Bản dịch
PV 15 — Chuyện Ngạ Quỷ Mattā
3. Mattāpetivatthu
BJT 134“Này cô nàng lòi cả xương sườn, gầy guộc, nàng là ai mà đứng ở nơi đây, lõa lồ, có vóc dáng xấu xí, ốm o, nổi đầy gân?”
BJT 135“Tôi là Mattā, cô là Tissā, trước đây tôi đã là người vợ chung chồng với cô. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 136“Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà từ nơi đây chị đã đi đến thế giới ngạ quỷ?”
BJT 137“Tôi đã là người nhẫn tâm, thô lỗ, ganh tỵ, bỏn xẻn, và xảo quyệt. Sau khi nói lời tồi tệ với cô, tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 138“Em cũng biết tất cả, chị đã là người nhẫn tâm như thế nào. Nhưng giờ em hỏi chị việc khác, do việc gì chị bị bao phủ bởi bụi đất?”
BJT 139“Cô đã gội đầu xong, có y phục sạch sẽ, đã được trang điểm, và tôi còn hơn cả cô, đã được trang điểm hơn cả cô.
BJT 140Cô đã chuyện trò với chồng trong khi tôi đây đang quan sát; vì thế, tôi đã có sự ganh tỵ lớn lao, sự phẫn nộ đã nổi lên ở tôi.
BJT 141Kế đó, tôi đã hốt bụi đất và đã trút bụi đất xuống chính cô; do quả thành tựu của nghiệp ấy, do việc ấy tôi bị bao phủ bởi bụi đất.”
BJT 142“Em cũng biết tất cả, chị đã trút bụi đất xuống em. Nhưng giờ em hỏi chị việc khác, do việc gì chị bị day dứt bởi mụn ghẻ?”
BJT 143“Là những người thu hái dược liệu, cả hai chúng ta đã đi vào trong rừng. Cô đã thu hái dược liệu, còn tôi đã thu hái loại cây kapikacchu.
BJT 144Trong khi cô đây không hay biết, tôi đã rải rắc (kapikacchu) xuống giường của cô; do quả thành tựu của nghiệp ấy, do việc ấy tôi bị day dứt bởi mụn ghẻ.”
BJT 145“Em cũng biết tất cả, chị đã rải rắc (kapikacchu) xuống giường của em. Nhưng giờ em hỏi chị việc khác, do việc gì chị bị lõa lồ?”
BJT 146“Đã có cuộc gặp gỡ của các thân hữu, là cuộc hội họp của các thân quyến, và cô đã được mời cùng với người chồng (chung), còn tôi thì không.
BJT 147Trong khi cô đây không hay biết, tôi đã giấu đi y phục của cô; do quả thành tựu của nghiệp ấy, do việc ấy tôi bị lõa lồ.”
BJT 148“Em cũng biết tất cả, chị đã giấu đi y phục của em. Nhưng giờ em hỏi chị việc khác, do việc gì chị có mùi của phân?”
BJT 149“Tôi đã ném bỏ vật thơm, tràng hoa, và dầu thoa đắt giá của cô vào hố phân, việc xấu xa ấy đã do tôi gây ra; do quả thành tựu của nghiệp ấy, do việc ấy tôi có mùi của phân.”
BJT 150“Em cũng biết tất cả, việc xấu xa ấy đã do chị gây ra. Nhưng giờ em hỏi chị việc khác, do việc gì chị bị đọa vào khổ cảnh?”
BJT 151“Tài sản hiện có trong nhà đã là thuộc về cả hai một cách bình đẳng. Trong khi các vật bố thí đang hiện hữu, tôi đã không tạo lập hòn đảo (nương nhờ) cho bản thân; do quả thành tựu của nghiệp ấy, do việc ấy tôi bị đọa vào khổ cảnh.
BJT 152Chính vào lúc ấy, cô đã nói với tôi rằng: ‘Chị theo đuổi nghiệp ác, bởi vì với những nghiệp ác, nhàn cảnh là không dễ đạt được.’”
BJT 153“Chị đến với em bằng cách chống đối, và còn ganh tỵ với em nữa. Chị hãy nhìn xem quả thành tựu của những nghiệp ác là như thế nào.
