Bản dịch
PV 11 — Chuyện Ngạ Quỷ Voi
11. Nāgapetavatthu
BJT 73“Dẫn đầu là người di chuyển bằng con voi trắng, còn ở giữa là bằng chiếc xe lừa kéo, và sau cùng là người thiếu nữ được đưa đi bằng kiệu khiêng trong lúc nàng đang chiếu sáng khắp cả mười phương.
BJT 74Trái lại, hai ngươi thì có búa tạ cầm ở bàn tay, có khuôn mặt đẫm lệ, có thân thể bị trầy trụa, rách nát. Khi là con người, hai ngươi đã làm điều ác gì để rồi (bây giờ) hai ngươi uống máu lẫn nhau?”
BJT 75“Người đi dẫn đầu bằng con voi, loài tượng trắng có bốn chân, đã là người con trai lớn của chúng tôi. Sau khi dâng các vật thí, có được sự an lạc, nó vui sướng.
BJT 76Người ở giữa, bằng chiếc xe lừa kéo được thắng vào bốn con lừa di chuyển một cách khéo léo, đã là người con trai giữa của chúng tôi. Không bỏn xẻn, là người chủ thí, nó chói sáng rực rỡ.
BJT 77Và cô gái sau cùng, được đưa đi bằng kiệu khiêng, là người nữ có trí tuệ, có ánh mắt thơ ngây của loài nai, đã là người con gái út của chúng tôi. Với (sự bố thí) nửa phần của một phần ăn, có được sự an lạc, nó vui sướng.
BJT 78Và những người này trước đây, với tâm tịnh tín, đã dâng các vật thí đến các Sa-môn và Bà-la-môn; trái lại chúng tôi đã là những kẻ bỏn xẻn, là những kẻ mắng nhiếc các Sa-môn và Bà-la-môn. Những người này sau khi bố thí thì thong dong đó đây, còn chúng tôi bị héo úa như là cây sậy bị quăng bỏ.”
BJT 79“Là những kẻ có bản tính vô cùng xấu xa, các ngươi có thức ăn như thế nào? Chỗ nằm thế nào? Nuôi sống bằng cách nào? Trong khi có nhiều của cải không phải là ít, các ngươi đã bỏ lỡ niềm hạnh phúc, giờ đây các ngươi gánh chịu khổ đau.”
BJT 80“Sau khi giết hại lẫn nhau, chúng tôi uống mủ và máu. Chúng tôi uống nhiều nhưng vẫn không được thỏa mãn, không được hài lòng.
BJT 81Quả y như thế, những kẻ (giờ đây) than vãn là những người không bố thí, sau khi chết trở thành cư dân của cõi Dạ-ma. Những người ấy sau khi nhận thức và đạt được các của cải nhưng lại không thọ hưởng và cũng không làm việc phước thiện.
BJT 82Những người ấy, về sau này bị lâm vào cảnh đói khát, trở thành các ngạ quỷ bị thiêu cháy trong thời gian dài, luôn bị đốt nóng. Sau khi làm các nghiệp có quả báo khổ đau, chúng phải chịu đựng sự khổ sở là các quả báo đớn đau.
BJT 83Bởi vì của cải thóc gạo là tạm bợ, mạng sống ở đời này là tạm bợ, sau khi biết được tạm bợ là tạm bợ, người sáng trí nên tạo lập hòn đảo (chốn nương nhờ).
BJT 84Những người nhận biết như vậy là những người thông hiểu Giáo Pháp. Sau khi lắng nghe lời dạy của các vị A-la-hán, họ không xao lãng trong việc bố thí.”
Chuyện Ngạ Quỷ Voi là thứ mười một.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
11. Nāgapetavatthu
11. The Story of the Nāga Peta
11. Câu chuyện về ngạ quỷ Nāga
73.
73.
73.
‘‘Puratova † setena paleti hatthinā, majjhe pana assatarīrathena;
Pacchā ca kaññā sivikāya nīyati, obhāsayantī dasa sabbato † disā.
Foremost, one goes on a white elephant; in the middle, by a chariot drawn by mules; and behind, a maiden is carried in a palanquin, illuminating the ten directions all around.
“Phía trước, một người đi trên voi trắng, ở giữa là cỗ xe do ngựa la kéo; và phía sau, một thiếu nữ được khiêng đi trên kiệu, tỏa sáng khắp mười phương.
74.
74.
74.
‘‘Tumhe pana muggarahatthapāṇino, rudaṃmukhā chinnapabhinnagattā;
Manussabhūtā kimakattha pāpaṃ, yenaññamaññassa pivātha lohita’’nti.
But you, with clubs in your hands, with weeping faces, and with bodies cut and broken—having been human, what evil did you do, that you drink one another’s blood?
“Còn các người, tay cầm chày vồ, mặt đẫm lệ, thân thể bị cắt nát; khi còn là người, các người đã làm ác nghiệp gì, mà do đó phải uống máu của nhau?”
75.
75.
75.
‘‘Puratova yo gacchati kuñjarena, setena nāgena catukkamena;
Amhāka putto ahu jeṭṭhako so †, dānāni datvāna sukhī pamodati.
That man who goes foremost on a white, four-footed elephant—he was our eldest son. Having given gifts, he is happy and rejoices.
“Người đi phía trước trên con voi trắng, loài voi bốn chân; người ấy là con trai cả của chúng tôi. Do đã bố thí, nó được an lạc và hoan hỷ.
76.
76.
76.
‘‘Yo so majjhe assatarīrathena, catubbhi yuttena suvaggitena;
Amhāka putto ahu majjhimo so, amaccharī dānavatī virocati.
