Bản dịch
PV 16 — Chuyện Ngạ Quỷ Nandā
4. Nandāpetivatthu
BJT 168“Nàng đen đủi, có vóc dáng xấu xí, thô kệch, có dáng vẻ ghê rợn, có mắt đỏ ngầu, có răng hô, tôi nghĩ rằng nàng không phải loài người?”
BJT 169“Này Nandasena, tôi là Nandā, trước đây tôi đã là vợ của ông. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 170“Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà từ nơi đây nàng đã đi đến thế giới ngạ quỷ?”
BJT 171Tôi đã là người nhẫn tâm, có lời nói thô lỗ, không tôn trọng ông. Sau khi nói lời tồi tệ với ông, tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 172“Này, tôi cho nàng tấm choàng. Nàng hãy quấn mảnh vải này vào. Sau khi quấn vào mảnh vải này, hãy đi đến, ta sẽ đưa nàng về nhà.
BJT 173Khi nàng đã đi đến nhà, nàng sẽ nhận được y phục, cơm ăn và nước uống. Nàng sẽ trông thấy những đứa con trai của nàng, và nhìn xem những cô con dâu.”
BJT 174-175“Vật thí của ông dầu tay trao tay vẫn không lợi ích cho tôi. Ông hãy làm toại ý các vị tỳ khưu đầy đủ giới hạnh, đã lìa luyến ái, có sự nghe nhiều (học rộng), với cơm ăn và nước uống, rồi chỉ định sự cúng dường là dành cho tôi. Khi ấy, tôi sẽ được hạnh phúc, có sự thành tựu tất cả các dục lạc.”
BJT 176-177“Tốt lắm!” Sau khi thỏa thuận, vị ấy đã thực hiện dồi dào vật thí: cơm ăn, nước uống, vật thực cứng, vải vóc, chỗ trú ngụ, lọng che, vật thơm, tràng hoa, và nhiều loại giày dép. Sau khi làm toại ý các vị tỳ khưu đầy đủ giới hạnh, đã lìa luyến ái, có sự nghe nhiều (học rộng), với cơm ăn và nước uống, rồi đã chỉ định sự cúng dường là dành cho nữ ngạ quỷ ấy.
BJT 178Khi được chỉ định thì quả thành tựu đã được sanh lên ngay lập tức: vật thực, y phục, nước uống; quả báo này là do sự cúng dường.
BJT 179Do đó, nàng ấy (nữ ngạ quỷ) trở nên sạch sẽ, có y phục tinh khiết, có sự trang phục bằng vải hạng nhất của xứ Kāsī, có các đồ trang sức và các tấm vải nhiều màu sắc, đã đi đến gặp người chồng.
BJT 180“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 181Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 182Hỡi nàng tiên có đại oai lực, tôi hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 183“Này Nandasena, tôi là Nandā, trước đây tôi đã là vợ của chàng. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.
BJT 184Nhờ vào vật thí đã được chàng dâng cúng, tôi vui sướng, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu. Này gia chủ, mong rằng chàng sống thọ cùng với tất cả thân quyến.
BJT 185Nơi chốn không sầu muộn, xa lìa luyến ái, là chỗ trú ngụ của các vị có quyền lực. Này gia chủ, ở đây sau khi thực hành Giáo Pháp, sau khi dâng cúng vật thí, sau khi loại trừ ô nhiễm của sự bỏn xẻn luôn cả gốc rễ, không bị chê trách, mong rằng chàng đi đến nơi chốn cõi Trời.”
Chuyện Ngạ Quỷ Nandā là thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Nandāpetivatthu
4. The Story of the Peta-woman Nandā
4. Câu chuyện ngạ quỷ Nandā
168.
168.
168.
‘‘Kāḷī dubbaṇṇarūpāsi, pharusā bhīrudassanā;
Piṅgalāsi kaḷārāsi, na taṃ maññāmi mānusi’’nti.
“You are dark, of ugly form, harsh, and terrifying to behold. You have tawny eyes and gapped teeth. I do not consider you a human woman.”
“Cô đen đúa, hình dung xấu xí, thô kệch, trông thật đáng sợ. Mắt cô hoe vàng, răng thì lởm chởm. Tôi không nghĩ cô là người.”
169.
169.
169.
‘‘Ahaṃ nandā nandisena, bhariyā te pure ahuṃ;
Pāpakammaṃ karitvāna, petalokaṃ ito gatā’’ti.
“O Nandisena, I am Nandā; in a former life, I was your wife. Having committed an evil deed, I have gone from here to the peta-realm.”