BJT 154Nhà cửa và các tớ gái ấy, luôn cả các đồ trang sức này đã là của chị, và chúng đang phục vụ những kẻ khác; các của cải là không trường cửu.
BJT 155Giờ này, cha của Bhūta từ chợ đi về nhà có lẽ sẽ bố thí cho chị vật gì đó; cho đến khi ấy chị chớ rời khỏi đây.”
BJT 156“Tôi thì lõa lồ, có vóc dáng xấu xí, gầy guộc, nổi đầy gân. Việc này là điều xấu hổ của hàng phụ nữ; chớ để cha của Bhūta nhìn thấy tôi.”
BJT 157“Nào, vật gì em sẽ biếu chị, hoặc là điều gì em làm cho chị, qua đó chị có thể được hạnh phúc, có sự thành tựu mọi điều mong mỏi?”
BJT 158“Bốn vị tỳ khưu (thỉnh) từ Hội Chúng, và bốn vị nữa (thỉnh) cá nhân, sau khi dâng bữa ăn đến tám vị tỳ khưu, hãy chỉ định sự cúng dường là dành cho tôi. Khi ấy, tôi sẽ được hạnh phúc, có sự thành tựu mọi điều mong mỏi.”
BJT 159“Tốt lắm!” Sau khi thỏa thuận, nàng ấy đã dâng bữa ăn đến tám vị tỳ khưu, đã khoác lên (các vị) với những tấm vải, rồi đã chỉ định sự cúng dường là dành cho nữ ngạ quỷ ấy.
BJT 160Khi được chỉ định thì quả thành tựu đã được sanh lên ngay lập tức: vật thực, y phục, nước uống; quả báo này là do sự cúng dường.
BJT 161Do đó, nàng ấy (nữ ngạ quỷ) trở nên sạch sẽ, có y phục tinh khiết, có sự trang phục bằng vải hạng nhất của xứ Kāsī, có các đồ trang sức và các tấm vải nhiều màu sắc, đã đi đến gặp người nữ có chung chồng.
BJT 162“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 163Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 164Hỡi nàng tiên có đại oai lực, tôi hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 165“Tôi là Mattā, cô là Tissā, trước đây tôi đã là người vợ có chung chồng với cô. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 166Nhờ vào vật thí đã được cô dâng cúng, tôi vui sướng, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu. Này em gái, mong rằng cô sống thọ cùng với tất cả thân quyến.
BJT 167Nơi chốn không sầu muộn, xa lìa luyến ái, là chỗ trú ngụ của các vị có quyền lực. Này người đẹp, ở đây sau khi thực hành Giáo Pháp, sau khi dâng cúng vật thí, sau khi loại trừ ô nhiễm của sự bỏn xẻn luôn cả gốc rễ, không bị chê trách, mong rằng cô đi đến nơi chốn cõi Trời.”
Chuyện Ngạ Quỷ Mattā là thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Mattāpetivatthu
3. The Story of the Spirit Mattā
3. Câu chuyện về ngạ quỷ Mattā
134.
134.
134.
‘‘Naggā dubbaṇṇarūpāsi, kisā dhamanisanthatā;
Upphāsulike kisike, kā nu tvaṃ idha tiṭṭhasī’’ti.
You are naked and of unlovely form, emaciated and covered with prominent veins; with protruding ribs, O emaciated one, who are you standing here?
“Này cô kia trần truồng, hình sắc xấu xí, gầy gò, nổi gân xanh; sườn trơ ra, ốm yếu, cô là ai đang đứng ở đây?”
135.
135.
135.
‘‘Ahaṃ mattā tuvaṃ tissā, sapattī te pure ahuṃ;
Pāpakammaṃ karitvāna, petalokaṃ ito gatā’’ti.
I am Mattā, you are Tissā; I was your co-wife in a former life. Having done an evil deed, I went from here to the world of spirits.
“Tôi là Mattā, cô là Tissā, tôi đã từng là vợ bé của chồng cô thuở trước. Do đã làm ác nghiệp, nên từ đây tôi đã đi đến cõi ngạ quỷ.”
136.
136.
136.
‘‘Kiṃ nu kāyena vācāya, manasā dukkaṭaṃ kataṃ;
Kissa kammavipākena, petalokaṃ ito gatā’’ti.
