà người ta ngồi hoặc nằm, người ấy có thể nhổ cả cây lên tận gốc, nếu có nhu cầu như vậy.’
263.
263.
263.
‘‘Yassekarattimpi ghare vaseyya, yatthannapānaṃ puriso labhetha;
Na tassa pāpaṃ manasāpi cintaye, kataññutā sappurisehi vaṇṇitā.
“In whose house one might stay for even a single night, from whom a person might receive food and drink, towards him one should not think evil even in the mind; gratitude is praised by the good.”
‘Ở trong nhà của người nào dù chỉ một đêm, nơi mà một người nhận được đồ ăn thức uống, người ấy không nên nghĩ điều xấu về người đó, dù chỉ trong tâm. Lòng biết ơn được các bậc chân nhân tán thán.’
264.
264.
264.
‘‘Yassekarattimpi ghare vaseyya, annena pānena upaṭṭhito siyā;
Na tassa pāpaṃ manasāpi cintaye, adubbhapāṇī dahate mittadubbhiṃ.
“In whose house one might stay for even a single night, and by whom one might be served with food and drink, towards him one should not think evil even in the mind; the hand that does no harm burns the betrayer of a friend.”
‘Ở trong nhà của người nào dù chỉ một đêm, được người ấy phục vụ đồ ăn thức uống, người ấy không nên nghĩ điều xấu về người đó, dù chỉ trong tâm. Bàn tay không làm hại sẽ thiêu đốt kẻ phản bạn.’
265.
265.
265.
‘‘Yo pubbe katakalyāṇo, pacchā pāpena hiṃsati;
Allapāṇihato † poso, na so bhadrāni passatī’’ti.
“Whoever, having previously received a good deed, later harms the benefactor with evil—that person, being ungrateful, does not attain good fortune.”
‘Người nào trước kia đã được làm điều tốt lành cho, mà sau đó lại làm hại bằng điều ác, người đó bị chính bàn tay ân nhân làm hại, sẽ không thấy được những điều tốt đẹp.’
266.
266.
266.
‘‘Nāhaṃ devena vā manussena vā, issariyena vāhaṃ suppasayho;
Yakkhohamasmi paramiddhipatto, dūraṅgamo vaṇṇabalūpapanno’’ti.
“I cannot be subdued by a god, or by a human, or by one with power. I am a yakkha endowed with supreme psychic power, able to travel far, and possessed of beauty and strength.”
‘Ta không dễ bị áp bức bởi chư thiên, hay loài người, hay bởi một kẻ có quyền lực. Ta là một vị dạ-xoa đã đạt được thần thông tối thượng, có thể đi xa, và có đủ sắc đẹp và sức mạnh.’
267.
267.
267.
‘‘Pāṇi te sabbaso vaṇṇo, pañcadhāro madhussavo;
Nānārasā paggharanti, maññehaṃ taṃ purindada’’nti.
“Your hand is entirely of a golden color, five-streamed, and oozing sweetness. Various flavors stream forth from it. I think you are Purindada.”
‘Bàn tay của ngài hoàn toàn có màu vàng, có năm dòng chảy, tuôn ra vị ngọt như mật. Nhiều hương vị khác nhau tuôn chảy ra. Tôi nghĩ ngài là Purindada (vua trời Đế-thích).’
268.
268.
268.
‘‘Nāmhi devo na gandhabbo, nāpi sakko purindado;
Petaṃ maṃ aṅkura jānāhi, roruvamhā † idhāgata’’nti.
“I am not a deva, nor a gandhabba, nor am I Sakka, the Giver in Former Times. Know me, Aṅkura, as a peta who has come here from Roruva.”
‘Này Aṅkura, ta không phải là chư thiên, không phải là càn-thát-bà, cũng không phải là Sakka Purindada. Hãy biết rằng ta là một ngạ quỷ, từ thành Roruva đến đây.’
269.
269.
269.
‘‘Kiṃsīlo kiṃsamācāro, roruvasmiṃ pure tuvaṃ;
Kena te brahmacariyena, puññaṃ pāṇimhi ijjhatī’’ti.
“When you were formerly in the city of Roruva, what was your virtue, what was your conduct? By what noble conduct is the fruit of merit accomplished in your hand?”
‘Khi xưa ở thành Roruva, ngài đã có giới hạnh gì, đã có hạnh kiểm gì? Do phạm hạnh nào của ngài mà phước báu này thành tựu trong bàn tay ngài?’
270.
270.
270.
