Bản dịch
PV 10 — Chuyện Ngạ Quỷ Sói Đầu
10. Khallāṭiyapetivatthu
BJT 58“Cô nàng nào đang đứng ở bên trong cung điện mà lại không chịu bước ra? Này người con gái ngoan, xin nàng hãy bước ra, hãy cho chúng tôi nhìn nàng, con người có đại thần lực ấy.”
BJT 59“Bị trần truồng, tôi khổ sở và xấu hổ để bước ra bên ngoài. Tôi được che đậy bằng những sợi tóc, phước báu của tôi đã làm là ít ỏi.”
BJT 60“Này, tôi tặng nàng tấm choàng. Nàng hãy quấn tấm vải này vào. Này người đẹp, sau khi quấn vào tấm vải này, nàng hãy bước ra bên ngoài. Này người con gái ngoan, xin nàng hãy bước ra, hãy cho chúng tôi nhìn nàng, khi nàng đứng ở bên ngoài.”
BJT 61“Vật thí của ông dầu tay trao tay vẫn không lợi ích cho tôi. Ở đây, người cư sĩ kia, có niềm tin, là đệ tử của đấng Chánh Đẳng Giác.
BJT 62Sau khi choàng lên người ấy và chỉ định sự cúng dường là dành cho tôi. Khi ấy, tôi sẽ được hạnh phúc, có sự thành tựu tất cả các dục lạc.”
BJT 63Và sau khi tắm, sau khi thoa dầu cho người ấy, những người thương buôn ấy đã choàng lên bằng các tấm vải rồi đã chỉ định sự cúng dường là dành cho nàng ấy.
BJT 64Khi được chỉ định thì quả thành tựu đã được sanh lên ngay lập tức: vật thực, y phục, nước uống; quả báo này là do sự cúng dường.
BJT 65Do đó, được sạch sẽ, có y phục tinh khiết, có sự trang phục bằng vải của xứ Kāsī hạng nhất, nàng vừa cười vừa bước ra khỏi tòa lâu đài; quả báo này là do sự cúng dường.
BJT 66“Cung điện có dáng vóc được tô điểm khéo léo đáng yêu của nàng chiếu sáng. Thưa tiên nữ, đã được hỏi, xin nàng hãy thuật lại quả báo này là của nghiệp gì?”
BJT 67“Với tâm ý tịnh tín, tôi đã dâng cái bánh mè đến vị tỳ khưu có bản thể chính trực đang đi du hành.
BJT 68Tôi thọ hưởng quả thành tựu của nghiệp ấy ở tại cung điện trong thời gian dài, nhưng giờ đây việc ấy chỉ còn chút ít.
BJT 69Bốn tháng nữa, tôi sẽ chết. Tôi sẽ rơi vào địa ngục vô cùng khổ sở, ghê rợn.
BJT 70Địa ngục có bốn góc, có bốn cửa, được phân chia thành các phần cân xứng, được bao quanh bằng tường sắt, được đậy lại bằng tấm sắt.
BJT 71Mặt nền của nó làm bằng sắt, cháy rực, có sức nóng, tỏa rộng ra xung quanh một trăm do-tuần, và luôn luôn tồn tại.
BJT 72Tại nơi ấy, trong thời gian dài tôi sẽ cảm thọ khổ, quả báo của nghiệp ác; vì thế tôi vô cùng sầu muộn.”
Chuyện Ngạ Quỷ Sói Đầu là thứ mười.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Khallāṭiyapetivatthu
10. The Story of the Bald Petī
10. Câu chuyện ngạ quỷ ở Khallāṭiya
58.
58.
58.
‘‘Kā nu antovimānasmiṃ, tiṭṭhantī nūpanikkhami;
Upanikkhamassu bhadde, passāma taṃ bahiṭṭhita’’nti.
Who are you, standing inside the mansion, not coming out? Come forth, good lady; let us see you standing outside.
