Bản dịch
PV 13 — Chuyện Ngạ Quỷ Saṃsāramocaka
1. Saṁsāramocakapetivatthu
BJT 95“Này cô nàng lòi cả xương sườn, gầy guộc, nàng là ai mà đứng ở nơi đây, lõa lồ, có vóc dáng xấu xí, ốm o, nổi đầy gân?”
BJT 96“Thưa ngài đại đức, con là nữ ngạ quỷ bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây con đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 97“Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà từ nơi đây nàng đã đi đến thế giới ngạ quỷ?”
BJT 98“Thưa ngài, cha và mẹ hoặc luôn cả các thân quyến đã không có lòng thương tưởng đến con, họ không khuyến khích con rằng: ‘Con hãy dâng vật thí đến các Sa-môn và Bà-la-môn với tâm tịnh tín.’
BJT 99Từ đây cho đến năm trăm năm, con lang thang, lõa lồ như thế này, trong khi bị ngấu nghiến bởi cơn đói và cơn khát; điều này là quả báo của nghiệp ác của con.
BJT 100Thưa chủ nhân, con xin đảnh lễ ngài với tâm tịnh tín. Thưa bậc sáng trí, có đại oai lực, xin ngài hãy thương xót con. Xin ngài hãy bố thí bất cứ vật gì rồi chỉ định việc ấy là dành cho con. Thưa ngài đại đức, xin ngài hãy giải thoát con khỏi cảnh giới khổ đau.”
BJT 101Sau khi đáp lại rằng: ‘Tốt lắm,’ vị Sāriputta ấy, bậc có lòng thương tưởng, đã dâng đến các vị tỳ khưu vắt cơm, mảnh vải cỡ bằng bàn tay, và tô nước uống, rồi đã chỉ định sự cúng dường là dành cho nữ ngạ quỷ ấy.
BJT 102Khi được chỉ định thì quả thành tựu đã được sanh lên ngay lập tức: vật thực, y phục, nước uống; quả báo này là do sự cúng dường.
BJT 103Do đó, nàng ấy (nữ ngạ quỷ) trở nên sạch sẽ, có y phục tinh khiết, có sự trang phục bằng vải hạng nhất của xứ Kāsī, có các đồ trang sức và các tấm vải nhiều màu sắc, đã đi đến gặp vị Sāriputta.
BJT 104“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 105Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 106Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 107“Bậc hiền trí, đấng bi mẫn ở thế gian, đã nhìn thấy con đây bị khổ sở, vàng vọt, ốm o, đói ăn, lõa lồ, có làn da nứt nẻ.
BJT 108Ngài đã dâng đến các vị tỳ khưu vắt cơm, mảnh vải cỡ bằng bàn tay, và tô nước uống, rồi đã chỉ định sự cúng dường là dành cho con.
BJT 109Xin ngài hãy nhìn xem quả báo của vắt cơm: Con thọ dụng bữa ăn có nhiều hương vị trong một ngàn năm, là người có dục lạc theo như ước muốn.
BJT 110-111Xin ngài hãy nhìn xem quả thành tựu của mảnh vải cỡ bằng bàn tay là như thế nào: Thưa ngài, các vải mặc ở lãnh thổ của đức vua Nanda nhiều chừng nào, thì các vải vóc và các y phục bằng tơ lụa, sợi len, sợi lanh, và bông vải của con còn nhiều hơn thế ấy.
BJT 112Chúng dư thừa và có trị giá cao, hơn nữa chúng treo lủng lẳng ở không trung; con đây chỉ khoác vào cái nào thích ý.
BJT 113Xin ngài hãy nhìn xem quả thành tựu của tô nước uống là như thế nào: Có các hồ sen sâu thẳm, hình chữ nhật, đã khéo được hóa hiện ra.
BJT 114Có nước trong, có những bến bãi xinh đẹp, mát mẻ, có mùi thơm, được che phủ bởi nhiều loại sen hồng và sen xanh, tràn ngập nước và phấn hoa.