‘‘Tunnavāyo pure āsiṃ, roruvasmiṃ tadā ahaṃ;
Sukicchavutti kapaṇo, na me vijjati dātave.
“Formerly, I was a tailor in Roruva. At that time, I had a very difficult livelihood and was destitute; I had nothing to give.”
‘Khi xưa ở thành Roruva, ta là một người thợ may. Lúc đó, ta sống rất chật vật, nghèo khổ, không có gì để bố thí.’
271.
271.
271.
‘‘Nivesanañca † me āsi, asayhassa upantike;
Saddhassa dānapatino, katapuññassa lajjino.
“And my dwelling was near that of Asayha, a man of faith, a master of giving, a doer of merit, and one who was conscientious.”
‘Và nhà của ta ở gần nhà của trưởng giả Asayha, một người có tín tâm, là một thí chủ, đã làm các công đức, và có lòng tàm quý.’
272.
272.
272.
‘‘Tattha yācanakā yanti, nānāgottā vanibbakā;
Te ca maṃ tattha pucchanti, asayhassa nivesanaṃ.
“To that place came supplicants and mendicants of various clans. And they would ask me there for the residence of Asayha.”
‘Những người ăn xin và hành khất thuộc nhiều dòng họ khác nhau thường đi đến đó. Và họ hỏi ta về nhà của trưởng giả Asayha.’
273.
273.
273.
‘‘Kattha gacchāma bhaddaṃ vo, kattha dānaṃ padīyati;
Tesāhaṃ puṭṭho akkhāmi, asayhassa nivesanaṃ.
“‘Blessings to you! Where shall we go? Where are alms being given?’ Being asked thus by them, I would declare the residence of Asayha.”
‘(Họ hỏi:) ‘Chúng tôi nên đi đâu? Xin cho các ngài được an lành! Ở đâu có bố thí?’ Khi được họ hỏi, tôi đã chỉ cho họ nhà của trưởng giả Asayha.’
274.
274.
274.
‘‘Paggayha dakkhiṇaṃ bāhuṃ, ettha gacchatha bhaddaṃ vo;
Ettha dānaṃ padīyati, asayhassa nivesane.
“Raising my right arm, I would say: ‘Go here, blessings to you! Here alms are being given, in the residence of Asayha.’”
‘(Tôi) giơ cánh tay phải lên và nói: ‘Hãy đi đến đây! Xin cho các ngài được an lành! Ở đây có bố thí, tại nhà của trưởng giả Asayha.’
275.
275.
275.
‘‘Tena pāṇi kāmadado, tena pāṇi madhussavo;
Tena me brahmacariyena, puññaṃ pāṇimhi ijjhatī’’ti.
“Because of that, my hand is a giver of all that is desired; because of that, my hand flows with excellent things. By that noble conduct of mine, the fruit of merit is accomplished in my hand.”
‘Do đó, bàn tay của ta ban cho điều mong muốn. Do đó, bàn tay của ta tuôn ra vị ngọt như mật. Do phạm hạnh ấy của ta mà phước báu này thành tựu trong bàn tay ta.’
276.
276.
276.
‘‘Na kira tvaṃ adā dānaṃ, sakapāṇīhi kassaci;
Parassa dānaṃ anumodamāno, pāṇiṃ paggayha pāvadi.
“Indeed, you did not give alms to anyone with your own hands; but rejoicing in another’s giving, you raised your hand and spoke.”
‘Quả thật, ngài đã không tự tay mình bố thí cho bất kỳ ai. Ngài chỉ hoan hỷ với việc bố thí của người khác, giơ tay lên và chỉ đường.’
277.
277.
277.
‘‘Tena pāṇi kāmadado, tena pāṇi madhussavo;
Tena te brahmacariyena, puññaṃ pāṇimhi ijjhati.
“Because of that, your hand is a giver of all that is desired; because of that, your hand flows with excellent things. By that noble conduct of yours, the fruit of merit is accomplished in your hand.”
‘Do đó, bàn tay của ngài ban cho điều mong muốn. Do đó, bàn tay của ngài tuôn ra vị ngọt như mật. Do phạm hạnh ấy của ngài mà phước báu này thành tựu trong bàn tay ngài.’
278.
278.
278.
‘‘Yo so dānamadā bhante, pasanno sakapāṇibhi;
So hitvā mānusaṃ dehaṃ, kiṃ nu so disataṃ gato’’ti.
“Venerable sir, he who gave alms with a confident mind and with his own hands—having abandoned the human body, to what destination has he gone?”