Ai đang đứng ở trong lâu đài mà không đi ra vậy? Này cô nương, xin hãy đi ra, chúng tôi muốn thấy cô đứng ở bên ngoài.
59.
59.
59.
‘‘Aṭṭīyāmi harāyāmi, naggā nikkhamituṃ bahi;
Kesehamhi paṭicchannā, puññaṃ me appakaṃ kata’’nti.
I am distressed and ashamed to go outside naked. I am covered by my hair; little is the merit that I have made.
Tôi đau khổ, tôi xấu hổ khi phải đi ra ngoài trần truồng. Tôi phải dùng tóc để che thân. Tôi đã làm được ít phước đức.
60.
60.
60.
‘‘Handuttarīyaṃ dadāmi te, idaṃ dussaṃ nivāsaya;
Idaṃ dussaṃ nivāsetvā, ehi nikkhama sobhane;
Upanikkhamassu bhadde, passāma taṃ bahiṭṭhita’’nti.
Here, I give you an upper garment; wear this cloth. Having put on this cloth, come forth, O beautiful one. Come forth, good lady; let us see you standing outside.
Này, tôi tặng cô chiếc áo choàng này, hãy mặc tấm vải này vào. Sau khi mặc tấm vải này, hỡi người đẹp, hãy đi ra đây. Này cô nương, xin hãy đi ra, chúng tôi muốn thấy cô đứng ở bên ngoài.
61.
61.
61.
‘‘Hatthena hatthe te dinnaṃ, na mayhaṃ upakappati;
Esetthupāsako saddho, sammāsambuddhasāvako.
What is given by your hand to my hand does not accrue to me. Here there is a faithful lay follower, a disciple of the Perfectly Enlightened One.
Vật được trao từ tay ngài vào tay tôi không mang lại lợi ích cho tôi. Ở đây có một vị cận sự nam có tín tâm, là đệ tử của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
62.
62.
62.
‘‘Etaṃ acchādayitvāna, mama dakkhiṇamādisa;
Tathāhaṃ † sukhitā hessaṃ, sabbakāmasamiddhinī’’ti.
Having clothed him, dedicate the offering to me. In that way I shall be happy, endowed with all that I desire.
Sau khi choàng y cho vị ấy, xin hãy hồi hướng phước cúng dường đến cho tôi. Như vậy, tôi sẽ được an lạc, đầy đủ tất cả các dục lạc.
63.
63.
63.
Tañca te nhāpayitvāna, vilimpetvāna vāṇijā;
Vatthehacchādayitvāna, tassā dakkhiṇamādisuṃ.
Those merchants, having bathed and anointed him, and having clothed him with garments, dedicated the offering to her.
Các thương nhân ấy đã tắm rửa, thoa dầu thơm cho vị cận sự nam, và choàng y phục cho vị ấy, rồi hồi hướng phước cúng dường đến cho nàng.
64.
64.
64.
Samanantarānuddiṭṭhe †, vipāko udapajjatha †;
Bhojanacchādanapānīyaṃ †, dakkhiṇāya idaṃ phalaṃ.
Immediately upon the dedication, the result arose: food, clothing, and drink. This was the fruit of the offering.
Ngay sau khi hồi hướng, quả báo liền phát sinh: thức ăn, y phục, và đồ uống. Đây là kết quả của sự cúng dường.
65.
65.
65.
Tato suddhā sucivasanā, kāsikuttamadhārinī;
Hasantī vimānā nikkhami, ‘dakkhiṇāya idaṃ phala’’’nti.
Then, purified, in clean garments, wearing the finest cloth of Kāsi, she came forth from the mansion smiling, saying: ‘This is the fruit of the offering.’
Sau đó, thân thể thanh tịnh, y phục sạch sẽ, khoác trên mình tấm vải Kāsi thượng hạng, nàng mỉm cười bước ra khỏi lâu đài, (nói rằng): ‘Đây là kết quả của sự cúng dường’.
