Bản dịch
PV 18 — Chuyện Ngạ Quỷ của Kaṇha
6. Kaṇhapetavatthu
BJT 207“Này Kaṇha, hãy đứng dậy. Việc gì ngài lại nằm? Lợi ích gì cho ngài với việc chiêm bao? Và này Kesava, người em trai ruột, trái tim và con mắt phải của ngài, cậu ấy bị các cơn gió xâm nhập, rồi lẩm bẩm về con thỏ.”
BJT 208Sau khi lắng nghe lời nói ấy của vị Rohiṇeyya ấy, Kesava đã đứng dậy với vẻ vội vã, bị khổ sở bởi nỗi sầu muộn về người em trai.
BJT 209“Có phải em, tựa như người điên (đi lang thang) khắp cả Dvāravatī này, lải nhải rằng: ‘Con thỏ, con thỏ.’ Em thích con thỏ loại như thế nào?
BJT 210Anh sẽ bảo làm cho em con thỏ; nó làm bằng vàng, làm bằng ngọc ma-ni, làm bằng hồng ngọc, làm bằng bạc, hay làm bằng đá quý san hô?
BJT 211Cũng có những loài thỏ nhỏ khác ở rừng, sinh sống ở trong rừng, chúng ta cũng sẽ bắt chúng về. Em thích con thỏ loại như thế nào?”
BJT 212“Em không thích những con thỏ ấy, những con thỏ nương náu ở trái đất, em thích con thỏ từ mặt trăng. Này Kesava, hãy mang nó lại cho em.”
BJT 213“Này người bà con, đúng là em đây sẽ lìa bỏ cuộc sống ngọt ngào. Em mong mỏi vật không thể mong mỏi, em thích con thỏ từ mặt trăng.”
BJT 214“Này Kaṇha, nếu anh biết là như vậy thì anh mới nên khuyên bảo người khác như thế; tại sao đến bây giờ anh vẫn sầu muộn về đứa con trai đã chết trước đây?
BJT 215Những việc nào không thể đạt được bởi con người hoặc ngay cả phi nhân (như là): ‘Mong rằng đứa con trai đã được sanh ra của tôi đừng chết,’ do đâu mà điều không thể đạt được sẽ trở nên đạt được?
BJT 216Này Kaṇha, không thể đưa người quá vãng mà anh sầu muộn trở về bằng chú thuật, bằng thuốc men từ rễ cây, bằng các thần dược, hoặc bằng tài sản.
BJT 217Những người có tài sản lớn, có của cải lớn, thậm chí những Sát-đế-lỵ cai quản vương quốc, có dồi dào tài sản và lúa gạo, ngay cả những người ấy cũng không phải là không già không chết.
BJT 218Các vị Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, thương buôn, nô lệ, hạ tiện, hốt rác, những người này và những người khác là do sự sanh ra, ngay cả những người ấy cũng không phải là không già không chết.
BJT 219Những người nào trì tụng chú thuật (Vệ Đà) gồm sáu phần đã được nghĩ ra bởi đấng Brahmā, những người này và những người khác là do sự sanh ra, ngay cả những người ấy cũng không phải là không già không chết.
BJT 220Hoặc ngay cả những vị ẩn sĩ là các đạo sĩ khổ hạnh, có sự an tịnh, có bản thân đã được kiềm chế, ngay cả những vị đạo sĩ khổ hạnh ấy cũng lìa bỏ cơ thể theo thời gian.
BJT 221Ngay cả những vị A-la-hán có bản thân đã được tu tập, có phận sự đã được làm xong, không còn lậu hoặc, cũng quăng bỏ thân xác này do sự diệt tận của thiện và ác.”
BJT 222“Quả thật, trong khi tôi đang bị thiêu đốt tựa như ngọn lửa được rưới bơ lỏng, người ấy có thể dập tắt tất cả nỗi buồn bực như là đang rưới nước xuống.
BJT 223Khi tôi bị sầu muộn chế ngự, người nào đã xua đi nỗi sầu muộn về người con trai của tôi, người ấy quả thật đã rút ra mũi tên sầu muộn đã cắm vào trái tim của tôi.
BJT 224Chính tôi đây, có mũi tên đã được rút ra, có trạng thái mát lạnh, đã được an tịnh. Này em trai, sau khi lắng nghe em, anh không sầu muộn, không khóc lóc.”
BJT 225Những bậc có trí tuệ hành xử như thế, họ là những bậc có lòng thương tưởng; các vị giúp cho vượt qua nỗi sầu muộn, tựa như Ghata (đã làm) đối với người anh trai vậy.
BJT 226Người nào có những người cộng sự, những người hầu cận như thế ấy, tháp tùng với lời nói khôn khéo, tựa như Ghaṭa (đã làm) đối với người anh trai vậy.”
Chuyện Ngạ Quỷ của Kaṇha là thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Kaṇhapetavatthu
6. The Story of the Peta Kaṇha
6. Câu chuyện ngạ quỷ Kaṇha
207.
207.
207.
217.
217.
217.