‘Thưa ngài, vị trưởng giả đã bố thí với tâm hoan hỷ và bằng chính đôi tay của mình, sau khi từ bỏ thân người, đã đi về phương nào?’
279.
279.
279.
‘‘Nāhaṃ pajānāmi asayhasāhino, aṅgīrasassa gatiṃ āgatiṃ vā;
Sutañca me vessavaṇassa santike, sakkassa sahabyataṃ gato asayho’’ti.
“I do not know the destination or the return of Asayha the Endurer, of the Aṅgīrasa clan. But it has been heard by me in the presence of Vessavaṇa that Asayha has gone into the companionship of Sakka.”
‘Ta không biết được nơi đến hay nơi tái sanh của trưởng giả Asayhasāhī Aṅgīrasa. Nhưng ta đã nghe từ vua trời Vessavaṇa rằng trưởng giả Asayha đã trở thành bạn đồng hành của vua trời Đế-thích.’
280.
280.
280.
‘‘Alameva kātuṃ kalyāṇaṃ, dānaṃ dātuṃ yathārahaṃ;
Pāṇiṃ kāmadadaṃ disvā, ko puññaṃ na karissati.
“It is indeed fitting to do good, to give a gift according to one’s means. Having seen the wish-granting hand, who would not perform meritorious deeds?”
‘Thật đáng để làm điều thiện, để bố thí tùy theo khả năng. Sau khi thấy bàn tay ban cho điều mong muốn, ai lại không làm phước?’
281.
281.
281.
‘‘So hi nūna ito gantvā, anuppatvāna dvārakaṃ;
Dānaṃ paṭṭhapayissāmi, yaṃ mamassa sukhāvahaṃ.
“Surely, having gone from here and reached Dvārakā, I will establish a practice of giving that will bring me happiness.”
Chắc chắn rằng, từ nơi đây ta sẽ đi, sau khi đến thành Dvārakā, ta sẽ thiết lập việc bố thí, việc mà sẽ mang lại hạnh phúc cho ta.
282.
282.
282.
‘‘Dassāmannañca pānañca, vatthasenāsanāni ca;
Papañca udapānañca, dugge saṅkamanāni cā’’ti.
“I shall give food and drink, clothing, lodging, and seats, as well as water-stands and wells, and bridges in places difficult to cross.”
Ta sẽ bố thí vật thực và đồ uống, y phục và chỗ ở, nhà nghỉ công cộng và giếng nước, và cả những cây cầu ở những nơi khó đi.
283.
283.
283.
‘‘Kena te aṅgulī kuṇā †, mukhañca kuṇalīkataṃ †;
Akkhīni ca paggharanti, kiṃ pāpaṃ pakataṃ tayā’’ti.
“Why are your fingers and toes crooked, and your face contorted? And your eyes stream with discharge. What evil deed was done by you?”
Tại sao các ngón tay của ngươi bị cong vẹo, và mặt của ngươi bị méo mó? Và mắt của ngươi lại chảy nước, ngươi đã làm điều ác gì vậy?
284.
284.
284.
‘‘Aṅgīrasassa gahapatino, saddhassa gharamesino;
Tassāhaṃ dānavissagge, dāne adhikato ahuṃ.
“Of the householder Aṅgīrasa, a man of faith who lived at home, I was the one appointed over the giving at his distribution of gifts.”
Ta đã từng là người được bổ nhiệm trông coi việc bố thí tại nơi phân phát của gia chủ Aṅgīrasa, người có đức tin và sống đời tại gia.
285.
285.
285.
‘‘Tattha yācanake disvā, āgate bhojanatthike;
Ekamantaṃ apakkamma, akāsiṃ kuṇaliṃ mukhaṃ.
“There, seeing supplicants who had come desiring food, I would go to one side and make a contorted face.”
Tại nơi ấy, khi thấy những người ăn xin, những người đến vì cần vật thực, ta đã đi sang một bên và làm một bộ mặt nhăn nhó.
286.
286.
286.
‘‘Tena me aṅgulī kuṇā, mukhañca kuṇalīkataṃ;
Akkhīni me paggharanti, taṃ pāpaṃ pakataṃ mayā’’ti.
“Because of that, my fingers and toes are crooked and my face is contorted; my eyes stream. That evil deed was done by me.”
Vì lý do đó, các ngón tay của ta bị cong vẹo, và mặt của ta bị méo mó; mắt của ta chảy nước, đó là điều ác mà ta đã làm.
287.
287.
287.
