Bản dịch
PV 17 — Chuyện Ngạ Quỷ Maṭṭakuṇḍalī
5. Maṭṭhakuṇḍalīpetavatthu
BJT 186“Ngươi đã được trang điểm, có bông tai đã được đánh bóng, có mang tràng hoa, có bôi xức trầm hương màu vàng, sau khi giơ hai cánh tay lên rồi than khóc ở giữa khu rừng, ngươi bị khổ đau điều gì?”
BJT 187“Khung xe làm bằng vàng, rực rỡ, được phát sanh lên cho tôi. Tôi không tìm ra cặp bánh xe cho nó. Vì nỗi khổ đau ấy, tôi sẽ từ bỏ mạng sống.”
BJT 188“Nó làm bằng vàng, làm bằng ngọc ma-ni, làm bằng hồng ngọc, hay làm bằng bạc? Này người thanh niên hiền thiện, ngươi hãy nói với ta. Ta sẽ giúp cho ngươi đạt được cặp bánh xe.”
BJT 189Người thanh niên ấy đã nói với ông ấy rằng: “Ở đây, mặt trăng và mặt trời được nhìn thấy; cỗ xe của tôi, làm bằng vàng, được chói sáng với cặp bánh xe ấy.”
BJT 190“Này người thanh niên, ngươi quả thật khờ dại, ngươi mong mỏi vật không thể mong mỏi. Ta nghĩ rằng ngươi sẽ chết bởi vì ngươi sẽ không đạt được mặt trăng và mặt trời.”
BJT 191“Việc đi và đến (của mặt trăng và mặt trời) còn được nhìn thấy. Ở đây, màu sắc và bản chất của cả hai là theo trình tự. Trái lại, người chết, đã qua đời, không được nhìn thấy. Vậy ở đây, trong hai người đang khóc lóc, người nào khờ dại hơn?”
BJT 192“Này người thanh niên, quả nhiên ngươi nói đúng sự thật. Trong hai người đang khóc lóc, chính ta là khờ dại hơn. Ta đang mong mỏi người chết, đã qua đời, ví như đứa bé trai đang khóc đòi mặt trăng.”
BJT 193“Quả thật, trong khi tôi đang bị thiêu đốt tựa như ngọn lửa được rưới bơ lỏng, người ấy có thể dập tắt tất cả nỗi buồn bực như là đang rưới nước xuống.
BJT 194Khi tôi bị sầu muộn chế ngự, người nào đã xua đi nỗi sầu muộn về người con trai của tôi, người ấy quả thật đã rút ra mũi tên sầu muộn đã cắm vào trái tim của tôi.
BJT 195Chính tôi đây, có mũi tên đã được rút ra, có trạng thái mát lạnh, đã được an tịnh. Này người thanh niên, sau khi lắng nghe ngươi, tôi không sầu muộn, không khóc lóc.”
BJT 196“Phải chăng ngươi là Thiên nhân, là nhạc sĩ Thiên đình, hay là (Chúa Trời) Sakka, người đã bố thí trước đây? Ngươi là ai, hay là con trai của ai, làm thế nào chúng tôi có thể nhận biết ngươi?”
BJT 197“Đứa con trai nào mà ông đã tự mình thiêu đốt ở nơi hỏa táng rồi than vãn và khóc lóc, người ấy chính là tôi; sau khi làm việc thiện, tôi đã đạt đến sự cộng trú ở cõi Ba Mươi (Ba).”
BJT 198“Chúng tôi đã không nhìn thấy vật thí ít hay nhiều của ngươi trong khi ngươi bố thí ở nhà mình, hay việc làm vào ngày trai giới tương tự như thế ấy; do nghiệp nào mà ngươi đã đi đến thế giới của chư Thiên?”
BJT 199“Tôi là người có bệnh, bị khổ sở, là người bệnh, có dáng vóc bệnh hoạn ở trong căn nhà của mình. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc đã xa lìa ô nhiễm, vị đã vượt qua hoài nghi, đấng Thiện Thệ, có trí tuệ tuyệt vời.
BJT 200Chính tôi đây, với ý vui mừng, với tâm tịnh tín, đã thực hiện việc chắp tay đến đức Như Lai. Sau khi làm việc thiện ấy, tôi đã đạt đến sự cộng trú ở cõi Ba Mươi (Ba).”
BJT 201“Thật là kỳ diệu, phi thường! Quả thành tựu này của việc chắp tay là như thế. Tôi cũng vậy, với ý vui mừng, với tâm tịnh tín, tôi đi đến nương nhờ đức Phật ngay ngày hôm nay.”
BJT 202“Ngay ngày hôm nay, với tâm tịnh tín ông hãy đi đến nương nhờ đức Phật, Giáo Pháp, và Hội Chúng. Tương tự y như thế, ông hãy thọ trì năm điều học không bị bể vỡ hay sứt mẻ.
