Bản dịch
PV 20 — Chuyện Ngạ Quỷ Cullaseṭṭhi
8. Cūḷaseṭṭhipetavatthu
BJT 247“Thưa ngài, ngài là vị xuất gia, lõa lồ, ốm o. Ban đêm ngài đi đâu? Với lý do của việc gì? Xin ngài hãy nói với trẫm điều ấy, chúng tôi cũng có khả năng; trẫm có thể chu cấp cho ngài của cải cùng với mọi thứ.”
BJT 248“Thành phố Bārāṇasī được tiếng vang đồn xa. Ở tại nơi ấy, tôi là người gia chủ giàu có, bủn xỉn, không bố thí, có tâm ham muốn về vật chất. Do bản tính xấu xa, tôi đã đi đến cảnh giới của Dạ-ma.
BJT 249Vì những việc ấy, tôi đây bị khổ nhọc vì sự châm chích (bởi đói). Chính vì điều ấy, tôi đi đến nơi các thân quyến vì nguyên nhân vật thực. Nhưng họ không có bản tính bố thí, và không tin là có quả báo của sự bố thí trong đời sau.
BJT 250Còn người con gái của tôi thường xuyên nói rằng: ‘Con sẽ dâng cúng vật thí đến các bậc cha ông.’ Họ đang cung phụng vật đã được chuẩn bị đến các vị Bà-la-môn, tôi đi đến Andhakavinda để thọ hưởng.”
BJT 251Đức vua đã nói với ngạ quỷ ấy rằng: ‘Sau khi hưởng thụ vật ấy xong, ngài nên mau mau trở lại; trẫm cũng sẽ thực hiện việc cúng dường. Nếu có nguyên do, xin ngài hãy nói điều ấy với trẫm. Trẫm lắng nghe lời nói về nguyên do đáng được tin tưởng.’
BJT 252Sau khi nói rằng: ‘Như vậy đi,’ ngạ quỷ ấy đã đi đến nơi ấy. Các vị Bà-la-môn đã thọ dụng bữa ăn, tuy nhiên họ không xứng đáng với sự cúng dường. Ngạ quỷ ấy đã quay trở lại Rājagaha lần nữa, rồi đã hiện ra phía trước vị lãnh đạo dân chúng.
BJT 253Sau khi nhìn thấy ngạ quỷ đã đi đến thêm lần nữa, đức vua đã nói rằng: ‘Trẫm sẽ bố thí vật gì đây? Nếu có nguyên do, xin ngài hãy nói điều ấy với trẫm, nhờ đó ngài có thể được thỏa mãn lâu dài.’
BJT 254‘Thưa đức vua, sau khi cung phụng đức Phật và hội chúng bằng cơm ăn, luôn cả nước uống, và y phục, ngài hãy chỉ định sự cúng dường ấy nhằm sự lợi ích cho tôi; như vậy tôi có thể được thỏa mãn lâu dài.’
BJT 255Vì thế, liền khi ấy đức vua đã đi xuống. Sau khi đã tự tay dâng cúng vật thí vô song đến Hội Chúng, đức vua đã thuật lại sự việc đến đức Thế Tôn và đã chỉ định sự cúng dường đến ngạ quỷ ấy.
BJT 256Được cúng dường, ngạ quỷ ấy đã hiện ra phía trước vị lãnh đạo dân chúng, chói sáng vô cùng (nói rằng): ‘Tôi trở thành vị Dạ-xoa, đạt được thần thông tối thắng; loài người không sánh bằng hay tương đương với thần thông của tôi.
BJT 257Xin đức vua hãy nhìn xem năng lực vô lượng này của tôi do ngài đã chỉ định sau khi dâng cúng vật vô song đến Hội Chúng; tôi thường xuyên được toại ý vào mọi lúc nhờ vào nhiều (vật thí của ngài). Thưa vị chúa của loài người, đã được hạnh phúc, tôi xin ra đi.”
Chuyện Ngạ Quỷ Cullaseṭṭhi là thứ tám.
TỤNG PHẨM THỨ NHẤT.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
8. Cūḷaseṭṭhipetavatthu
8. The Story of the Cūḷaseṭṭhi Peta
8. Chuyện Ngạ Quỷ Tiểu Trưởng Giả
246.
246.
