Bản dịch
PS 3.9 — Giảng về Minh Sát
3.9. Vipassanākathā
Tôi đã được nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại tu viện của ông Anāthapiṇḍika, trong khu rừng (của thái tử) Jeta, ở thành Sāvatthī. Chính ở tại nơi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các vị tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu.” “Thưa ngài,” các vị tỳ khưu ấy đã đáp lại đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
- Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét bất cứ hành nào là thường, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này không được biết đến. Không có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này không được biết đến. Không đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này không được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét tất cả các hành là vô thường, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này được biết đến. Có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này được biết đến. Đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét bất cứ hành nào là lạc, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này không được biết đến. Không có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này không được biết đến. Không đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này không được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét tất cả các hành là khổ não, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này được biết đến. Có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này được biết đến. Đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét bất cứ pháp nào là ngã, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này không được biết đến. Không có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này không được biết đến. Không đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này không được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét tất cả các pháp là vô ngã, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này được biết đến. Có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này được biết đến. Đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét Niết Bàn là khổ não, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này không được biết đến. Không có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này không được biết đến. Không đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này không được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét Niết Bàn là lạc, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này được biết đến. Có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này được biết đến. Đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này được biết đến.
(Vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp với bao nhiêu biểu hiện? đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn với bao nhiêu biểu hiện?
(Vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp với bốn mươi biểu hiện, đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn với bốn mươi biểu hiện.
(Vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp với bốn mươi biểu hiện gì? đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn với bốn mươi biểu hiện gì?
(Vị ấy nhận thấy) năm uẩn là vô thường, là khổ não, là ốm đau, là mụt nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là tật bệnh, là xa lạ, là tiêu hoại, là tai ương, là tai họa, là kinh hãi, là sự đe dọa, là lay chuyển, là mỏng manh, là không bền vững, là không sự bảo vệ, là không phải chỗ ngụ, là không sự nương tựa, là trống rỗng, là hão huyền, là không, là vô ngã, là tai hại, là pháp chuyển biến, là không có thực chất, là cội nguồn của bất hạnh, là kẻ hành quyết, là không hiện hữu, là có lậu hoặc, là tạo tác, là vật chất của Ma Vương, là pháp sanh ra, là pháp già, là pháp bệnh, là pháp tử, là pháp sầu muộn, là pháp than vãn, là pháp thất vọng, là pháp phiền não.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là vô thường, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là thường hằng, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là khổ não, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là lạc, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là ốm đau, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận 5 uẩn là vô bệnh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là mụt nhọt, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không mụn nhọt, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là mũi tên, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không phải mũi tên, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là bất hạnh, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không bất hạnh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là tật bệnh, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không tật bệnh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là xa lạ, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn không phải là duyên của người khác, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là tiêu hoại, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là pháp không tiêu hoại, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là tai ương, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không tai ương, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là tai họa, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không tai họa, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là kinh hãi, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không kinh hãi, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là sự đe dọa, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là sự không đe dọa, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là lay chuyển, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không lay chuyển, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là mỏng manh, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không mỏng manh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không bền vững, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là bền vững, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không sự bảo vệ, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là sự bảo vệ, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không phải chỗ ngụ, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là chỗ ngụ, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không sự nương tựa, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là sự nương tựa, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là trống rỗng, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không trống rỗng, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là hão huyền, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không hão huyền, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là tối thượng về không, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là vô ngã, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là chân lý tuyệt đối, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là tai hại, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không tai hại, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp chuyển biến, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là pháp không chuyển biến, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không có thực chất, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là có thực chất, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là cội nguồn của bất hạnh, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không phải cội nguồn của bất hạnh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là kẻ hành quyết, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không phải kẻ hành quyết, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không hiện hữu, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không phải phi hữu, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là có lậu hoặc, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không có lậu hoặc, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là tạo tác, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không tạo tác, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là vật chất của Ma Vương, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không vật chất, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp sanh ra, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là vô sanh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp già, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không già, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp bệnh, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không bệnh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp tử, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là bất tử, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp sầu muộn, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không sầu muộn, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp than vãn, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không than vãn, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp thất vọng, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không thất vọng, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp phiền não, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không phiền não, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
‘Là vô thường,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là khổ não,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là ốm đau,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là mụt nhọt,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là mũi tên,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là bất hạnh,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là tật bệnh,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là sự xa lạ,’ như thế là sự quán xét về vô ngã.
‘Là tiêu hoại,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là tai ương,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là tai họa,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là kinh hãi,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là sự đe dọa,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là lay chuyển,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là mỏng manh,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là không bền vững,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là không sự bảo vệ,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là không phải chỗ ngụ,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là không sự nương tựa,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là trống rỗng,’ như thế là sự quán xét về vô ngã.
‘Là hão huyền,’ như thế là sự quán xét về vô ngã.
‘Là không,’ như thế là sự quán xét về vô ngã.
‘Là vô ngã,’ như thế là sự quán xét về vô ngã.
‘Là tai hại,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp chuyển biến,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là không có thực chất,’ như thế là sự quán xét về vô ngã.