What ill deed was done by your body, speech, or mind? By the result of what kamma have you gone from here to the world of spirits?
“Cô đã làm ác nghiệp gì bằng thân, khẩu, ý? Do quả của nghiệp nào mà từ đây cô đã đi đến cõi ngạ quỷ?”
137.
137.
137.
‘‘Caṇḍī ca pharusā cāsiṃ, issukī maccharī saṭhā †;
Tāhaṃ duruttaṃ vatvāna, petalokaṃ ito gatā’’ti.
I was fierce and harsh, jealous, miserly, and deceitful. I, having spoken ill words, went from here to the world of spirits.
“Tôi đã từng dữ dằn, thô lỗ, ganh tỵ, bỏn xẻn, và xảo trá. Do đã nói lời ác, nên từ đây tôi đã đi đến cõi ngạ quỷ.”
138.
138.
138.
Sabbaṃ † ahampi jānāmi, yathā tvaṃ caṇḍikā ahu;
Aññañca kho taṃ pucchāmi, kenāsi paṃsukunthitā’’ti.
I also know all that, how you were fierce. But I ask you something else: by what are you covered with dust?
“Tôi cũng biết tất cả những điều đó, rằng cô đã từng dữ dằn. Nhưng tôi hỏi cô điều khác: do nhân gì cô bị bao phủ bởi bụi bẩn?”
139.
139.
139.
‘‘Sīsaṃnhātā tuvaṃ āsi, sucivatthā alaṅkatā;
Ahañca kho † adhimattaṃ, samalaṅkatatarā tayā.
You had bathed your head, were clad in clean clothes, and adorned; but I was even more exceedingly well-adorned than you.
“Cô đã gội đầu, mặc y phục sạch sẽ, và trang điểm. Còn tôi thì trang điểm lộng lẫy hơn cô rất nhiều.
140.
140.
140.
‘‘Tassā me pekkhamānāya, sāmikena samantayi;
Tato me issā vipulā, kodho me samajāyatha.
While I was watching, you spoke with our husband; from that, great jealousy arose in me, and anger was born in me.
“Trong khi tôi đang nhìn, cô đã nói chuyện với chồng. Do đó, lòng ganh tỵ của tôi nổi lên mãnh liệt, và sự tức giận đã sanh khởi.
141.
141.
141.
‘‘Tato paṃsuṃ gahetvāna, paṃsunā taṃ hi okiriṃ †;
Tassa kammavipākena, tenamhi paṃsukunthitā’’ti.
Then, taking dust, I sprinkled you with dust; by the result of that kamma, I am covered with dust.
“Do đó, sau khi lấy bụi, tôi đã rắc bụi lên người cô. Do quả của nghiệp đó, nên tôi bị bao phủ bởi bụi bẩn.”
142.
142.
142.
‘‘Saccaṃ ahampi jānāmi, paṃsunā maṃ tvamokiri;
Aññañca kho taṃ pucchāmi, kena khajjasi kacchuyā’’ti.
Truly, I also know that you sprinkled me with dust. But I ask you something else: by what are you tormented by scabies?
“Sự thật là tôi cũng biết cô đã rắc bụi lên tôi. Nhưng tôi hỏi cô điều khác: do nhân gì cô bị bệnh ghẻ ngứa hành hạ?”
143.
143.
143.
‘‘Bhesajjahārī ubhayo, vanantaṃ agamimhase;
Tvañca bhesajjamāhari, ahañca kapikacchuno.
We both went to the forest to gather herbs; you brought back medicinal herbs, and I, itching beans.
“Cả hai chúng ta đã đi vào rừng để lấy thuốc. Cô đã lấy thuốc, còn tôi thì lấy trái mắt mèo.
144.
144.
144.
‘‘Tassā tyājānamānāya, seyyaṃ tyāhaṃ samokiriṃ;
Tassa kammavipākena, tena khajjāmi kacchuyā’’ti.
While you were unaware, I sprinkled your bed with them; by the result of that kamma, I am tormented by scabies.
“Lúc chị không hay biết, em đã rắc (trái ngứa) lên giường của chị. Do quả báo của nghiệp ấy, em bị bệnh ghẻ lở hành hạ.”
