Bản dịch
PV 19 — Chuyện Ngạ Quỷ Dhanapāla
7. Dhanapālaseṭṭhipetavatthu
BJT 227“Ông lõa lồ, có vóc dáng xấu xí, ốm o, nổi đầy gân, lòi cả xương sườn, gầy guộc. Này ông, vậy thì ông là ai?”
BJT 228“Thưa quý ngài, tôi là ngạ quỷ bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 229“Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà từ nơi đây ông đã đi đến thế giới ngạ quỷ?”
BJT 230“Có thành phố thuộc xứ sở Dasanna được biết tiếng là Erakaccha. Tại nơi ấy, trước đây tôi đã là nhà đại phú; mọi người đã biết tôi là ‘Dhanapāla.’
BJT 231Tôi đã có tám mươi xe tải vàng thô; tôi có dồi dào vàng ròng, nhiều ngọc trai ngọc bích.
BJT 232Cho dầu có tài sản lớn đến chừng ấy, sự yêu thích bố thí đã không có đối với tôi. Tôi đóng cửa lớn rồi mới ăn (nghĩ rằng): ‘Chớ để cho những kẻ ăn xin nhìn thấy ta.’
BJT 233Tôi đã là người không có đức tin, bỏn xẻn, keo kiệt, là kẻ mắng nhiếc. Tôi đã cản ngăn nhiều người trong lúc họ đang bố thí, trong lúc họ đang thực hành (việc thu thúc, nói rằng):
BJT 234-235‘Không có quả thành tựu của việc bố thí, từ đâu có quả báo của việc thu thúc?’ Tôi đã phá hủy các hồ sen, các giếng nước, các khu vườn đã được trồng trọt, các trạm bố thí nước uống, và các lối vượt qua ở nơi hiểm trở. Tôi đây đã không làm việc tốt, đã làm việc ác, sau đó đã chết đi.
BJT 236-237Tôi đã bị sanh vào cảnh giới ngạ quỷ, bị gánh chịu sự đói khát. Năm mươi lăm năm kể từ khi tôi đã qua đời, tôi không biết đến việc đã được ăn hay là đã được uống nước. Cái gì là sự đeo níu, cái ấy là sự hư hỏng; cái gì là sự hư hỏng, cái ấy là sự đeo níu.
BJT 238Nghe nói chính các ngạ quỷ biết rằng: ‘Cái gì là sự đeo níu, cái ấy là sự hư hỏng.’ Trước đây, tôi đã đeo níu, tôi đã không bố thí trong khi có nhiều tài sản.
BJT 239Trong khi các vật bố thí đang hiện hữu, tôi đã không tạo lập hòn đảo (nương nhờ) cho bản thân; về sau tôi đây hối tiếc, khi gánh lấy hậu quả của nghiệp thuộc về bản thân.
BJT 240Bốn tháng nữa, tôi sẽ chết. Tôi sẽ rơi vào địa ngục vô cùng khổ sở, ghê rợn.
BJT 241Địa ngục có bốn góc, có bốn cửa, được phân chia thành các phần cân xứng, được bao quanh bằng tường sắt, được đậy lại bằng tấm sắt.
BJT 242Mặt nền của nó làm bằng sắt, cháy rực, có sức nóng, tỏa rộng ra xung quanh một trăm do-tuần, và luôn luôn tồn tại.
BJT 243Tại nơi ấy, trong thời gian dài tôi sẽ cảm thọ khổ, quả báo của nghiệp ác; vì thế tôi vô cùng sầu muộn.
BJT 244Vì vậy, tôi nói với quý vị rằng: ‘Mong rằng điều tốt lành cho tất cả quý vị đã tụ hội ở đây. Quý vị chớ làm việc ác dầu là lộ liễu hay khuất lấp.
BJT 245Bởi vì, nếu quý vị sẽ làm hoặc đang làm nghiệp ác, đối với quý vị sẽ không có sự thoát khỏi khổ đau, cho dầu quý vị bay lên trời chạy trốn.
BJT 246Quý vị hãy thể hiện sự phục vụ mẹ, sự phục vụ cha, sự tôn kính các bậc trưởng thượng trong gia tộc, hãy thể hiện sự tôn kính các Sa-môn, các Bà-la-môn, như vậy quý vị sẽ đi đến cõi Trời.”
Chuyện Ngạ Quỷ Dhanapāla là thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Dhanapālaseṭṭhipetavatthu
7. The Story of the Peta Dhanapāla the Treasurer
7. Chuyện Ngạ Quỷ Trưởng Giả Dhanapāla
227.
227.
227.
‘‘Naggo dubbaṇṇarūposi, kiso dhamanisanthato;
Upphāsuliko kisiko, ko nu tvamasi mārisa’’.
“You are naked and of ugly appearance, emaciated and with your body covered by a network of veins. You have protruding ribs and are exceedingly emaciated. Who are you, friend?”
Này bạn, ngươi trần truồng, hình dạng xấu xí, gầy gò, nổi đầy gân guốc; sườn lòi cả ra, thân thể tiều tụy. Này bạn, ngươi là ai vậy?