“Thưa ngài Nandisena, tôi là Nandā. Kiếp trước, tôi là vợ của ngài. Vì đã làm điều ác, nên từ cõi này tôi đã sanh vào thế giới ngạ quỷ.”
170.
170.
170.
‘‘Kiṃ nu kāyena vācāya, manasā dukkaṭaṃ kataṃ;
Kissa kammavipākena, petalokaṃ ito gatā’’ti.
“What evil deed was done by you with body, speech, or mind? By the result of what kamma have you gone from here to the peta-realm?”
“Nàng đã làm điều ác gì bằng thân, khẩu, hay ý? Do quả báo của nghiệp nào mà nàng từ cõi này phải sanh vào thế giới ngạ quỷ?”
171.
171.
171.
‘‘Caṇḍī ca pharusā cāsiṃ †, tayi cāpi agāravā;
Tāhaṃ duruttaṃ vatvāna, petalokaṃ ito gatā’’ti.
“I was fierce and harsh-spoken, and also disrespectful toward you. Having uttered harsh words, I have gone from here to the peta-realm.”
“Tôi đã từng hung dữ và thô lỗ, lại còn không kính trọng ngài. Vì đã nói những lời ác độc ấy, nên từ cõi này tôi đã sanh vào thế giới ngạ quỷ.”
172.
172.
172.
‘‘Handuttarīyaṃ dadāmi te, imaṃ † dussaṃ nivāsaya;
Imaṃ dussaṃ nivāsetvā, ehi nessāmi taṃ gharaṃ.
“Here, I give you an upper garment; wear this cloth. Having put on this cloth, come, and I will take you home.”
“Này, ta cho nàng tấm thượng y, hãy mặc lấy tấm vải này. Sau khi mặc tấm vải này, hãy đến đây, ta sẽ đưa nàng về nhà.”
173.
173.
173.
‘‘Vatthañca annapānañca, lacchasi tvaṃ gharaṃ gatā;
Putte ca te passissasi, suṇisāyo ca dakkhasī’’ti.
“Having gone home, you will receive clothing, food, and drink; you will see your sons, and you will see your daughters-in-law.”
“Khi về đến nhà, nàng sẽ nhận được y phục, đồ ăn và thức uống; nàng sẽ được thấy các con trai và các con dâu của nàng.”
174.
174.
174.
‘‘Hatthena hatthe te dinnaṃ, na mayhaṃ upakappati;
Bhikkhū ca sīlasampanne, vītarāge bahussute.
“What is given by your hand into my hand does not benefit me. As for monks who are accomplished in virtue, free from passion, and very learned—”
“Vật được trao từ tay chàng vào tay của thiếp thì không đến được với thiếp. Xin hãy cúng dường đến các vị Tỳ-khưu giới hạnh trang nghiêm, đã ly tham, và đa văn.”
175.
175.
175.
‘‘Tappehi annapānena, mama dakkhiṇamādisa;
Tadāhaṃ sukhitā hessaṃ, sabbakāmasamiddhinī’’ti.
“Satisfy them with food and drink, and dedicate the gift to me. Then I will be happy, fulfilled in all my desires.”
“Hãy làm cho ta được no đủ với vật thực và đồ uống, hãy hồi hướng phần phước của vật thí đến cho ta. Khi ấy, ta sẽ được an lạc và thành tựu mọi điều mong cầu.”
176.
176.
176.
Sādhūti so paṭissutvā, dānaṃ vipulamākiri;
Annaṃ pānaṃ khādanīyaṃ, vatthasenāsanāni ca;
Chattaṃ gandhañca mālañca, vividhā ca upāhanā.
Saying, “Very well,” he agreed and gave an abundant gift: food, drink, edibles, clothing and lodgings, umbrellas, perfumes, garlands, and various kinds of footwear.
Sau khi vâng lời: “Lành thay”, vị ấy đã thực hiện cuộc bố thí to lớn: đồ ăn, thức uống, vật thực, y phục và chỗ ở, lọng, hương, hoa, và nhiều loại giày dép khác nhau.
177.
177.
177.
Bhikkhū ca sīlasampanne, vītarāge bahussute;
Tappetvā annapānena, tassā dakkhiṇamādisī.
Having satisfied with food and drink the monks who were accomplished in virtue, free from passion, and very learned, he dedicated the offering to her.
Sau khi làm cho các vị Tỳ-khưu giới hạnh trang nghiêm, đã ly tham, và đa văn được thỏa thích với đồ ăn và thức uống, vị ấy đã hồi hướng phước báu đến cho nàng.
178.
178.
178.