145.
145.
145.
‘‘Saccaṃ ahampi jānāmi, seyyaṃ me tvaṃ samokiri;
Aññañca kho taṃ pucchāmi, kenāsi naggiyā tuva’’nti.
Truly, I also know that you sprinkled my bed. But I ask you something else: by what are you naked?
“Đúng vậy, tôi cũng biết rằng cô đã rắc (trái ngứa) lên giường của tôi. Nhưng tôi xin hỏi cô điều khác nữa: vì sao cô lại trần truồng như vậy?”
146.
146.
146.
‘‘Sahāyānaṃ samayo āsi, ñātīnaṃ samitī ahu;
Tvañca āmantitā āsi, sasāminī no ca kho ahaṃ.
There was a gathering of friends, an assembly of relatives. You were invited with your husband, but I was not.
“Có một buổi họp mặt của bạn bè, một cuộc tụ họp của bà con. Chị cùng với chồng đã được mời, còn em thì không.”
147.
147.
147.
‘‘Tassā tyājānamānāya, dussaṃ tyāhaṃ apānudiṃ;
Tassa kammavipākena, tenamhi naggiyā aha’’nti.
While you were unaware, I took away your garment; by the result of that kamma, I am now naked.
“Lúc chị không hay biết, em đã lấy trộm y phục của chị. Do quả báo của nghiệp ấy, nên em phải trần truồng.”
148.
148.
148.
‘‘Saccaṃ ahampi jānāmi, dussaṃ me tvaṃ apānudi;
Aññañca kho taṃ pucchāmi, kenāsi gūthagandhinī’’ti.
Truly, I also know that you took away my garment. But I ask you something else: by what do you have the smell of excrement?
“Đúng vậy, tôi cũng biết rằng cô đã lấy trộm y phục của tôi. Nhưng tôi xin hỏi cô điều khác nữa: vì sao cô lại có mùi hôi như phân?”
149.
149.
149.
‘‘Tava gandhañca mālañca, paccagghañca vilepanaṃ;
Gūthakūpe adhāresiṃ †, taṃ pāpaṃ pakataṃ mayā;
Tassa kammavipākena, tenamhi gūthagandhinī’’ti.
Your new perfume, flowers, and ointment I threw into a cesspit. That evil deed was done by me; by the result of that kamma, I have the smell of excrement.
“Hương liệu, vòng hoa, và cả thuốc thoa hảo hạng của chị, em đã ném vào hố phân. Em đã làm điều ác ấy. Do quả báo của nghiệp đó, nên em có mùi hôi như phân.”
150.
150.
150.
‘‘Saccaṃ ahampi jānāmi, taṃ pāpaṃ pakataṃ tayā;
Aññañca kho taṃ pucchāmi, kenāsi duggatā tuva’’nti.
Truly, I also know that evil deed was done by you. But I ask you something else: by what have you come to a woeful state?
“Đúng vậy, tôi cũng biết rằng cô đã làm điều ác ấy. Nhưng tôi xin hỏi cô điều khác nữa: vì sao cô lại bị đọa vào cảnh khổ?”
151.
151.
151.
‘‘Ubhinnaṃ samakaṃ āsi, yaṃ gehe vijjate dhanaṃ;
Santesu deyyadhammesu, dīpaṃ nākāsimattano;
Tassa kammavipākena, tenamhi duggatā ahaṃ.
Whatever wealth was in the house was equal for both of us. Though there were things to be given, I made no refuge for myself. By the result of that kamma, I have come to a woeful state.
“Tài sản nào có trong nhà, cả hai chúng ta đều có phần bằng nhau. Dù có vật để bố thí, em đã không tự tạo hòn đảo nương tựa cho mình. Do quả báo của nghiệp ấy, nên em bị đọa vào cảnh khổ.”
152.
152.
152.
‘‘Tadeva maṃ tvaṃ avaca, ‘pāpakammaṃ nisevasi;
Na hi pāpehi kammehi, sulabhā hoti suggatī’’’ti.
At that very time you said to me, ‘You engage in evil kamma; a good destination is not easily obtained through evil deeds.’