228.
228.
228.
‘‘Ahaṃ bhadante petomhi, duggato yamalokiko;
Pāpakammaṃ karitvāna, petalokaṃ ito gato’’.
“Venerable sirs, I am a peta, fallen into a woeful state, belonging to the world of Yama. Having committed an evil deed, I have gone from here to the peta-world.”
Thưa các ngài, tôi là một ngạ quỷ, sanh vào cõi khổ, thuộc thế giới của vua Yama. Do đã làm điều ác, nên từ cõi này tôi đã sanh vào thế giới ngạ quỷ.
229.
229.
229.
‘‘Kiṃ nu kāyena vācāya, manasā dukkaṭaṃ kataṃ;
Kissa kammavipākena, petalokaṃ ito gato’’.
“What evil deed was done by you with body, speech, or mind? By the result of what kamma have you gone from here to the peta-world?”
Ngươi đã làm điều ác gì bằng thân, bằng lời, hay bằng ý? Do quả báo của nghiệp gì mà ngươi từ cõi này phải sanh vào thế giới ngạ quỷ?
230.
230.
230.
‘‘Nagaraṃ atthi paṇṇānaṃ †, erakacchanti vissutaṃ;
Tattha seṭṭhi pure āsiṃ, dhanapāloti maṃ vidū.
“There is a renowned city of the Paṇṇas known as Erakaccha. There, in a former existence, I was a treasurer, and people knew me as Dhanapāla.”
Có một thành phố của các vị vua Paṇṇa, nổi danh là Erakaccha. Trước kia, tôi từng là một trưởng giả ở đó, người ta biết đến tôi với tên gọi Dhanapāla.
231.
231.
231.
‘‘Asīti sakaṭavāhānaṃ, hiraññassa ahosi me;
Pahūtaṃ me jātarūpaṃ, muttā veḷuriyā bahū.
“Of silver, I had eighty cartloads; my gold was abundant, and pearls and beryl were many.”
Ta đã có tám mươi cỗ xe chở đầy bạc, vàng của ta cũng rất nhiều, cùng vô số ngọc trai và lưu ly.
232.
232.
232.
‘‘Tāva mahaddhanassāpi, na me dātuṃ piyaṃ ahu;
Pidahitvā dvāraṃ bhuñjiṃ †, mā maṃ yācanakāddasuṃ.
“Although possessing such great wealth, I had no desire to give. I would close my door and eat, thinking, ‘Let not the beggars see me.’”
Dù có tài sản lớn lao như vậy, ta vẫn không thích bố thí. Ta đóng cửa lại mà ăn, với ý nghĩ: ‘Mong rằng những người ăn xin đừng thấy ta.’
233.
233.
233.
‘‘Assaddho maccharī cāsiṃ, kadariyo paribhāsako;
Dadantānaṃ karontānaṃ, vārayissaṃ bahu jane †.
“I was faithless, miserly, and avaricious, a rebuker of others; I would prevent many people from giving alms and performing meritorious deeds.”
Ta là kẻ không tín tâm, keo kiệt, bủn xỉn và hay mắng nhiếc. Ta đã ngăn cản nhiều người đang bố thí và làm các việc phước thiện.
234.
234.
234.
‘‘Vipāko natthi dānassa, saṃyamassa kuto phalaṃ;
Pokkharaññodapānāni, ārāmāni ca ropite;
Papāyo ca vināsesiṃ, dugge saṅkamanāni ca.
“‘There is no fruit from giving; whence the result of restraint?’ I destroyed lotus ponds, wells, planted parks, wayside water-stalls, and bridges in difficult places.”
‘Không có quả báo của việc bố thí, làm sao có kết quả của sự tự chế?’ Ta đã phá hoại các ao hồ, giếng nước, các khu vườn đã được trồng, các trạm nước uống, và những cây cầu ở nơi khó đi.
235.
235.
235.
‘‘Svāhaṃ akatakalyāṇo, katapāpo tato cuto;
Upapanno pettivisayaṃ, khuppipāsasamappito.
“I, who had done no good and had committed evil, passed away from there and was reborn in the domain of petas, afflicted by hunger and thirst.”
Ta, kẻ không làm điều lành, chỉ làm điều ác, sau khi chết từ cõi đó, đã tái sanh vào cảnh giới ngạ quỷ, phải chịu đựng đói và khát.
236.
236.
236.
‘‘Pañcapaṇṇāsavassāni, yato kālaṅkato ahaṃ;
Nābhijānāmi bhuttaṃ vā, pītaṃ vā pana pāniyaṃ.
“It has been fifty-five years since I died, and I do not recall having eaten food or drunk any water.”
Đã năm mươi lăm năm, kể từ khi ta qua đời, ta không hề biết đến việc được ăn hay được uống một chút nước nào.
237.
237.
237.
‘‘Yo saṃyamo so vināso,yo vināso so saṃyamo;
Petā hi kira jānanti, yo saṃyamo so vināso.