‘‘Dhammena te kāpurisa, mukhañca kuṇalīkataṃ;
Akkhīni ca paggharanti, yaṃ taṃ parassa dānassa;
Akāsi kuṇaliṃ mukhaṃ.
“Rightly so, O wretched man, your face is contorted and your eyes stream, because at another’s gift you made a contorted face.”
Hỡi kẻ thấp hèn, chính vì lý do chính đáng mà mặt ngươi bị méo mó và mắt ngươi chảy nước, bởi vì ngươi đã làm bộ mặt nhăn nhó đối với việc bố thí của người khác.
288.
288.
288.
‘‘Kathaṃ hi dānaṃ dadamāno, kareyya parapattiyaṃ;
Annaṃ pānaṃ khādanīyaṃ, vatthasenāsanāni ca.
“How indeed, while giving a gift, could one have it accomplished by another? Food, drink, edibles, clothing, lodging, and seats—”
Tại sao người đang bố thí vật thực, đồ uống, y phục và chỗ ở, lại có thể giao phó việc đó cho người khác?
289.
289.
289.
‘‘So hi nūna ito gantvā, anuppatvāna dvārakaṃ;
Dānaṃ paṭṭhapayissāmi, yaṃ mamassa sukhāvahaṃ.
“Surely, having gone from here and reached Dvārakā, I will establish a gift that will be conducive to my happiness.”
Chắc chắn rằng, từ nơi đây ta sẽ đi, sau khi đến thành Dvārakā, ta sẽ thiết lập việc bố thí, việc mà sẽ mang lại hạnh phúc cho ta.
290.
290.
290.
‘‘Dassāmannañca pānañca, vatthasenāsanāni ca;
Papañca udapānañca, dugge saṅkamanāni cā’’ti.
“I shall give food and drink, clothing, lodging, and seats, water-stands and wells, and bridges in difficult passages.”
Ta sẽ bố thí vật thực và đồ uống, y phục và chỗ ở, nhà nghỉ công cộng và giếng nước, và cả những cây cầu ở những nơi khó đi.
291.
291.
291.
Tato hi so nivattitvā, anuppatvāna dvārakaṃ;
Dānaṃ paṭṭhapayi aṅkuro, yaṃtumassa † sukhāvahaṃ.
Then, having turned back from there and reached Dvārakā, Aṅkura established a gift that was conducive to his happiness.
Từ nơi đó, sau khi quay trở về và đến thành Dvārakā, Aṅkura đã thiết lập việc bố thí, việc mà đã mang lại hạnh phúc cho chính mình.
292.
292.
292.
Adā annañca pānañca, vatthasenāsanāni ca;
Papañca udapānañca, vippasannena cetasā.
With a specially serene mind, he gave food and drink, clothing, lodging, and seats, water-stands and wells.
Vị ấy đã bố thí vật thực và đồ uống, y phục và chỗ ở, nhà nghỉ công cộng và giếng nước, với một tâm ý vô cùng trong sạch.
293.
293.
293.
‘‘Ko chāto ko ca tasito, ko vatthaṃ paridahissati;
Kassa santāni yoggāni, ito yojentu vāhanaṃ.
“Who is hungry? And who is thirsty? Who will wear a garment? Whose teams are weary? Let them harness a vehicle from here.”
Ai đang đói? Ai đang khát? Ai muốn mặc y phục? Cỗ xe của ai đã mòn cũ? Hãy đến đây và thắng một cỗ xe.
294.
294.
294.
‘‘Ko chatticchati gandhañca, ko mālaṃ ko upāhanaṃ;
Itissu tattha ghosenti, kappakā sūdamāgadhā †;
Sadā sāyañca pāto ca, aṅkurassa nivesane.
“Who wants a parasol and perfume? Who wants a garland? Who wants sandals?” Thus the barbers, cooks, and perfumers proclaimed there, always in the evening and in the morning, in Aṅkura’s dwelling.
Ai muốn dù? Ai muốn hương thơm? Ai muốn vòng hoa? Ai muốn giày dép? Tại nơi ở của Aṅkura, những người thợ cạo, đầu bếp và người hát rong luôn luôn rao lên như vậy vào buổi chiều và buổi sáng.
295.
295.
295.
‘‘‘Sukhaṃ supati aṅkuro’, iti jānāti maṃ jano;
Dukkhaṃ supāmi sindhaka †, yaṃ na passāmi yācake.
“‘Aṅkura sleeps happily,’ thus the people know me. But I sleep in suffering, O Sindhaka, because I do not see supplicants.”
