Bản dịch
PV 14 — Chuyện Ngạ Quỷ - Mẹ của Trưởng Lão Sāriputta
2. Sāriputtattheramātupetivatthu
BJT 116“Này cô nàng lòi cả xương sườn, gầy guộc, nàng là ai mà đứng ở nơi đây, lõa lồ, có vóc dáng xấu xí, ốm o, nổi đầy gân?”
BJT 117“Tôi là mẹ của ngài trong những kiếp sống khác trước đây, đã bị sanh vào cảnh giới ngạ quỷ, bị gánh chịu sự đói khát.
BJT 118-119Bị tác động bởi cơn đói, tôi ăn vật thuộc về người nữ và người nam: vật bị ói ra, vật bị khạc nhổ, nước miếng, nước mũi, đờm dãi, mỡ béo của những thi thể đang bị đốt cháy, và máu của những phụ nữ đang sanh, máu của những vết thương và của những vết cắt ở lỗ mũi và ở đầu.
BJT 120Tôi có thức ăn là mủ máu của những loài thú nuôi và của những con người, không chốn nương tựa, và không nơi cư trú, có chỗ nghỉ ngơi là chiếc giường xám xanh (dùng khiêng tử thi).
BJT 121Này con trai, hãy cho tôi vật thí, sau khi bố thí xin ngài hãy chỉ định (việc ấy là) dành cho tôi; được như thế thì tôi có thể thoát khỏi việc thọ thực mủ và máu.”
BJT 122Sau khi lắng nghe lời nói của người mẹ, vị Upatissa, bậc có lòng thương tưởng, đã thỉnh ý các vị Moggallāna, Anuruddha, và Kappina.
BJT 123Sau khi thực hiện bốn liêu cốc, vị ấy đã dâng các liêu cốc và cơm ăn nước uống đến Hội Chúng bốn phương; vị ấy đã chỉ định sự cúng dường là dành cho người mẹ.
BJT 124Khi được chỉ định thì quả thành tựu đã được sanh lên ngay lập tức: vật thực, nước uống, vải vóc; quả báo này là do sự cúng dường.
BJT 125Do đó, nàng ấy (nữ ngạ quỷ) trở nên sạch sẽ, có y phục tinh khiết, có sự trang phục bằng vải hạng nhất của xứ Kāsī, có các đồ trang sức và các tấm vải nhiều màu sắc, đã đi đến gặp vị Kolita.
BJT 126“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 127Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 128Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 129“Tôi là mẹ của Sāriputta trong những kiếp sống khác trước đây, đã bị sanh vào cảnh giới ngạ quỷ, bị gánh chịu sự đói khát.
BJT 130-131Bị tác động bởi cơn đói, tôi ăn vật thuộc về người nữ và người nam: vật bị ói ra, vật bị khạc nhổ, nước miếng, nước mũi, đờm dãi, mỡ béo của những thi thể đang bị đốt cháy, và máu của những phụ nữ đang sanh, máu của những vết thương và của những vết cắt ở lỗ mũi và ở đầu.
BJT 132Tôi có thức ăn là mủ máu của những loài thú nuôi và của những con người, không chốn nương tựa, và không nơi cư trú, có chỗ nghỉ ngơi là chiếc giường xám xanh (dùng khiêng tử thi).
BJT 133Nhờ vào sự bố thí của Sāriputta, tôi vui sướng, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu. Thưa ngài, tôi đi đến để đảnh lễ bậc hiền trí, đấng bi mẫn ở thế gian.”
Chuyện Ngạ Quỷ—Mẹ của Trưởng Lão Sāriputta là thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Sāriputtattheramātupetivatthu
2. The Story of the Petī who was the Elder Sāriputta's Mother
2. Câu chuyện mẹ của Trưởng lão Sāriputta là ngạ quỷ
116.
116.
116.
‘‘Naggā dubbaṇṇarūpāsi, kisā dhamanisanthatā;
Upphāsulike kisike, kā nu tvaṃ idha tiṭṭhasi’’.
“Naked and of ugly form you are, emaciated and with prominent veins; with protruding ribs, gaunt—who are you, standing here?”
“Này cô kia trần truồng, hình sắc xấu xí, gầy gò, nổi gân xanh; sườn trơ ra, ốm yếu, cô là ai đang đứng ở đây?”