“That which is restraint is destruction; that which is destruction is restraint. Indeed, the petas know that restraint is destruction.”
Sự keo kiệt chính là sự hủy hoại, sự hủy hoại chính là sự keo kiệt. Quả thật, chỉ loài ngạ quỷ mới biết rằng: sự keo kiệt chính là sự hủy hoại.
238.
238.
238.
‘‘Ahaṃ pure saṃyamissaṃ, nādāsiṃ bahuke dhane;
Santesu deyyadhammesu, dīpaṃ nākāsimattano;
Svāhaṃ pacchānutappāmi, attakammaphalūpago.
“Formerly, though I had much wealth, I was stingy and did not give. Though there were things suitable for giving, I made no refuge for myself. Now, having come to experience the fruit of my own kamma, I am consumed with remorse.”
Trước kia ta đã keo kiệt, có nhiều của cải mà không bố thí. Dù có vật để cho, ta đã không tạo hòn đảo nương tựa cho chính mình. Nay phải gánh chịu quả báo của nghiệp do mình tạo, ta vô cùng hối hận.
239.
239.
239.
† ‘‘Uddhaṃ catūhi māsehi, kālaṃkiriyā bhavissati;
Ekantakaṭukaṃ ghoraṃ, nirayaṃ papatissahaṃ.
“After four months, my death will occur, and I will fall into a terrible hell that is exclusively painful.”
Sau bốn tháng nữa, ta sẽ chết. Ta sẽ phải rơi vào địa ngục khủng khiếp, vô cùng đau khổ.
240.
240.
240.
† ‘‘Catukkaṇṇaṃ catudvāraṃ, vibhattaṃ bhāgaso mitaṃ;
Ayopākārapariyantaṃ, ayasā paṭikujjitaṃ.
“It is four-cornered and four-gated, divided into measured portions. It is enclosed by an iron wall and covered over with an iron roof.”
(Địa ngục ấy) có bốn góc, bốn cửa, được phân chia thành các phần cân đối, bao quanh bởi tường sắt và được che đậy bằng sắt.
241.
241.
241.
† ‘‘Tassa ayomayā bhūmi, jalitā tejasā yutā;
Samantā yojanasataṃ, pharitvā tiṭṭhati sabbadā.
“Its ground is made of iron, blazing and full of fiery heat. All around, for a hundred yojanas, its flames pervade and stand there always.”
Nền đất của địa ngục ấy làm bằng sắt, rực cháy và đầy hơi nóng. Lửa bủa vây khắp nơi, lan xa một trăm do-tuần, và tồn tại mãi mãi.
242.
242.
242.
† ‘‘Tatthāhaṃ dīghamaddhānaṃ, dukkhaṃ vedissa vedanaṃ;
Phalaṃ pāpassa kammassa, tasmā socāmahaṃ bhusaṃ.
“There, for a long time, I will experience painful feelings, the fruit of my evil kamma. Therefore, I grieve exceedingly.”
Ở đó, trong một thời gian dài, ta sẽ phải chịu đựng cảm thọ đau khổ, là quả báo của ác nghiệp. Vì thế, ta vô cùng sầu muộn.
243.
243.
243.
‘‘Taṃ vo vadāmi bhaddaṃ vo, yāvantettha samāgatā;
Mākattha pāpakaṃ kammaṃ, āvi vā yadi vā raho.
“Therefore, I say to you—may you be well—all of you who are assembled here: do not commit any evil kamma, whether in public or in private.”
Vì vậy, tôi nói với các ngài, cầu mong các ngài được an lành, tất cả những ai đã tụ hội về đây: chớ làm điều ác, dù là công khai hay lén lút.
244.
244.
244.
‘‘Sace taṃ pāpakaṃ kammaṃ, karissatha karotha vā;
Na vo dukkhā pamutyatthi †, uppaccāpi † palāyataṃ.
“If you should do such an evil deed, or are doing one now, there is no escape from suffering for you, not even if you were to flee by flying away.”
Nếu các người sẽ làm, hoặc đang làm điều ác ấy, thì các người không thể thoát khỏi đau khổ, dù có bay lên trời mà trốn chạy.
245.
245.
245.
‘‘Matteyyā hotha petteyyā, kule jeṭṭhāpacāyikā;
Sāmaññā hotha brahmaññā, evaṃ saggaṃ gamissathā’’ti.
“Be devoted to your mother and devoted to your father; in your family, be deferential to the elders. Be devoted towards ascetics and brahmins. In this way, you will go to a heavenly world.”
Hãy hiếu kính với mẹ, hiếu kính với cha, tôn trọng những bậc trưởng thượng trong gia tộc. Hãy kính trọng Sa-môn, kính trọng Bà-la-môn. Làm như vậy, các người sẽ được sanh về cõi trời.
Dhanapālaseṭṭhipetavatthu sattamaṃ.
The Story of the Peta Dhanapāla the Treasurer, the Seventh.
Chuyện Ngạ Quỷ Trưởng Giả Dhanapāla, câu chuyện thứ bảy.