‘Aṅkura ngủ một cách an lạc’, dân chúng biết về ta như vậy. Hỡi Sindhaka, ta ngủ một cách khổ sở, vì ta không nhìn thấy những người ăn xin.
296.
296.
296.
‘‘‘Sukhaṃ supati aṅkuro’, iti jānāti maṃ jano;
Dukkhaṃ sindhaka supāmi, appake su vanibbake’’ti.
“‘Aṅkura sleeps happily,’ thus the people know me. But I sleep in suffering, O Sindhaka, when the mendicants are few.”
‘Aṅkura ngủ một cách an lạc’, dân chúng biết về ta như vậy. Hỡi Sindhaka, ta ngủ một cách khổ sở, khi có ít người hành khất.
297.
297.
297.
‘‘Sakko ce te varaṃ dajjā, tāvatiṃsānamissaro;
Kissa sabbassa lokassa, varamāno varaṃ vare’’ti.
“If Sakka, lord of the Tāvatiṃsa devas and of all the world, were to grant you a boon, what boon would you, desiring one, choose?”
Nếu Sakka, vị chúa tể của cõi trời Tāvatiṃsa và của toàn thể thế gian, ban cho ngài một điều ước, thì khi mong muốn một điều ước, ngài sẽ chọn điều ước nào?
298.
298.
298.
‘‘Sakko ce me varaṃ dajjā, tāvatiṃsānamissaro;
Kāluṭṭhitassa me sato, suriyuggamanaṃ pati;
Dibbā bhakkhā pātubhaveyyuṃ, sīlavanto ca yācakā.
“If Sakka, lord of the Tāvatiṃsa devas, were to grant me a boon, may it be that for me, having arisen early and waiting for the sunrise, divine foods would appear, and virtuous supplicants would appear.”
Nếu Sakka, vị chúa tể của cõi trời Tāvatiṃsa, ban cho ta một điều ước, thì khi ta thức dậy vào buổi sáng, vào lúc mặt trời mọc, mong rằng các món ăn của chư thiên sẽ hiện ra, và cả những người ăn xin có giới hạnh nữa.
299.
299.
299.
‘‘Dadato me na khīyetha, datvā nānutapeyyahaṃ;
Dadaṃ cittaṃ pasādeyyaṃ, etaṃ sakkaṃ varaṃ vare’’ti.
“May the requisites not be depleted for me while giving; having given, may I not regret it; while giving, may I gladden my mind. This is the boon I would choose from Sakka.”
Mong rằng của cải của ta không cạn kiệt khi ta đang bố thí, sau khi bố thí ta không hối tiếc, và trong khi bố thí, ta làm cho tâm mình được trong sạch. Đây là điều ước mà ta sẽ cầu xin từ Sakka.
300.
300.
300.
‘‘Na sabbavittāni pare pavecche, dadeyya dānañca dhanañca rakkhe;
Tasmā hi dānā dhanameva seyyo, atippadānena kulā na honti.
“One should not give away all one's wealth to others; one should give gifts and also protect one's wealth. For that reason, wealth itself is better than giving; through excessive giving, families do not last.”
Không nên cho đi tất cả tài sản của mình cho người khác, nên bố thí và cũng nên giữ gìn của cải. Do đó, của cải thực sự tốt hơn là bố thí; vì bố thí quá mức, các gia tộc sẽ không còn tồn tại.
301.
301.
301.
‘‘Adānamatidānañca, nappasaṃsanti paṇḍitā;
Tasmā hi dānā dhanameva seyyo, samena vatteyya sa dhīradhammo’’ti.
“Not giving and excessive giving the wise do not praise. For that reason, wealth itself is better than giving. One should act with moderation; that is the way of the wise.”
Không bố thí và bố thí quá mức, các bậc hiền trí không tán dương. Do đó, của cải thực sự tốt hơn là bố thí; nên hành xử một cách chừng mực, đó là pháp của người trí.
302.
302.
302.
‘‘Aho vata re ahameva dajjaṃ, santo ca maṃ sappurisā bhajeyyuṃ;
Meghova ninnāni paripūrayanto †, santappaye sabbavanibbakānaṃ.
“Ah, would that I myself might give, and that the peaceful and good people would associate with me! Just as a cloud, filling the lowlands, I would satisfy all mendicants.”
Ôi, mong rằng chính ta sẽ bố thí, và mong rằng những bậc chân nhân thanh tịnh sẽ đến với ta. Giống như đám mây làm đầy những vùng đất trũng, mong rằng ta sẽ làm thỏa mãn tất cả những người hành khất.
303.
303.
303.