Samanantarānuddiṭṭhe, vipāko udapajjatha;
Bhojanacchādanapānīyaṃ, dakkhiṇāya idaṃ phalaṃ.
Immediately after the dedication, the result arose: food, clothing, and drink. This was the fruit of the offering.
Ngay sau khi phước báu được hồi hướng, quả báu liền sanh khởi. Đồ ăn, y phục, và thức uống, đây là quả của sự cúng dường.
179.
179.
179.
Tato suddhā sucivasanā, kāsikuttamadhārinī;
Vicittavatthābharaṇā, sāmikaṃ upasaṅkami.
Then, pure, clad in clean garments, wearing the finest Kāsī cloth, and adorned with various clothes and ornaments, she approached her husband.
Sau đó, nàng trở nên thanh tịnh, mặc y phục sạch sẽ, mang tấm vải thượng hạng xứ Kāsi, trang sức với y phục và đồ trang điểm lộng lẫy, rồi đi đến gặp người chồng.
180.
180.
180.
‘‘Abhikkantena vaṇṇena, yā tvaṃ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā, osadhī viya tārakā.
“O deity, with a surpassing complexion you stand, illuminating all directions like the morning star.”
“Hỡi thiên nữ, nàng đứng đó với dung sắc tuyệt vời, tỏa sáng khắp mọi phương trời, giống như sao mai vậy.”
181.
181.
181.
‘‘Kena tetādiso vaṇṇo, kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā, ye keci manaso piyā.
“By what meritorious deed has such a complexion arisen for you? By what is the fruit of good conduct accomplished for you here? And by what do possessions arise for you, whatever are dear to the mind?”
“Do nhân gì mà nàng có dung sắc như vậy? Do nhân gì mà nàng được thành tựu ở đây? Và do nhân gì mà các tài sản, bất cứ thứ gì vừa ý, lại sanh khởi đến cho nàng?”
182.
182.
182.
‘‘Pucchāmi taṃ devi mahānubhāve, manussabhūtā kimakāsi puññaṃ;
Kenāsi evaṃ jalitānubhāvā, vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“O deity of great power, I ask you: when you were a human being, what meritorious deed did you perform? By what meritorious deed are you of such blazing power, and your complexion illuminates all directions?”
“Hỡi thiên nữ có đại oai lực, ta xin hỏi nàng: Khi còn là người, nàng đã làm phước gì? Do đâu mà nàng có oai lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của nàng tỏa sáng khắp mọi phương trời?”
183.
183.
183.
‘‘Ahaṃ nandā nandisena, bhariyā te pure ahuṃ;
Pāpakammaṃ karitvāna, petalokaṃ ito gatā.
“O Nandisena, I am Nandā; in a former life, I was your wife. Having committed an evil deed, I have gone from here to the peta-realm.”
“Thưa Nandisena, thiếp là Nandā, trước đây từng là vợ của chàng. Do đã làm điều ác nghiệp, nên từ đây thiếp đã sanh vào cõi ngạ quỷ.”
184.
184.
184.
‘‘Tava dinnena dānena, modāmi akutobhayā;
Ciraṃ jīva gahapati, saha sabbehi ñātibhi;
Asokaṃ virajaṃ khemaṃ, āvāsaṃ vasavattinaṃ.
“Because of the gift given by you, I rejoice, free from danger. Live long, householder, together with all your relatives. May you attain the sorrowless, stainless, secure abode where one has mastery.”
“Nhờ sự bố thí của chàng, thiếp được hoan hỷ, không còn sợ hãi. Hỡi gia chủ, mong chàng được sống lâu cùng với tất cả quyến thuộc, đến được trú xứ của chư thiên Vasavatti, nơi không sầu muộn, không bụi bặm, và an ổn.”
185.
185.
185.
‘‘Idha dhammaṃ caritvāna, dānaṃ datvā gahapati;
Vineyya maccheramalaṃ samūlaṃ, anindito saggamupehi ṭhāna’’nti.
“Householder, having practiced the Dhamma here and having given gifts, having removed the stain of stinginess together with its root, may you, being blameless, approach the heavenly realm.”
“Hỡi gia chủ, sau khi thực hành Chánh Pháp ở đây, sau khi bố thí, sau khi loại trừ tận gốc rễ cấu uế của sự bỏn xẻn, không bị chê trách, mong chàng hãy đi đến cảnh giới chư thiên.”
Nandāpetivatthu catutthaṃ.
The Fourth Story: The Peta-woman Nandā.
Câu chuyện ngạ quỷ Nandā, chương thứ tư.