66.
66.
66.
‘‘Sucittarūpaṃ ruciraṃ, vimānaṃ te pabhāsati;
Devate pucchitācikkha, kissa kammassidaṃ phala’’nti.
Your mansion is beautifully decorated, lovely, and shines brightly. O devatā, being asked, please tell us: of what kamma is this the fruit?
Lâu đài của ngài thật rực rỡ, được trang hoàng đẹp đẽ và lộng lẫy. Thưa thiên nữ, chúng tôi xin hỏi, xin ngài hãy cho biết, đây là kết quả của nghiệp gì?
67.
67.
67.
‘‘Bhikkhuno caramānassa, doṇinimmajjaniṃ ahaṃ;
Adāsiṃ ujubhūtassa, vippasannena cetasā.
To a bhikkhu of upright nature who was wandering for alms, with a mind of serene faith I gave a sesame cake dripping with oil.
Với tâm vô cùng trong sạch, tôi đã cúng dường một chiếc bánh mè cho một vị Tỳ-khưu đang đi khất thực, một bậc có tâm tánh ngay thẳng.
68.
68.
68.
‘‘Tassa kammassa kusalassa, vipākaṃ dīghamantaraṃ;
Anubhomi vimānasmiṃ, tañca dāni parittakaṃ.
For a long time I have been experiencing in this mansion the result of that wholesome kamma; and now that result is but little.
“Do quả của nghiệp thiện ấy, tôi đã hưởng thụ trong thiên cung một thời gian dài; và bây giờ quả ấy cũng còn lại ít ỏi.
69.
69.
69.
‘‘Uddhaṃ catūhi māsehi, kālaṃkiriyā † bhavissati;
Ekantakaṭukaṃ ghoraṃ, nirayaṃ papatissahaṃ.
After four months, my death will occur. I shall fall into a hell that is exclusively painful and terrible.
“Sau bốn tháng nữa, cái chết sẽ xảy ra; tôi sẽ rơi vào địa ngục hoàn toàn cay đắng, khủng khiếp.
70.
70.
70.
† ‘‘Catukkaṇṇaṃ catudvāraṃ, vibhattaṃ bhāgaso mitaṃ;
Ayopākārapariyantaṃ, ayasā paṭikujjitaṃ.
It has four corners and four gates, is divided and measured into portions, enclosed by an iron wall, and covered over with iron.
“(Địa ngục) có bốn góc, bốn cửa, được phân chia cân đối theo từng phần; được bao quanh bởi tường thành bằng sắt, được che đậy bằng sắt.
71.
71.
71.
‘‘Tassa ayomayā bhūmi, jalitā tejasā yutā;
Samantā yojanasataṃ, pharitvā tiṭṭhati sabbadā.
Its ground is made of iron, blazing and fiery. All around, for a hundred yojanas, its flames extend and constantly remain.
“Mặt đất của địa ngục ấy làm bằng sắt, bốc cháy, đầy lửa nóng; ngọn lửa lan tỏa xung quanh một trăm do-tuần, tồn tại khắp mọi nơi, mọi lúc.
72.
72.
72.
‘‘Tatthāhaṃ dīghamaddhānaṃ, dukkhaṃ vedissa vedanaṃ;
Phalañca pāpakammassa, tasmā socāmahaṃ bhusa’’nti.
There, for a long, long time, I shall experience painful feeling, the fruit of my evil kamma. That is why I grieve so intensely.
“Ở đó, trong một thời gian dài, tôi sẽ phải chịu đựng cảm thọ đau khổ, là quả của ác nghiệp; vì vậy, tôi vô cùng sầu muộn.”
Khallāṭiyapetivatthu dasamaṃ.
The Tenth, the Story of the Bald Petī.
Câu chuyện về nữ ngạ quỷ đầu trọc, phẩm thứ mười.