‘‘Yassa yācanake disvā, mukhavaṇṇo pasīdati;
Datvā attamano hoti, taṃ gharaṃ vasato sukhaṃ.
“For one whose facial complexion brightens upon seeing supplicants, and who, having given, is glad at heart—that is the happiness of one dwelling in a home.”
Người nào khi thấy người ăn xin, sắc mặt trở nên hoan hỷ; sau khi bố thí, tâm trở nên vui vẻ, đó là hạnh phúc của người sống tại gia.
304.
304.
304.
‘‘Yassa yācanake disvā, mukhavaṇṇo pasīdati;
Datvā attamano hoti, esā yaññassa † sampadā.
“For one whose facial complexion brightens upon seeing supplicants, and who, having given, is glad at heart—this is the perfection of the sacrifice.”
Người nào khi thấy người ăn xin, sắc mặt trở nên hoan hỷ; sau khi bố thí, tâm trở nên vui vẻ, đó là sự thành tựu của việc cúng dường.
305.
305.
305.
† ‘‘Pubbeva dānā sumano, dadaṃ cittaṃ pasādaye;
Datvā attamano hoti, esā yaññassa † sampadā’’ti.
“One is glad of mind even before giving; while giving, one gladdens the mind; having given, one is glad at heart—this is the perfection of the sacrifice.”
Trước khi bố thí, tâm đã hoan hỷ; trong khi đang bố thí, làm cho tâm được trong sạch; sau khi đã bố thí, tâm vẫn hoan hỷ, đó là sự thành tựu của việc cúng dường.
306.
306.
306.
Saṭṭhi vāhasahassāni, aṅkurassa nivesane;
Bhojanaṃ dīyate niccaṃ, puññapekkhassa jantuno.
In the dwelling of Aṅkura, who was desirous of merit, sixty thousand cartloads of food were always given to beings.
Sáu mươi ngàn xe chở vật thực được bố thí thường xuyên tại nhà của Aṅkura, người mong cầu phước báu, cho chúng sanh.
307.
307.
307.
Tisahassāni sūdāni hi †, āmuttamaṇikuṇḍalā;
Aṅkuraṃ upajīvanti, dāne yaññassa vāvaṭā †.
Three thousand cooks wearing jewel earrings, engaged in the giving of the sacrifice, made their living from Aṅkura.
Ba ngàn người đầu bếp, đeo bông tai bằng ngọc, chuyên tâm vào việc bố thí cúng dường, sống nương tựa vào Aṅkura.
308.
308.
308.
Saṭṭhi purisasahassāni, āmuttamaṇikuṇḍalā;
Aṅkurassa mahādāne, kaṭṭhaṃ phālenti māṇavā.
Sixty thousand young men, wearing jewel earrings, split wood for Aṅkura’s great giving.
Sáu mươi ngàn thanh niên, đeo bông tai bằng ngọc, chẻ củi cho cuộc đại thí của Aṅkura.
309.
309.
309.
Soḷasitthisahassāni, sabbālaṅkārabhūsitā;
Aṅkurassa mahādāne, vidhā piṇḍenti nāriyo.
Sixteen thousand women, adorned with all ornaments, formed various foods into balls for Aṅkura’s great giving.
Mười sáu ngàn phụ nữ, được trang điểm với tất cả các đồ trang sức, vo viên các loại bánh tại cuộc đại thí của Aṅkura.
310.
310.
310.
Soḷasitthisahassāni, sabbālaṅkārabhūsitā;
Aṅkurassa mahādāne, dabbigāhā upaṭṭhitā.
Sixteen thousand women, adorned with all ornaments, stood in attendance holding ladles at Aṅkura’s great giving.
Mười sáu ngàn phụ nữ, được trang điểm với tất cả các đồ trang sức, tay cầm muỗng, đứng hầu tại cuộc đại thí của Aṅkura.
311.
311.
311.
Bahuṃ bahūnaṃ pādāsi, ciraṃ pādāsi khattiyo;
Sakkaccañca sahatthā ca, cittīkatvā punappunaṃ.
The khattiya gave much to many, he gave for a long time; with reverence and with his own hand, showing respect again and again.
Vị Sát-đế-lợi đã bố thí nhiều vật phẩm cho nhiều người, bố thí trong thời gian dài; một cách kính cẩn và bằng chính tay mình, với lòng tôn trọng, lại còn nhiều lần.
312.
312.
312.
Bahū māse ca pakkhe ca, utusaṃvaccharāni ca;
Mahādānaṃ pavattesi, aṅkuro dīghamantaraṃ.