246.
‘‘Naggo kiso pabbajitosi bhante, rattiṃ kuhiṃ gacchasi kissa hetu;
Ācikkha me taṃ api sakkuṇemu, sabbena vittaṃ paṭipādaye tuva’’nti.
“Venerable sir, you are naked and emaciated. Are you a renunciant? Where do you go at night, and for what reason? Tell me this, for we might be able to provide you with wealth in every way.”
Thưa ngài, ngài trần truồng, gầy gò, trông như một vị xuất gia. Ban đêm ngài đi đâu, vì lý do gì? Xin hãy cho tôi biết điều đó. Có lẽ chúng tôi có thể cung cấp cho ngài đầy đủ tài sản.
247.
247.
247.
‘‘Bārāṇasī nagaraṃ dūraghuṭṭhaṃ, tatthāhaṃ gahapati aḍḍhako ahu dīno;
Adātā gedhitamano āmisasmiṃ, dussīlyena yamavisayamhi patto.
“The city of Bārāṇasī is renowned from afar. There, I was a wealthy but miserly householder. I was not a giver, and my mind was greedy for material things. Through that immorality, I have arrived in the realm of Yama.”
Có thành phố Bārāṇasī nổi danh xa gần. Ở đó, tôi từng là một gia chủ giàu có nhưng bủn xỉn, không chịu bố thí, tâm tham đắm tài vật. Do ác hạnh ấy, tôi đã phải sanh vào cõi của vua Yama.
248.
248.
248.
‘‘So sūcikāya kilamito tehi,
Teneva ñātīsu yāmi āmisakiñcikkhahetu;
Adānasīlā na ca saddahanti,
Dānaphalaṃ hoti paramhi loke.
“Because of those deeds, I am afflicted with piercing hunger. For that very reason, I go among my relatives for the sake of some material trifle. Those of an ungiving nature do not have faith that there is a fruit of giving in the next world.”
Do những nghiệp ấy, tôi bị cơn đói hành hạ. Chính vì thế, tôi đến với bà con thân thuộc, mong tìm một chút vật thực. Những kẻ không có thói quen bố thí thì không tin rằng có quả báo của sự cho đi ở đời sau.
249.
249.
249.
‘‘Dhītā ca mayhaṃ lapate abhikkhaṇaṃ, ‘dassāmi dānaṃ pitūnaṃ pitāmahānaṃ’;
Tamupakkhaṭaṃ parivisayanti brāhmaṇā †, ‘yāmi ahaṃ andhakavindaṃ bhottu’’’nti.
“My daughter constantly says, ‘I will give a gift for my parents and ancestors.’ Brahmins are consuming that prepared gift. I am going to Andhakavinda to eat.”
Con gái của tôi thường hay nói rằng: ‘Con sẽ cúng dường để hồi hướng cho cha mẹ và ông bà.’ Lễ vật cúng dường đó được dọn cho các vị Bà-la-môn. Tôi đang đi đến Andhakavinda để thọ thực.
250.
250.
250.
Tamavoca rājā ‘‘anubhaviyāna tampi,
Eyyāsi khippaṃ ahamapi kassaṃ pūjaṃ;
Ācikkha me taṃ yadi atthi hetu,
Saddhāyitaṃ hetuvaco suṇomā’’ti.
The king said to him: “Having partaken of that as well, return quickly, and I too shall make an offering. Tell me the reason, if there is one; we will listen with faith to your reasoned words.”
Nhà vua nói: ‘Sau khi thọ hưởng lễ vật ấy, hãy nhanh chóng quay lại đây. Ta cũng sẽ cúng dường cho ngươi. Nếu có nguyên do gì, hãy cho ta biết. Chúng ta muốn nghe những lời nói hợp lý đáng tin.’
251.
251.
251.
‘Tathā’ti vatvā agamāsi tattha, bhuñjiṃsu bhattaṃ na ca dakkhiṇārahā;
Paccāgami rājagahaṃ punāparaṃ, pāturahosi purato janādhipassa.
Saying, “So be it,” he went there. Immoral brahmins ate the food, but they were not worthy of the offering. He returned once again to Rājagaha and appeared before the king.