BJT 115Con đây hưởng lạc, nô đùa, vui sướng, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu. Thưa ngài, con đi đến để đảnh lễ bậc hiền trí, đấng bi mẫn ở thế gian.”
Chuyện Ngạ Quỷ Saṁsāramocaka là thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. The Ubbarī Chapter
2. Phẩm Ubbari
1. Saṃsāramocakapetivatthu
1. The Story of the Female Ghost Released from Transmigration
1. Câu chuyện nữ ngạ quỷ Saṃsāramocaka
95.
95.
95.
‘‘Naggā dubbaṇṇarūpāsi, kisā dhamanisanthatā;
Upphāsulike † kisike, kā nu tvaṃ idha tiṭṭhasī’’ti.
“Naked and of ugly form you are, emaciated and with prominent veins; with protruding ribs, gaunt—who are you, standing here?”
‘Này người gầy gò, xương sườn trơ ra, ngươi trần truồng, hình dung xấu xí, ốm yếu, gân guốc nổi đầy. Ngươi là ai mà đứng ở đây?’
96.
96.
96.
‘‘Ahaṃ bhadante petīmhi, duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṃ karitvāna, petalokaṃ ito gatā’’ti.
“Venerable sir, I am a female ghost, wretched, belonging to the realm of Yama. Having done evil deeds, I have gone from here to the ghost world.”
‘Thưa ngài, con là một nữ ngạ quỷ, bị đoạ vào khổ cảnh, thuộc về thế giới của Diêm vương. Do đã làm điều ác, con từ đây đã sanh vào thế giới ngạ quỷ.’
97.
97.
97.
‘‘Kiṃ nu kāyena vācāya, manasā dukkaṭaṃ kataṃ;
Kissa kammavipākena, petalokaṃ ito gatā’’ti.
“What evil deed was done by body, speech, or mind? By the result of which kamma have you gone from here to the ghost world?”
‘Ngươi đã làm điều ác gì bằng thân, khẩu, hay ý? Do quả báo của nghiệp gì mà ngươi từ đây sanh vào thế giới ngạ quỷ?’
98.
98.
98.
‘‘Anukampakā mayhaṃ nāhesuṃ bhante, pitā ca mātā athavāpi ñātakā;
Ye maṃ niyojeyyuṃ dadāhi dānaṃ, pasannacittā samaṇabrāhmaṇānaṃ.
“Venerable sir, I had no compassionate ones—neither father, mother, nor relatives—who would urge me, ‘Give a gift with a confident mind to ascetics and brahmins.’”
‘Thưa ngài, con không có những người thương xót, dù là cha, mẹ, hay quyến thuộc, là những người đã có thể khuyến khích con rằng: ‘Hãy với tâm tịnh tín mà bố thí đến các Sa-môn, Bà-la-môn.’
99.
99.
99.
‘‘Ito ahaṃ vassasatāni pañca, yaṃ evarūpā vicarāmi naggā;
Khudāya taṇhāya ca khajjamānā, pāpassa kammassa phalaṃ mamedaṃ.
“For five hundred years, I have wandered in this form, naked, tormented by hunger and thirst. This is the fruit of my own evil kamma.”
‘Từ đây, trong năm trăm năm, con đã lang thang trong tình trạng như thế này, trần truồng, bị giày vò bởi đói và khát. Đây là quả của ác nghiệp của con.’
100.
100.
100.
‘‘Vandāmi taṃ ayya pasannacittā, anukampa maṃ vīra mahānubhāva;
Datvā ca me ādisa yaṃ hi kiñci, mocehi maṃ duggatiyā bhadante’’ti.
“I venerate you, noble one, with a confident mind. O hero of great power, have compassion on me. Having given some gift, please dedicate it to me. Release me from this wretched state, venerable sir.”
‘Con xin đảnh lễ ngài, thưa bậc hiền giả, với tâm tịnh tín. Xin ngài, bậc anh hùng, bậc đại oai lực, hãy thương xót con. Xin ngài hãy bố thí bất cứ vật gì rồi hồi hướng cho con. Thưa ngài, xin hãy giải thoát con khỏi khổ cảnh này.’