BJT 203Ông hãy lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, hãy xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, chớ có việc uống chất say và nói lời dối trá, và hãy vui thích (chỉ) với người vợ của mình.”
BJT 204“Thưa vị Dạ-xoa, ngài là người mong mỏi sự tốt đẹp cho tôi. Thưa vị Thiên nhân, ngài là người mong mỏi sự lợi ích cho tôi. Tôi thực hành lời nói của ngài; ngài là thầy dạy học của tôi.
BJT 205Tôi đi đến nương nhờ đức Phật, luôn cả Giáo Pháp vô thượng, và tôi đi đến nương nhờ Hội Chúng thuộc về vị Trời của nhân loại.
BJT 206Tôi lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, tôi xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, không có việc uống chất say, và tôi không nói lời dối trá, và tôi vui thích (chỉ) với người vợ của mình.”
Chuyện Ngạ Quỷ Maṭṭakuṇḍalī là thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Maṭṭhakuṇḍalīpetavatthu
5. The Story of the Peta Maṭṭhakuṇḍalī
5. Chuyện Ngạ Quỷ Maṭṭhakuṇḍalī
186.
186.
186.
† ‘‘Alaṅkato maṭṭhakuṇḍalī, māladhārī haricandanussado;
Bāhā paggayha kandasi, vanamajjhe kiṃ dukkhito tuva’’nti.
“Adorned with polished earrings, wearing garlands, anointed with red sandalwood, why do you wail with arms upraised in the middle of the forest? By what sorrow are you afflicted?”
5. “Này chàng thanh niên được trang điểm, đeo bông tai sáng bóng, mang vòng hoa, thân thoa bột chiên đàn vàng, sao chàng lại đau khổ, giơ hai tay lên trời mà than khóc giữa rừng?”
187.
187.
187.
‘‘Sovaṇṇamayo pabhassaro, uppanno rathapañjaro mama;
Tassa cakkayugaṃ na vindāmi, tena dukkhena jahāmi jīvita’’nti.
“A golden, radiant chariot-frame has arisen for me; I cannot find its pair of wheels. Because of that sorrow, I shall give up my life.”
“Một thân xe bằng vàng, rực rỡ, đã sanh khởi cho tôi. Nhưng tôi không tìm được một cặp bánh xe cho nó. Vì nỗi khổ đó, tôi sẽ từ bỏ mạng sống.”
188.
188.
188.
‘‘Sovaṇṇamayaṃ maṇimayaṃ, lohitakamayaṃ † atha rūpiyamayaṃ;
Ācikkha me bhaddamāṇava, cakkayugaṃ paṭipādayāmi te’’ti.
“Whether made of gold, of jewels, of ruby, or of silver, tell me, good youth, and I will provide a pair of wheels for you.”
“Làm bằng vàng, bằng ngọc, bằng hồng ngọc, hay bằng bạc? Hãy nói cho ta biết, hỡi chàng thanh niên tốt lành, ta sẽ sắm cho chàng một cặp bánh xe.”
189.
189.
189.
So māṇavo tassa pāvadi, ‘‘candasūriyā ubhayettha dissare;
Sovaṇṇamayo ratho mama, tena cakkayugena sobhatī’’ti.
That youth said to him: “The sun and moon are both seen here; my golden chariot would be beautiful with that pair of wheels.”
Chàng thanh niên ấy nói với vị ấy: “Mặt trời và mặt trăng, cả hai đều được thấy ở đây. Cỗ xe bằng vàng của tôi sẽ trở nên lộng lẫy với cặp bánh xe ấy.”
190.
190.
190.
‘‘Bālo kho tvaṃ asi māṇava, yo tvaṃ patthayase apatthiyaṃ;
Maññāmi tuvaṃ marissasi, na hi tvaṃ lacchasi candasūriye’’ti.
“You are indeed a fool, O youth, you who desire what is not to be desired. I think you will die, for you will not obtain the sun and moon.”
“Này chàng thanh niên, ngươi quả là kẻ khờ dại, khi mong muốn điều không thể mong muốn. Ta nghĩ rằng ngươi sẽ chết, vì ngươi sẽ không thể có được mặt trời và mặt trăng.”
191.
191.
191.
‘‘Gamanāgamanampi dissati, vaṇṇadhātu ubhayattha vīthiyā;
Peto kālakato na dissati, ko nidha kandataṃ bālyataro’’ti.
“Their coming and going is seen, and the element of form is seen in both in their path. But the departed one who has died is not seen. Among us who weep here, who is the more foolish?”