117.
117.
117.
‘‘Ahaṃ te sakiyā mātā, pubbe aññāsu jātīsu;
Upapannā pettivisayaṃ, khuppipāsasamappitā.
“In former births, I was your own mother. Now I am reborn in the peta-realm, afflicted by hunger and thirst.”
“Con là mẹ của ngài, trong các kiếp trước đây; nay sanh vào cõi ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ.
118.
118.
118.
‘‘Chaḍḍitaṃ khipitaṃ kheḷaṃ, siṅghāṇikaṃ silesumaṃ;
Vasañca ḍayhamānānaṃ, vijātānañca lohitaṃ.
“Vomit and what is spat out, spittle, nasal mucus, and phlegm; and the fat of those being cremated, and the blood of women in childbirth.”
“(Con ăn) đồ nôn mửa, đồ khạc nhổ, nước bọt, nước mũi, đờm dãi; và mỡ của những người bị thiêu, và máu của phụ nữ sanh nở.
119.
119.
119.
‘‘Vaṇikānañca yaṃ ghāna-sīsacchinnāna lohitaṃ;
Khudāparetā bhuñjāmi, itthipurisanissitaṃ.
“And whatever blood there is from wounds and from those with severed noses and heads, and what comes from the bodies of women and men—overcome by hunger, I consume it.”
“Và máu từ các vết thương, máu của những người bị cắt mũi, cắt đầu; bị đói khát hành hạ, con ăn những thứ dơ bẩn từ thân của nam và nữ.
120.
120.
120.
‘‘Pubbalohitaṃ bhakkhāmi †, pasūnaṃ mānusāna ca;
Aleṇā anagārā ca, nīlamañcaparāyaṇā.
“I consume the pus and blood of animals and of humans. I am without shelter, without a home, with a funeral bier as my only resort.”
“Con ăn mủ và máu của thú vật và loài người; không nơi nương tựa, không nhà cửa, lấy giường ở nghĩa địa làm nơi nương náu.
121.
121.
121.
‘‘Dehi puttaka me dānaṃ, datvā anvādisāhi me;
Appeva nāma mucceyyaṃ, pubbalohitabhojanā’’ti.
“My son, give a gift on my behalf; having given, dedicate it to me. Then I might indeed be freed from eating pus and blood.”
“Hỡi người con, xin hãy bố thí cho con, sau khi bố thí xin hãy hồi hướng cho con; mong rằng con có thể được giải thoát khỏi việc ăn mủ và máu.”
122.
122.
122.
Mātuyā vacanaṃ sutvā, upatissonukampako;
Āmantayi moggallānaṃ, anuruddhañca kappinaṃ.
Having heard his mother's words, the compassionate Upatissa addressed Moggallāna, Anuruddha, and Kappina.
Nghe lời của mẹ, ngài Upatissa, người có lòng bi mẫn, đã gọi ngài Moggallāna, ngài Anuruddha, và ngài Kappina.
123.
123.
123.
Catasso kuṭiyo katvā, saṅghe cātuddise adā;
Kuṭiyo annapānañca, mātu dakkhiṇamādisī.
Having had four huts built, he gave them to the Sangha of the four directions; he then dedicated the offering of the huts, food, and drink to his mother.
Sau khi xây dựng bốn cốc liêu, ngài đã cúng dường đến Tăng chúng bốn phương; ngài đã hồi hướng phước báu từ các cốc liêu, đồ ăn và thức uống đến cho mẹ.
124.
124.
124.
Samanantarānuddiṭṭhe, vipāko udapajjatha;
Bhojanaṃ pānīyaṃ vatthaṃ, dakkhiṇāya idaṃ phalaṃ.
Immediately upon the dedication, the result arose: food, drink, and clothing. This was the fruit of the offering.
Ngay sau khi hồi hướng, quả báu đã sanh khởi; thức ăn, thức uống, y phục, đây là quả của sự cúng dường.
125.
125.
125.
Tato suddhā sucivasanā, kāsikuttamadhārinī;
Vicittavatthābharaṇā, kolitaṃ upasaṅkami.
Thereafter, purified, clad in clean garments, wearing the finest Kāsi cloth, and adorned with variegated clothes and ornaments, she approached Kolita.