“Ngay cả khi đó, chị đã nói với em rằng: ‘Cô đang làm những điều ác. Với những nghiệp ác, khó mà đạt được thiện thú (cảnh giới an lành).’”
153.
153.
153.
‘‘Vāmato maṃ tvaṃ paccesi, athopi maṃ usūyasi;
Passa pāpānaṃ kammānaṃ, vipāko hoti yādiso.
You regarded me wrongly, and you were also jealous of me. See what kind of result comes from evil kamma.
“Cô đã nhìn nhận tôi một cách sai trái, lại còn ganh tỵ với tôi. Hãy xem quả báo của các nghiệp ác nó như thế nào.”
154.
154.
154.
‘‘Te gharā tā ca dāsiyo †, tānevābharaṇānime;
Te aññe paricārenti, na bhogā honti sassatā.
Those houses, those female servants, and those very ornaments—others now enjoy them. Possessions are not eternal.
“Những ngôi nhà ấy, những nữ tỳ ấy, và cả những trang sức này của cô; người khác đang hưởng dụng chúng. Của cải không hề vĩnh cửu.”
155.
155.
155.
‘‘Idāni bhūtassa pitā, āpaṇā gehamehiti;
Appeva te dade kiñci, mā su tāva ito agā’’ti.
Now, the boy’s father will come home from the market; perhaps he will give you something. Please do not go from here yet.
“Bây giờ cha của đứa bé sẽ từ chợ về nhà. Có lẽ ông ấy sẽ cho cô một chút gì đó. Xin cô đừng vội đi khỏi đây.”
156.
156.
156.
‘‘Naggā dubbaṇṇarūpāmhi, kisā dhamanisanthatā;
Kopīnametaṃ itthīnaṃ, mā maṃ bhūtapitāddasā’’ti.
I am naked and of unlovely form, emaciated and covered with prominent veins. This is a cause of shame for women; may the boy’s father not see me!
“Em đang trần truồng, hình dung xấu xí, gầy gò, nổi đầy gân guốc. Đây là điều xấu hổ đối với phụ nữ. Xin đừng để cha của đứa bé nhìn thấy em.”
157.
157.
157.
‘‘Handa kiṃ vā tyāhaṃ † dammi, kiṃ vā tedha † karomahaṃ;
Yena tvaṃ sukhitā assa, sabbakāmasamiddhinī’’ti.
Come now, what shall I give you? Or what service can I do for you here, by which you may be happy and fulfilled in all your desires?
“Nào, tôi có thể cho cô cái gì, hay tôi có thể làm gì cho cô ở đây, để cô được an lạc và toại nguyện mọi mong muốn?”
158.
158.
158.
‘‘Cattāro bhikkhū saṅghato, cattāro pana puggalā;
Aṭṭha bhikkhū bhojayitvā, mama dakkhiṇamādisa;
Tadāhaṃ sukhitā hessaṃ, sabbakāmasamiddhinī’’ti.
Having fed four monks from the Sangha and four individual monks—eight monks in all—dedicate the offering to me. Then I will be happy and fulfilled in all my desires.
“Hãy cúng dường vật thực cho tám vị Tỳ khưu, bốn vị đại diện Tăng đoàn và bốn vị cá nhân, rồi hồi hướng phước báu ấy cho em. Khi đó, em sẽ được an lạc và toại nguyện mọi mong muốn.”
159.
159.
159.
Sādhūti sā paṭissutvā, bhojayitvāṭṭha bhikkhavo;
Vatthehacchādayitvāna, tassā dakkhiṇamādisī.
Saying, “Good,” she consented. Having fed eight monks and clothed them with robes, she dedicated the offering to her.
Nói “Lành thay”, bà ấy đã đồng ý, rồi cúng dường vật thực và y phục cho tám vị Tỳ khưu, sau đó hồi hướng phước báu ấy cho cô ta.
160.
160.
160.
Samanantarānuddiṭṭhe, vipāko udapajjatha;
Bhojanacchādanapānīyaṃ, dakkhiṇāya idaṃ phalaṃ.
Immediately after the dedication, the result arose. Food, clothing, and drink—this was the fruit of the offering.