“Sự đi và đến của chúng đều được thấy, sắc tướng của cả hai trên quỹ đạo cũng được thấy. Nhưng người chết, đã qua đời, thì không được thấy. Ở đây, trong hai chúng ta đang than khóc, ai là kẻ khờ dại hơn?”
192.
192.
192.
‘‘Saccaṃ kho vadesi māṇava, ahameva kandataṃ bālyataro;
Candaṃ viya dārako rudaṃ, petaṃ kālakatābhipatthayi’’nti.
“Truly, O youth, you speak the truth. Among us who weep, I am the more foolish. Like a child weeping for the moon, I longed for the departed one who has died.”
“Này chàng thanh niên, ngươi nói thật đúng. Trong hai chúng ta đang than khóc, chính ta mới là kẻ khờ dại hơn. Giống như đứa trẻ khóc đòi mặt trăng, ta đã mong mỏi người đã chết, đã qua đời.”
193.
193.
193.
‘‘Ādittaṃ vata maṃ santaṃ, ghatasittaṃva pāvakaṃ;
Vārinā viya osiñcaṃ, sabbaṃ nibbāpaye daraṃ.
“Indeed, I was burning, like a fire upon which ghee is poured; as if sprinkling it with water, you have extinguished all my mental distress.”
“Ta đang bị thiêu đốt, như ngọn lửa được tưới thêm bơ lỏng. Chàng đã dập tắt mọi phiền não của ta, như thể dùng nước để dập lửa.”
194.
194.
194.
‘‘Abbahī † vata me sallaṃ, sokaṃ hadayanissitaṃ;
Yo me sokaparetassa, puttasokaṃ apānudi.
“Indeed, you have drawn out the dart from me—the grief lodged in my heart—you who have dispelled the sorrow for my son for me, who was overcome by grief.”
“Chàng đã nhổ đi mũi tên sầu muộn nằm trong tim ta, chàng là người đã xua tan nỗi sầu vì mất con của ta, kẻ đang bị sầu muộn bao trùm.”
195.
195.
195.
‘‘Svāhaṃ abbūḷhasallosmi, sītibhūtosmi nibbuto;
Na socāmi na rodāmi, tava sutvāna māṇavā’’ti.
“I am one whose dart has been drawn out; I have become cooled, I am extinguished. I do not grieve, I do not weep, having heard you, O youth.”
“Ta đã được nhổ tên, đã trở nên mát mẻ, đã được dập tắt. Sau khi nghe lời của chàng, hỡi thanh niên, ta không còn sầu muộn, không còn than khóc.”
196.
196.
196.
‘‘Devatā nusi gandhabbo, adu sakko purindado;
Ko vā tvaṃ kassa vā putto, kathaṃ jānemu taṃ maya’’nti.
“Are you a deity, or a gandhabba, or are you Sakka, the giver in former times? Who are you, or whose son are you? How may we know you?”
“Chàng là một vị trời, hay một càn-thát-bà, hay là Sakka, vị ban thí của các thành trì? Chàng là ai, là con của ai? Làm sao chúng tôi có thể biết được chàng?”
197.
197.
197.
‘‘Yañca kandasi yañca rodasi, puttaṃ āḷāhane sayaṃ dahitvā;
Svāhaṃ kusalaṃ karitvā kammaṃ, tidasānaṃ sahabyataṃ gato’’ti.
“That son whom you cremated yourself in the charnel ground, for whom you weep and wail—I am he. Having done a wholesome deed, I have gone to the companionship of the Tāvatiṃsa devas.”
“Người con trai mà ông than khóc, người mà ông đã tự tay hỏa táng trên giàn thiêu, chính là tôi đây. Do đã làm nghiệp lành, tôi đã được sanh làm bạn đồng hành của chư thiên Tam Thập Tam.”
198.
198.
198.
‘‘Appaṃ vā bahuṃ vā nāddasāma, dānaṃ dadantassa sake agāre;
Uposathakammaṃ vā tādisaṃ, kena kammena gatosi devaloka’’nti.
“We saw no gift, whether small or great, being given by you in your own home, nor any such observance of the Uposatha. By what deed have you gone to the deva-world?”
“Chúng tôi không thấy con bố thí, dù ít hay nhiều, tại nhà của mình. Chúng tôi cũng không thấy con thực hành các phận sự Uposatha như vậy. Do nghiệp gì mà con được sanh lên cõi trời?”
199.
199.
199.
‘‘Ābādhikohaṃ dukkhito gilāno, āturarūpomhi sake nivesane;
Buddhaṃ vigatarajaṃ vitiṇṇakaṅkhaṃ, addakkhiṃ sugataṃ anomapaññaṃ.
“I was sick, suffering, ill, and afflicted in my own home. I saw the Buddha, free from dust, who had crossed over doubt, the Sugata of perfect wisdom.”