Sau đó, thân thể thanh tịnh, mặc y phục sạch sẽ, mang y phục thượng hạng xứ Kāsī; trang sức bằng y phục và đồ trang điểm lộng lẫy, bà đã đi đến ngài Kolita.
126.
126.
126.
‘‘Abhikkantena vaṇṇena, yā tvaṃ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā, osadhī viya tārakā.
With your surpassing radiance, you stand, O deity, illuminating all directions like the morning star.
“Hỡi thiên nữ, cô đang đứng đây với dung sắc tuyệt vời, chiếu sáng khắp mọi phương, như sao Hôm.
127.
127.
127.
‘‘Kena tetādiso vaṇṇo, kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā, ye keci manaso piyā.
By what is your complexion such as this? By what do you prosper here? And by what do possessions arise for you, whatever are dear to the mind?
“Do nhân gì cô có dung sắc như vậy? Do nhân gì cô được thành tựu ở đây? Và do nhân gì các tài sản sanh khởi cho cô, bất cứ thứ gì làm hài lòng tâm ý.
128.
128.
128.
‘‘Pucchāmi taṃ devi mahānubhāve, manussabhūtā kimakāsi puññaṃ;
Kenāsi evaṃ jalitānubhāvā, vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
I ask you, O deity of great power: when you were a human being, what merit did you perform? By what are you of such radiant power, and by what does your complexion illuminate all directions?
“Tôi hỏi cô, hỡi thiên nữ có đại oai lực, khi là người cô đã làm phước gì? Do nhân gì cô có oai lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của cô chiếu sáng khắp mọi phương?”
129.
129.
129.
‘‘Sāriputtassāhaṃ mātā, pubbe aññāsu jātīsu;
Upapannā pettivisayaṃ, khuppipāsasamappitā.
I was the mother of Sāriputta in former births; reborn into the realm of spirits, I am afflicted by hunger and thirst.
“Con là mẹ của ngài Sāriputta, trong các kiếp trước đây; nay sanh vào cõi ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ.
130.
130.
130.
‘‘Chaḍḍitaṃ khipitaṃ kheḷaṃ, siṅghāṇikaṃ silesumaṃ;
Vasañca ḍayhamānānaṃ, vijātānañca lohitaṃ.
What is spat out, phlegm, spittle, nasal mucus, and rheum; and the fat of those being cremated, and the blood of women in childbirth;
“(Con ăn) đồ nôn mửa, đồ khạc nhổ, nước bọt, nước mũi, đờm dãi; và mỡ của những người bị thiêu, và máu của phụ nữ sanh nở.
131.
131.
131.
‘‘Vaṇikānañca yaṃ ghāna-sīsacchinnāna lohitaṃ;
Khudāparetā bhuñjāmi, itthipurisanissitaṃ.
And whatever blood there is from wounds and from those with severed noses and heads, and what is connected with the bodies of women and men—overcome by hunger, I consume it.
“Và máu từ các vết thương, máu của những người bị cắt mũi, cắt đầu; bị đói khát hành hạ, con ăn những thứ dơ bẩn từ thân của nam và nữ.
132.
132.
132.
‘‘Pubbalohitaṃ bhakkhissaṃ, pasūnaṃ mānusāna ca;
Aleṇā anagārā ca, nīlamañcaparāyaṇā.
I must consume the pus and blood of animals and of humans. I am without shelter, without a home, with a funeral bier as my only resort.
“Con đã phải ăn mủ và máu của thú vật và loài người; không nơi nương tựa, không nhà cửa, lấy giường ở nghĩa địa làm nơi nương náu.
133.
133.
133.
‘‘Sāriputtassa dānena, modāmi akutobhayā;
Muniṃ kāruṇikaṃ loke, bhante vanditumāgatā’’ti.
Through the gift of Sāriputta, I rejoice, free from any fear. Venerable sir, I have come to venerate the compassionate Sage in the world.
“Nhờ sự bố thí của ngài Sāriputta, con hoan hỷ, không còn sợ hãi. Bạch ngài, bậc Thánh có lòng bi mẫn trong thế gian, con đến để đảnh lễ ngài.”
Sāriputtattherassa mātupetivatthu dutiyaṃ.
The Second Story: The Spirit of the Elder Sāriputta's Mother.
Câu chuyện về mẹ ngạ quỷ của Trưởng lão Sāriputta, thứ hai.