101.
101.
101.
Sādhūti so paṭissutvā, sāriputtonukampako;
Bhikkhūnaṃ ālopaṃ datvā, pāṇimattañca coḷakaṃ;
Thālakassa ca pānīyaṃ, tassā dakkhiṇamādisi.
Saying, “Good,” the compassionate Sāriputta consented. He gave a mouthful of food to a monk, a hand-sized piece of cloth, and a cup of water, and dedicated the offering to her.
Nghe vậy, ngài Sāriputta, bậc có lòng thương xót, đã đáp lời: ‘Lành thay!’ Ngài đã bố thí một vắt cơm, một miếng vải bằng bàn tay, và một bát nước cho một vị Tỳ-khưu, rồi hồi hướng phước báu ấy cho nữ ngạ quỷ.
102.
102.
102.
Samanantarānuddiṭṭhe, vipāko udapajjatha;
Bhojanacchādanapānīyaṃ, dakkhiṇāya idaṃ phalaṃ.
Immediately upon the dedication, the result arose. Food, clothing, and drink—this was the fruit of the offering.
Ngay sau khi được hồi hướng, quả báo liền sanh khởi: thức ăn, y phục, và nước uống. Đây là quả của sự bố thí.
103.
103.
103.
Tato suddhā sucivasanā, kāsikuttamadhārinī;
Vicittavatthābharaṇā, sāriputtaṃ upasaṅkami.
Then, purified, clad in clean garments, wearing the finest Kāsi cloth, and adorned with various clothes and ornaments, she approached Sāriputta.
Sau đó, nàng trở nên thanh tịnh, mặc y phục sạch sẽ, mang y phục thượng hạng bằng lụa Kāsī, trang điểm với y phục và trang sức lộng lẫy, rồi đến gần ngài Sāriputta.
104.
104.
104.
‘‘Abhikkantena vaṇṇena, yā tvaṃ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā, osadhī viya tārakā.
“With surpassing complexion you stand, O deity, illuminating all directions like the morning star.”
‘Này thiên nữ, ngươi đứng đó với dung sắc tuyệt vời, tỏa sáng khắp mọi phương trời, như sao mai.’
105.
105.
105.
‘‘Kena tetādiso vaṇṇo, kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā, ye keci manaso piyā.
“By what is your complexion such? By what do you prosper here? And by what do possessions arise for you, whatever are dear to your mind?”
‘Do đâu mà ngươi có dung sắc như vậy? Do đâu mà ở đây ngươi được thành tựu? Và do đâu mà các tài sản làm vui thích tâm ý lại sanh khởi đến cho ngươi?’
106.
106.
106.
‘‘Pucchāmi taṃ devi mahānubhāve, manussabhūtā kimakāsi puññaṃ;
Kenāsi evaṃ jalitānubhāvā, vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“I ask you, O goddess of great power: when you were a human being, what merit did you make? By what are you of such blazing power, and by what does your complexion illuminate all directions?”
‘Này thiên nữ đại oai lực, ta hỏi ngươi đây: Khi còn là người, ngươi đã làm phước gì? Do đâu mà ngươi có oai lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của ngươi tỏa sáng khắp mọi phương trời?’
107.
107.
107.
‘‘Uppaṇḍukiṃ kisaṃ chātaṃ, naggaṃ sampatitacchaviṃ †;
Muni kāruṇiko loke, taṃ maṃ addakkhi duggataṃ.
“Pale, emaciated, starving, naked, and with peeling skin—the compassionate sage in the world saw me, that wretched one.”
‘Bậc ẩn sĩ, bậc có lòng bi mẫn trong thế gian, đã thấy con trong cảnh khổ, xanh xao, ốm yếu, đói khát, trần truồng, với làn da nứt nẻ.’
108.
108.
108.