Nói ‘Xin vâng,’ ngạ quỷ liền đi đến đó. Bữa ăn được dọn ra, nhưng những người thọ thực lại không phải là bậc đáng được cúng dường. Ngạ quỷ lại quay về thành Rājagaha, và hiện ra trước mặt nhà vua.
252.
252.
252.
Disvāna petaṃ punadeva āgataṃ, rājā avoca ‘‘ahamapi kiṃ dadāmi;
Ācikkha me taṃ yadi atthi hetu, yena tuvaṃ cirataraṃ pīṇito siyā’’ti.
Seeing the peta returned again, the king said: “What shall I give you? Tell me, if there is a reason, by which you might be satisfied for a longer time.”
Thấy ngạ quỷ trở lại, nhà vua nói: ‘Ta nên cúng dường vật gì đây? Nếu có cách nào để ngươi được no đủ trong một thời gian dài, xin hãy cho ta biết.’
253.
253.
253.
‘‘Buddhañca saṅghaṃ parivisiyāna rāja, annena pānena ca cīvarena;
Taṃ dakkhiṇaṃ ādisa me hitāya, evaṃ ahaṃ cirataraṃ pīṇito siyā’’ti.
“O king, having served the Buddha and the Sangha with food, drink, and robes, dedicate that offering for my welfare. In this way, I might be satisfied for a longer time.”
Tâu đại vương, xin hãy cúng dường đồ ăn, thức uống và y phục đến Đức Phật và Tăng đoàn. Rồi xin hãy hồi hướng phước báu ấy vì lợi ích cho tôi. Như vậy, tôi sẽ được no đủ trong một thời gian dài.
254.
254.
254.
Tato ca rājā nipatitvā tāvade †, dānaṃ sahatthā atulaṃ daditvā † saṅghe;
Ārocesi pakataṃ † tathāgatassa, tassa ca petassa dakkhiṇaṃ ādisittha.
Then the king, having gone out at that very moment, gave an incomparable gift to the Sangha with his own hands, announced the deed to the Tathāgata, and dedicated the offering to that peta.
Bởi vì lời ấy, đức vua A-xà-thế đi ra ngay lúc ấy, tự tay dâng cúng vật thực vô song đến chư Tăng; Ngài đã trình sự việc lên đấng Như Lai, và đã hồi hướng phần phước dâng cúng đến ngạ quỷ ấy.
255.
255.
255.
So pūjito ativiya sobhamāno, pāturahosi purato janādhipassa;
‘‘Yakkhohamasmi paramiddhipatto, na mayhamatthi samā sadisā † mānusā.
Honored and exceedingly radiant, he appeared before the king. “I am a yakkha who has attained supreme power; no human is my equal or my peer.”
Vị ấy, sau khi được cúng dường, trở nên vô cùng lộng lẫy, đã hiện ra trước mặt vị vua chúa của loài người. (Và nói rằng:) ‘Tôi là một vị dạ-xoa đã đạt được thần thông tối thượng, không có người nào bằng hoặc tương tự như tôi.’
256.
256.
256.
‘‘Passānubhāvaṃ aparimitaṃ mamayidaṃ, tayānudiṭṭhaṃ atulaṃ datvā saṅghe;
Santappito satataṃ sadā bahūhi, yāmi ahaṃ sukhito manussadevā’’ti.
“Behold this immeasurable power of mine, which has resulted from the incomparable gift you gave to the Sangha and dedicated to me. I have been constantly and always well satisfied by you with many things. Now, O god among men, I go happily.”
‘Hãy nhìn xem oai lực vô biên này của tôi. Do ngài đã dâng cúng vật thực vô song đến chư Tăng và hồi hướng đến tôi, tôi đã được thỏa mãn luôn luôn, thường xuyên, với nhiều vật phẩm. Thưa Thiên vương của loài người, tôi được an lạc, nay xin ra đi.’
Cūḷaseṭṭhipetavatthu aṭṭhamaṃ niṭṭhitaṃ.
The Story of the Cūḷaseṭṭhi Peta, the Eighth, is concluded.
Câu chuyện ngạ quỷ Cūḷaseṭṭhi, câu chuyện thứ tám, đã kết thúc.
Bhāṇavāraṃ paṭhamaṃ niṭṭhitaṃ.
The first recitation section is concluded.
Phẩm tụng đọc thứ nhất đã kết thúc.