“Con đã bị bệnh, đau đớn, và ốm yếu, trong tình trạng khốn khổ tại nhà của mình. Con đã được thấy Đức Phật, bậc không còn bụi bặm, đã vượt qua hoài nghi, bậc Thiện Thệ, có trí tuệ không ai sánh bằng.”
200.
200.
200.
‘‘Svāhaṃ muditamano pasannacitto, añjaliṃ akariṃ tathāgatassa;
Tāhaṃ kusalaṃ karitvāna kammaṃ, tidasānaṃ sahabyataṃ gato’’ti.
“I, with a joyful mind and a devout heart, paid homage with joined hands to the Tathāgata. Having done that wholesome deed, I have gone to the companionship of the Tāvatiṃsa devas.”
Với tâm hoan hỷ và tín thành, tôi đã chắp tay đảnh lễ đức Như Lai. Do đã làm nghiệp lành ấy, tôi được sanh làm bạn đồng hành của chư thiên cõi Ba Mươi Ba.
201.
201.
201.
‘‘Acchariyaṃ vata abbhutaṃ vata, añjalikammassa ayamīdiso vipāko;
Ahampi muditamano pasannacitto, ajjeva buddhaṃ saraṇaṃ vajāmī’’ti.
“Wonderful indeed, marvelous indeed, that such is the result of the act of paying homage with joined hands! I too, with a joyful mind and a devout heart, will go for refuge to the Buddha this very day.”
Thật là kỳ diệu! Thật là hy hữu! Việc chắp tay lại có quả báo như thế này. Tôi cũng với tâm hoan hỷ và tín thành, ngay hôm nay xin quy y đức Phật.
202.
202.
202.
‘‘Ajjeva buddhaṃ saraṇaṃ vajāhi, dhammañca saṅghañca pasannacitto;
Tatheva sikkhāya padāni pañca, akhaṇḍaphullāni samādiyassu.
“This very day, with a devout heart, go for refuge to the Buddha, the Dhamma, and the Sangha. Likewise, undertake the five training precepts, making them unbroken and unblemished.”
Ngay hôm nay, với tâm tín thành, ngươi hãy quy y Phật, quy y Pháp và quy y Tăng. Cũng như thế, hãy thọ trì năm học giới cho được không bị sứt mẻ, không bị gián đoạn.
203.
203.
203.
‘‘Pāṇātipātā viramassu khippaṃ, loke adinnaṃ parivajjayassu;
Amajjapo mā ca musā bhaṇāhi, sakena dārena ca hohi tuṭṭho’’ti.
“Quickly refrain from taking life; in the world, avoid what is not given. Be one who does not drink intoxicants, and do not speak falsely; and be content with your own wife.”
Hãy nhanh chóng từ bỏ sát sanh, hãy tránh xa việc lấy của không cho ở trên đời. Chớ nên uống rượu, và chớ nói dối, và hãy biết tri túc với vợ của mình.
204.
204.
204.
‘‘Atthakāmosi me yakkha, hitakāmosi devate;
Karomi tuyhaṃ vacanaṃ, tvaṃsi ācariyo mamāti.
“You are my well-wisher, O yakkha; you are my benefactor, O deity. I will follow your word; you are my teacher.”
Này Dạ-xoa, ngài là người mong cầu lợi ích cho tôi. Này chư thiên, ngài là người mong cầu hạnh phúc cho tôi. Tôi sẽ làm theo lời của ngài, ngài là thầy của tôi.
205.
205.
205.
‘‘Upemi saraṇaṃ buddhaṃ, dhammañcāpi anuttaraṃ;
Saṅghañca naradevassa, gacchāmi saraṇaṃ ahaṃ.
“I go for refuge to the Buddha, and also to the unsurpassed Dhamma; I go for refuge to the Sangha of the Deva among men.”
Con xin quy y Phật, và quy y Pháp vô thượng. Con xin quy y Tăng của bậc Thiên Nhơn Sư.
206.
206.
206.
‘‘Pāṇātipātā viramāmi khippaṃ, loke adinnaṃ parivajjayāmi;
Amajjapo no ca musā bhaṇāmi; Sakena dārena ca homi tuṭṭho’’ti.
“I quickly refrain from taking life; in the world, I avoid what is not given. I am one who does not drink intoxicants, and I do not speak falsely; and I am content with my own wife.”
Con nhanh chóng từ bỏ sát sanh, con tránh xa việc lấy của không cho ở trên đời. Con không uống rượu, và không nói dối, và con biết tri túc với vợ của mình.
Maṭṭhakuṇḍalīpetavatthu pañcamaṃ.
The Fifth: The Story of the Peta Maṭṭhakuṇḍalī.
Câu chuyện ngạ quỷ Maṭṭhakuṇḍalī, phẩm thứ năm.