For many months and fortnights, seasons and years, Aṅkura carried on the great giving for a long time.
Aṅkura đã thực hiện cuộc đại thí trong thời gian dài, qua nhiều tháng và nhiều nửa tháng, qua nhiều mùa và nhiều năm.
313.
313.
313.
Evaṃ datvā yajitvā ca, aṅkuro dīghamantaraṃ;
So hitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsūpago ahu.
Thus having given and sacrificed for a long time, that Aṅkura, leaving the human body, went to the Tāvatiṃsa heaven.
Aṅkura ấy, sau khi bố thí và cúng dường như vậy trong thời gian dài, đã từ bỏ thân người và sanh lên cõi trời Ba Mươi Ba.
314.
314.
314.
Kaṭacchubhikkhaṃ datvāna, anuruddhassa indako;
So hitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsūpago ahu.
Indaka, having given a ladleful of almsfood to Anuruddha, left the human body and went to the Tāvatiṃsa heaven.
Indaka, sau khi cúng dường một muỗng vật thực đến ngài Anuruddha, đã từ bỏ thân người và sanh lên cõi trời Ba Mươi Ba.
315.
315.
315.
Dasahi ṭhānehi aṅkuraṃ, indako atirocati;
Rūpe sadde rase gandhe, phoṭṭhabbe ca manorame.
In ten respects, Indaka outshines Aṅkura: in delightful form, sound, taste, smell, and touch.
Indaka vượt trội hơn Aṅkura về mười phương diện: về sắc, thanh, vị, hương, và xúc khả ái.
316.
316.
316.
Āyunā yasasā ceva, vaṇṇena ca sukhena ca;
Ādhipaccena aṅkuraṃ, indako atirocati.
In lifespan and fame, in appearance and happiness, and in dominion, Indaka surpasses Aṅkura.
Về thọ mạng, danh tiếng, dung sắc, an lạc và quyền uy, Indaka chói sáng (vượt trội) hơn hẳn Aṅkura.
317.
317.
317.
Tāvatiṃse yadā buddho, silāyaṃ paṇḍukambale;
Pāricchattakamūlamhi, vihāsi purisuttamo.
When the Buddha, the supreme among men, dwelt in Tāvatiṃsa, near the Pāricchattaka tree, on the stone seat named Paṇḍukambala,
Khi ấy, tại cõi trời Ba Mươi Ba, Đức Phật, bậc Tối Thượng Nhân, ngự trên phiến đá Paṇḍukambala, dưới gốc cây Pāricchattaka.
318.
318.
318.
Dasasu lokadhātūsu, sannipatitvāna devatā;
Payirupāsanti sambuddhaṃ, vasantaṃ nagamuddhani.
Devas and brahmas dwelling in the ten thousand world-systems, having assembled, attend upon the Perfectly Enlightened One, who was dwelling on the peak of Mount Meru.
Chư thiên từ mười ngàn thế giới, sau khi tụ hội, hầu cận Đức Chánh Đẳng Giác đang ngự trên đỉnh núi.
319.
319.
319.
Na koci devo vaṇṇena, sambuddhaṃ atirocati;
Sabbe deve atikkamma †, sambuddhova virocati.
No deva or brahma surpasses the Perfectly Enlightened One in radiance; only the Perfectly Enlightened One, having surpassed all devas and brahmas, shines forth.
Không một vị trời nào về dung sắc có thể vượt hơn Đức Chánh Đẳng Giác; chính Đức Chánh Đẳng Giác, sau khi vượt qua tất cả chư thiên, tỏa sáng rực rỡ.
320.
320.
320.
Yojanāni dasa dve ca, aṅkuroyaṃ tadā ahu;
Avidūreva buddhassa †, indako atirocati.
At that time, this Aṅkura was twelve yojanas away; Indaka, not far from the Buddha, outshone him.
Khi ấy, Aṅkura này ở cách mười hai do-tuần; còn Indaka ở gần Đức Phật, tỏa sáng rực rỡ.
321.
321.
321.
Oloketvāna sambuddho, aṅkurañcāpi indakaṃ;
Dakkhiṇeyyaṃ sambhāvento †, idaṃ vacanamabravi.
The Perfectly Enlightened One, having looked upon both Aṅkura and Indaka, wishing to make manifest the worthiness of the recipient of offerings, spoke these words:
Đức Chánh Đẳng Giác, sau khi nhìn cả Aṅkura và Indaka, muốn làm cho rõ về người đáng thọ nhận, đã nói lời này.
322.
322.