Ngay sau khi hồi hướng, quả báo liền phát sinh. Thức ăn, y phục, và đồ uống, đây là kết quả của sự cúng dường.
161.
161.
161.
Tato suddhā sucivasanā, kāsikuttamadhārinī;
Vicittavatthābharaṇā, sapattiṃ upasaṅkami.
Then, purified, wearing clean clothes, clad in the finest cloth of Kāsi, and adorned with various clothes and ornaments, she approached her co-wife.
Sau đó, thân thể thanh tịnh, y phục sạch sẽ, khoác lụa Kasi thượng hạng, trang sức với y phục và đồ trang điểm lộng lẫy, cô ta đến gần người vợ cả.
162.
162.
162.
‘‘Abhikkantena vaṇṇena, yā tvaṃ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā, osadhī viya tārakā.
With your surpassing radiance, you stand, O deity, illuminating all directions like the morning star.
“Hỡi thiên nữ, nàng đứng đó với dung sắc tuyệt vời, tỏa sáng khắp mọi phương trời, như sao mai rực rỡ.”
163.
163.
163.
‘‘Kena tetādiso vaṇṇo, kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā, ye keci manaso piyā.
By what is your complexion such as this? By what do you prosper here? And by what do possessions arise for you, whatever are dear to the mind?
“Nhờ đâu nàng có dung sắc như vậy? Nhờ đâu nàng thành tựu được ở nơi đây? Và nhờ đâu mọi của cải làm vui lòng thỏa ý lại phát sinh đến cho nàng?”
164.
164.
164.
‘‘Pucchāmi taṃ devi mahānubhāve, manussabhūtā kimakāsi puññaṃ;
Kenāsi evaṃ jalitānubhāvā, vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“O deity of great power, I ask you: when you were a human being, what meritorious deed did you perform? By what meritorious deed are you of such blazing power, and your complexion illuminates all directions?”
“Tôi xin hỏi nàng, hỡi thiên nữ đầy oai lực, khi còn là người, nàng đã làm phước gì? Nhờ đâu nàng có được oai lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của nàng tỏa sáng khắp mọi phương trời?”
165.
165.
165.
‘‘Ahaṃ mattā tuvaṃ tissā, sapattī te pure ahuṃ;
Pāpakammaṃ karitvāna, petalokaṃ ito gatā.
“I am Mattā, you are Tissā; in a former life, I was your co-wife. Having committed an evil deed, I have gone from here to the peta-realm.”
“Tôi là Mattā, chị là Tissā. Kiếp trước, tôi là vợ bé của chồng chị. Vì đã làm điều ác, nên từ cõi này tôi đã sanh vào thế giới ngạ quỷ.”
166.
166.
166.
‘‘Tava dinnena dānena, modāmi akutobhayā;
Cīraṃ jīvāhi bhagini, saha sabbehi ñātibhi;
Asokaṃ virajaṃ ṭhānaṃ, āvāsaṃ vasavattinaṃ.
“Because of the gift given by you, I rejoice, free from danger. Live long, sister, together with all your relatives. May you attain the sorrowless, stainless place, the abode where one has mastery.”
“Nhờ sự bố thí của chị, em được hoan hỷ, không còn sợ hãi. Cầu mong chị, người chị em, được sống lâu cùng với tất cả bà con. (Cầu mong chị đạt đến) cảnh giới không sầu muộn, không bụi trần, trú xứ của chư thiên Vasavatti.”
167.
167.
167.
‘‘Idha dhammaṃ caritvāna, dānaṃ datvāna sobhane;
Vineyya maccheramalaṃ samūlaṃ, aninditā saggamupehi ṭhāna’’nti.
“Having practiced the Dhamma here and having given gifts, O beautiful one, having removed the stain of stinginess together with its root, may you, being blameless, approach the heavenly realm.”
“Hỡi người xinh đẹp, ở cõi này, sau khi thực hành Chánh pháp, làm việc bố thí, nhổ tận gốc rễ vết nhơ của sự bỏn xẻn, không bị chê trách, mong chị hãy đạt đến cảnh giới chư thiên.”
Mattāpetivatthu tatiyaṃ.
The Third Story: The Peta-woman Mattā.
Câu chuyện ngạ quỷ Mattā, phần thứ ba.