‘‘Mahaddhanā mahābhogā, raṭṭhavantopi khattiyā;
Pahūtadhanadhaññāse, tepi no † ajarāmarā.
“Kings with great wealth and great possessions, possessing kingdoms, with abundant riches and grain—they too are not un-aging and immortal.”
Ngay cả những vị vua Sát-đế-lỵ, những người có nhiều của cải, nhiều tài sản, những người cai trị vương quốc, có nhiều tiền bạc và ngũ cốc, họ cũng không thể không già, không chết.
218.
218.
218.
‘‘Khattiyā brāhmaṇā vessā, suddā caṇḍālapukkusā;
Ete caññe ca jātiyā, tepi no ajarāmarā.
“Nobles, brahmins, merchants, workers, outcastes, and scavengers, these and others of various births—they too are not un-aging and immortal.”
Những người Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la, Chiên-đà-la và Pukkusa, và những người khác thuộc các giai cấp khác, họ cũng không thể không già, không chết.
219.
219.
219.
‘‘Ye mantaṃ parivattenti, chaḷaṅgaṃ brahmacintitaṃ;
Ete caññe ca vijjāya, tepi no ajarāmarā.
“Those who recite the mantras, the six-limbed lore taught by Brahmā, and others endowed with knowledge—they too are not un-aging and immortal.”
Những người tụng đọc các câu thần chú, sáu bộ phận của Vệ-đà do Phạm thiên nghĩ ra, và những người khác có kiến thức, họ cũng không thể không già, không chết.
220.
220.
220.
‘‘Isayo vāpi † ye santā, saññatattā tapassino;
Sarīraṃ tepi kālena, vijahanti tapassino.
“Even the sages who are peaceful, self-restrained, and ascetic—those ascetics, too, in time, abandon the body.”
Ngay cả những vị ẩn sĩ, những người thanh tịnh, tự chủ, và khổ hạnh, khi đến thời, họ cũng từ bỏ thân xác này.
221.
221.
221.
‘‘Bhāvitattā arahanto, katakiccā anāsavā;
Nikkhipanti imaṃ dehaṃ, puññapāpaparikkhayā’’ti.
“Arahants, with developed minds, their task accomplished, free from taints, lay down this body through the exhaustion of wholesome and unwholesome kamma.”
Ngay cả các bậc A-la-hán, những người đã tu tập tự thân, đã làm xong việc cần làm, không còn lậu hoặc, cũng phải từ bỏ thân này khi phước và tội đã cạn kiệt.
222.
222.
222.
‘‘Ādittaṃ vata maṃ santaṃ, ghatasittaṃva pāvakaṃ;
Vārinā viya osiñcaṃ, sabbaṃ nibbāpaye daraṃ.
“Truly, I was burning, like a fire sprinkled with ghee; as if sprinkling with water, you have extinguished all my anguish.”
Ta đang bừng cháy như ngọn lửa được tưới thêm dầu, ngươi đã dập tắt mọi phiền não của ta như thể dùng nước dội vào.
223.
223.
223.
‘‘Abbahī vata me sallaṃ, sokaṃ hadayanissitaṃ;
Yo me sokaparetassa, puttasokaṃ apānudi.
“Indeed, you have drawn out the dart of sorrow lodged in my heart, you who dispelled the grief for my son when I was overcome by sorrow.”
Ngươi đã nhổ mũi tên sầu muộn nằm trong tim ta, ngươi đã xua tan nỗi sầu vì con của ta, người đang bị sầu muộn dày vò.
224.
224.
224.
‘‘Svāhaṃ abbūḷhasallosmi, sītibhūtosmi nibbuto;
Na socāmi na rodāmi, tava sutvāna bhātika’’ †.
“I am one whose dart is drawn out, I have become cooled and quenched. I do not grieve, I do not weep, having heard your words, O brother.”
Ta đã được nhổ mũi tên, đã trở nên mát mẻ, đã được dập tắt. Hỡi em trai, sau khi nghe lời của em, ta không còn sầu muộn, không còn khóc than.
225.
225.
225.
Evaṃ karonti sappaññā, ye honti anukampakā;
Nivattayanti sokamhā, ghaṭo jeṭṭhaṃva bhātaraṃ.
Thus do the wise act, those who are compassionate; they turn one back from sorrow, as Ghaṭa did for his elder brother.
Những người có trí tuệ và lòng bi mẫn thường làm như vậy. Họ giúp người khác thoát khỏi sầu muộn, giống như Ghaṭa đã làm với người anh cả của mình.
226.
226.
226.
Yassa etādisā honti, amaccā paricārakā;
Subhāsitena anventi, ghaṭo jeṭṭhaṃva bhātaranti.
For whom there are such ministers and attendants, they guide with well-spoken words, as Ghaṭa did for his elder brother.
Người nào có những vị cận thần và người hầu như thế này, họ sẽ noi theo bằng những lời thiện thuyết, giống như Ghaṭa đã làm với người anh cả của mình.
Kaṇhapetavatthu chaṭṭhaṃ.
The Sixth: The Story of the Peta Kaṇha.
Câu chuyện ngạ quỷ Kaṇha, phẩm thứ sáu.