‘‘Bhikkhūnaṃ ālopaṃ datvā, pāṇimattañca coḷakaṃ;
Thālakassa ca pānīyaṃ, mama dakkhiṇamādisi.
“Having given a morsel of food to a monk, a hand-sized piece of cloth, and water filling a bowl, he dedicated the offering to me.”
‘Ngài đã bố thí một vắt cơm, một miếng vải bằng bàn tay, và một bát nước cho một vị Tỳ-khưu, rồi hồi hướng phước báu ấy cho con.’
109.
109.
109.
‘‘Ālopassa phalaṃ passa, bhattaṃ vassasataṃ dasa;
Bhuñjāmi kāmakāminī, anekarasabyañjanaṃ.
“Behold the fruit of a morsel of food: for a thousand years I enjoy celestial food with many curries and condiments, obtaining all that I desire.”
‘Xin hãy xem quả của một vắt cơm: trong một ngàn năm, con được tùy ý hưởng thụ cơm với nhiều món ăn và hương vị.’
110.
110.
110.
‘‘Pāṇimattassa coḷassa, vipākaṃ passa yādisaṃ;
Yāvatā nandarājassa, vijitasmiṃ paṭicchadā.
“Behold the result of the hand-sized cloth, of what kind it is! As many coverings as are produced in the dominion of King Nanda…”
‘Xin hãy xem quả báo của miếng vải bằng bàn tay là như thế nào: (nhiều hơn) tất cả y phục có trong vương quốc của vua Nanda.’
111.
111.
111.
‘‘Tato bahutarā bhante, vatthānacchādanāni me;
Koseyyakambalīyāni, khomakappāsikāni ca.
“Venerable sir, my clothes and coverings are far more numerous than those: silken garments, woolen blankets, and linen and cotton cloths.”
‘Thưa ngài, y phục và áo choàng của con còn nhiều hơn thế nữa: nào là lụa, len, vải lanh, và vải bông.’
112.
112.
112.
‘‘Vipulā ca mahagghā ca, tepākāsevalambare;
Sāhaṃ taṃ paridahāmi, yaṃ yaṃ hi manaso piyaṃ.
“Vast and of great value, they hang in the very air; and I wear whatsoever is dear to my mind.”
‘Chúng rộng lớn và quý giá, treo lơ lửng trên không trung. Con mặc vào bất cứ thứ gì mà tâm con ưa thích.’
113.
113.
113.
‘‘Thālakassa ca pānīyaṃ, vipākaṃ passa yādisaṃ;
Gambhīrā caturassā ca, pokkharañño sunimmitā.
“And behold the result of the water from the bowl, of what kind it is: deep and square lotus ponds, well-created.”
‘Và xin hãy xem quả báo của một bát nước là như thế nào: những hồ sen được khéo tạo tác, sâu và có bốn cạnh.’
114.
114.
114.
‘‘Setodakā suppatitthā, sītā appaṭigandhiyā;
Padumuppalasañchannā, vārikiñjakkhapūritā.
“With white waters and fine bathing places, cool and free from any foul smell, covered with red and blue lotuses, and filled with their filaments.”
‘Nước trong, bến đẹp, mát lành, và thơm ngát, được bao phủ bởi hoa sen hồng và sen xanh, đầy những nhụy hoa.’
115.
115.
115.
‘‘Sāhaṃ ramāmi kīḷāmi, modāmi akutobhayā;
Muniṃ kāruṇikaṃ loke, bhante vanditumāgatā’’ti.
“I delight, I play, I rejoice, free from any fear. Venerable sir, I have come to venerate the compassionate Sage in the world.”
‘Con vui chơi, giải trí, và hoan hỷ, không còn sợ hãi. Thưa ngài, con đến đây để đảnh lễ bậc ẩn sĩ, bậc có lòng bi mẫn trong thế gian.’
Saṃsāramocakapetivatthu paṭhamaṃ.
The First Story: The Petī Freed from Saṃsāra.
Câu chuyện nữ ngạ quỷ Saṃsāramocaka, thứ nhất.