That man who goes in the middle by a chariot drawn by mules, yoked with four and of excellent gait—he was our middle son. He was not stingy, a master of giving, and thus he shines.
“Người đi ở giữa trên cỗ xe do bốn con ngựa la kéo, đi rất êm; người ấy là con trai thứ của chúng tôi. Không keo kiệt, là người hay bố thí, nó tỏa sáng rực rỡ.
77.
77.
77.
‘‘Yā sā ca pacchā sivikāya nīyati, nārī sapaññā migamandalocanā;
Amhāka dhītā ahu sā kaniṭṭhikā, bhāgaḍḍhabhāgena sukhī pamodati.
And that woman who is carried behind in a palanquin, a lady wise and with eyes like a doe—she was our youngest daughter. Because she gave half of her share, she is happy and rejoices.
“Và người phụ nữ đi phía sau, được khiêng trên kiệu, là người có trí tuệ, mắt như mắt nai; cô ấy là con gái út của chúng tôi. Do bố thí một nửa phần của mình, nó được an lạc và hoan hỷ.
78.
78.
78.
‘‘Ete ca dānāni adaṃsu pubbe, pasannacittā samaṇabrāhmaṇānaṃ;
Mayaṃ pana maccharino ahumha, paribhāsakā samaṇabrāhmaṇānaṃ;
Ete ca datvā paricārayanti, mayañca sussāma naḷova chinno’’ti †.
They gave gifts in the past with confident hearts to ascetics and brahmins. We, however, were stingy and were revilers of ascetics and brahmins. Having given, they are now attended to, while we wither away like a cut reed.
“Trước kia, những người này đã với tâm hoan hỷ cúng dường cho các Sa-môn, Bà-la-môn; còn chúng tôi thì keo kiệt, là những người mắng nhiếc các Sa-môn, Bà-la-môn. Họ, do đã bố thí, nên được hưởng thụ; còn chúng tôi thì khô héo như cây sậy bị cắt.”
79.
79.
79.
‘‘Kiṃ tumhākaṃ bhojanaṃ kiṃ sayānaṃ, kathañca yāpetha supāpadhammino;
Pahūtabhogesu anappakesu, sukhaṃ virādhāya † dukkhajja pattā’’ti.
What is your food? What is your resting place? How do you subsist, you of very evil deeds? Though you had abundant and plentiful wealth, having failed to secure happiness, you have now attained suffering.
“Thức ăn của các người là gì, chỗ ngủ là gì? Hỡi những người có ác pháp, các người sống như thế nào? Dù có nhiều của cải, các người đã làm mất đi hạnh phúc, nay phải chịu đau khổ.”
80.
80.
80.
‘‘Aññamaññaṃ vadhitvāna, pivāma pubbalohitaṃ;
Bahuṃ pitvā na dhātā homa, nacchādimhase † mayaṃ.
Having struck one another, we drink the pus and blood. Though we drink much, we are not satisfied; we do not drink this by our own will.
“Chúng tôi đánh đập lẫn nhau, rồi uống mủ và máu; dù uống nhiều, chúng tôi cũng không no đủ, chúng tôi không hề mong muốn.
81.
81.
81.
‘‘Icceva maccā paridevayanti, adāyakā pecca † yamassa ṭhāyino;
Ye te vidicca † adhigamma bhoge, na bhuñjare nāpi karonti puññaṃ.
Even so do mortals lament—those who were not givers, who after death stand in the realm of Yama. Those who, having acquired wealth, neither enjoy it themselves nor perform meritorious deeds.
“Cũng vậy, những chúng sinh không bố thí, sau khi chết, ở trong cõi của Yama, họ than khóc; những người ấy, khi có được của cải, đã không tự mình hưởng thụ, cũng không làm phước.
82.
82.
82.
‘‘Te khuppipāsūpagatā parattha, pacchā † ciraṃ jhāyare ḍayhamānā;
Kammāni katvāna dukhudrāni, anubhonti dukkhaṃ kaṭukapphalāni.
Afflicted by hunger and thirst in the next world, they are consumed by sorrow for a long time, burning. Having done deeds that result in suffering, they experience that suffering, their bitter fruit.
“Những người ấy, ở đời sau, bị đói khát hành hạ, sau đó bị thiêu đốt trong sầu muộn lâu dài; do đã làm những nghiệp mang lại đau khổ, họ phải chịu đựng đau khổ, là quả đắng cay.
83.
83.
83.
‘‘Ittaraṃ hi dhanaṃ dhaññaṃ, ittaraṃ idha jīvitaṃ;
Ittaraṃ ittarato ñatvā, dīpaṃ kayirātha paṇḍito.
Brief indeed are wealth and grain; brief is life here. Knowing the brief as brief, a wise person should make a refuge for himself.
“Thật vậy, của cải tài sản là ngắn ngủi, mạng sống ở đời này là ngắn ngủi; người trí, biết rõ sự ngắn ngủi của cái ngắn ngủi, nên tạo ra hòn đảo (nương tựa).
84.
84.
84.
‘‘Ye te evaṃ pajānanti, narā dhammassa kovidā;
Te dāne nappamajjanti, sutvā arahataṃ vaco’’ti.
Those people who are skilled in the Dhamma and understand this, having heard the word of the Arahants, are not heedless in giving.
“Những người nào thông thạo Chánh pháp, biết rõ như vậy; họ, sau khi nghe lời dạy của các bậc A-la-hán, không xao lãng việc bố thí.”
Nāgapetavatthu ekādasamaṃ.
The Eleventh Story: The Nāga Peta.
Câu chuyện về ngạ quỷ Nāga, phẩm thứ mười một.