322.
‘‘Mahādānaṃ tayā dinnaṃ, aṅkura dīghamantaraṃ;
Atidūre † nisinnosi, āgaccha mama santike’’ti.
“Aṅkura, you gave a great gift for a long time. You are seated very far away; come into my presence.”
“Này Aṅkura, ngươi đã thực hiện cuộc đại thí trong thời gian dài; sao lại ngồi ở nơi rất xa? Hãy lại gần Ta.”
323.
323.
323.
Codito bhāvitattena, aṅkuro idamabravi;
‘‘Kiṃ mayhaṃ tena dānena, dakkhiṇeyyena suññataṃ.
Urged by the One with a Developed Mind, Aṅkura said this: “What is that gift to me, which was void of a worthy recipient?
Được bậc có tâm đã tu tập thúc giục, Aṅkura đã nói lời này: “Sự bố thí ấy của con có ích gì, khi nó trống không người đáng thọ nhận.”
324.
324.
324.
‘‘Ayaṃ so indako yakkho, dajjā dānaṃ parittakaṃ;
Atirocati amhehi, cando tāragaṇe yathā’’ti.
“This deva Indaka, having given a small gift, surpasses us in splendor, just as the moon among a host of stars.”
“Dạ-xoa Indaka này, đã cho một món thí nhỏ, lại tỏa sáng vượt trội hơn chúng con, như mặt trăng giữa các vì sao.”
325.
325.
325.
‘‘Ujjaṅgale yathā khette, bījaṃ bahumpi ropitaṃ;
Na vipulaphalaṃ hoti, napi toseti kassakaṃ.
“Just as in a barren field, though much seed is sown, it does not yield abundant fruit, nor does it please the farmer.
“Như trên thửa ruộng cằn cỗi, hạt giống dù được gieo nhiều, cũng không cho quả lớn, và không làm vui lòng người nông phu.”
326.
326.
326.
‘‘Tatheva dānaṃ bahukaṃ, dussīlesu patiṭṭhitaṃ;
Na vipulaphalaṃ hoti, napi toseti dāyakaṃ.
“In the same way, a great gift established in the immoral does not yield abundant fruit, nor does it please the donor.
“Cũng như vậy, sự bố thí dù nhiều, được đặt vào những người không có giới, cũng không cho quả lớn, và không làm vui lòng người thí chủ.”
327.
327.
327.
‘‘Yathāpi bhaddake khette, bījaṃ appampi ropitaṃ;
Sammā dhāraṃ pavecchante, phalaṃ toseti kassakaṃ.
“Just as in a fertile field, though little seed is sown, when the rain falls properly, the fruit pleases the farmer.
“Và như trên thửa ruộng tốt, hạt giống dù được gieo ít, khi mưa rơi xuống đúng lúc, quả làm vui lòng người nông phu.”
328.
328.
328.
‘‘Tatheva sīlavantesu, guṇavantesu tādisu;
Appakampi kataṃ kāraṃ, puññaṃ hoti mahapphala’’nti.
“In the same way, for the virtuous, for those endowed with such qualities, a meritorious act, though small, is of great fruit.”
“Cũng như vậy, nơi những người có giới, có đức hạnh như thế, việc làm dù nhỏ, phước cũng có quả lớn.”
329.
329.
329.
Viceyya dānaṃ dātabbaṃ, yattha dinnaṃ mahapphalaṃ;
Viceyya dānaṃ datvāna, saggaṃ gacchanti dāyakā.
A gift should be given with discernment, where what is given yields great fruit. Having given a gift with discernment, donors go to the heavenly world.
Nên suy xét rồi bố thí, nơi nào cho có quả lớn. Do bố thí sau khi suy xét, các thí chủ đi đến cõi trời.
330.
330.
330.
Viceyya dānaṃ sugatappasatthaṃ, ye dakkhiṇeyyā idha jīvaloke;
Etesu dinnāni mahapphalāni, bījāni vuttāni yathā sukhetteti.
Giving with discernment is praised by the Sugata. Gifts given to those worthy of offerings here in the world of living beings are of great fruit, just like seeds sown in a good field.
Sự bố thí sau khi suy xét được Thiện Thệ tán thán. Những ai là người đáng thọ nhận trong thế gian này, những vật được cho đến các vị ấy có quả lớn, như những hạt giống được gieo trên thửa ruộng tốt.
Aṅkurapetavatthu navamaṃ.
The Ninth: The Story of the Peta Aṅkura.
Câu chuyện ngạ quỷ Aṅkura, thứ chín.