‘Là cội nguồn bất hạnh,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là kẻ hành quyết,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là không hiện hữu,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là có lậu hoặc,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là tạo tác,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là vật chất Ma Vương,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là sanh ra,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp già,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp bệnh,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp tử,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là pháp sầu muộn,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp than vãn,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp thất vọng,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp phiền não,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
(Vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp với bốn mươi biểu hiện này, đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn với bốn mươi biểu hiện này.
Đối với vị thành đạt sự nhẫn nại phù hợp với bốn mươi biểu hiện này, đối với vị đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn với bốn mươi biểu hiện này, có bao nhiêu sự quán xét về vô thường? có bao nhiêu sự quán xét về khổ não? có bao nhiêu sự quán xét về vô ngã?
Hai lăm quán xét về vô ngã, năm mươi quán xét về vô thường, và có đến một trăm hai lăm nói về các khổ não.
Phần Giảng về Minh Sát được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘So vata, bhikkhave, bhikkhu sabbasaṅkhāre aniccato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti – ṭhānametaṃ vijjati; anulomikāya khantiyā samannāgato sammattaniyāmaṃ okkamissatīti – ṭhānametaṃ vijjati, sammattaniyāmaṃ okkamamāno sotāpattiphalaṃ vā sakadāgāmiphalaṃ vā anāgāmiphalaṃ vā arahattaṃ vā sacchikarissatīti – ṭhānametaṃ vijjati.
Bhikkhus, it is possible that a bhikkhu who contemplates all formations as impermanent will be endowed with the acceptance of conformity—that is possible. That, being endowed with the acceptance of conformity, he will enter the definiteness in rightness—that is possible. That, having entered the definiteness in rightness, he will realize the fruit of stream-entry, the fruit of once-returning, the fruit of non-returning, or arahantship—that is possible.
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy chắc chắn sẽ thành tựu sự kham nhẫn thuận thứ trong khi thường xuyên quán xét tất cả các pháp hữu vi là vô thường – trường hợp này có xảy ra; sau khi đã thành tựu sự kham nhẫn thuận thứ, vị ấy sẽ đi vào trạng thái chánh định – trường hợp này có xảy ra; sau khi đã đi vào trạng thái chánh định, vị ấy sẽ chứng ngộ quả Dự Lưu, hoặc quả Nhất Lai, hoặc quả Bất Lai, hoặc quả A-la-hán – trường hợp này có xảy ra.
‘‘So vata, bhikkhave, bhikkhu kañci saṅkhāraṃ sukhato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti – netaṃ ṭhānaṃ vijjati; anulomikāya khantiyā asamannāgato sammattaniyāmaṃ okkamissatīti – netaṃ ṭhānaṃ vijjati; sammattaniyāmaṃ anokkamamāno sotāpattiphalaṃ vā sakadāgāmiphalaṃ vā anāgāmiphalaṃ vā arahattaṃ vā sacchikarissatīti – netaṃ ṭhānaṃ vijjati.
Bhikkhus, it is impossible that a bhikkhu who regards any formation as pleasant will be endowed with the acceptance of conformity—that is impossible. That, not being endowed with the acceptance of conformity, he will enter the definiteness in rightness—that is impossible. That, not having entered the definiteness in rightness, he will realize the fruit of stream-entry, the fruit of once-returning, the fruit of non-returning, or arahantship—that is impossible.
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy chắc chắn sẽ thành tựu sự kham nhẫn thuận thứ trong khi thường xuyên quán xét bất cứ pháp hữu vi nào là lạc – trường hợp này không xảy ra; sau khi đã không thành tựu sự kham nhẫn thuận thứ, vị ấy sẽ đi vào trạng thái chánh định – trường hợp này không xảy ra; sau khi đã không đi vào trạng thái chánh định, vị ấy sẽ chứng ngộ quả Dự Lưu, hoặc quả Nhất Lai, hoặc quả Bất Lai, hoặc quả A-la-hán – trường hợp này không xảy ra.
‘‘So vata, bhikkhave, bhikkhu sabbasaṅkhāre dukkhato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti – ṭhānametaṃ vijjati; anulomikāya khantiyā samannāgato sammattaniyāmaṃ okkamissatīti – ṭhānametaṃ vijjati; sammattaniyāmaṃ okkamamāno sotāpattiphalaṃ vā sakadāgāmiphalaṃ vā anāgāmiphalaṃ vā arahattaṃ vā sacchikarissatīti – ṭhānametaṃ vijjati.
Bhikkhus, it is possible that a bhikkhu who contemplates all formations as suffering will be endowed with the acceptance of conformity—that is possible. That, being endowed with the acceptance of conformity, he will enter the definiteness in rightness—that is possible. That, having entered the definiteness in rightness, he will realize the fruit of stream-entry, the fruit of once-returning, the fruit of non-returning, or arahantship—that is possible.
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy chắc chắn sẽ thành tựu sự kham nhẫn thuận thứ trong khi thường xuyên quán xét tất cả các pháp hữu vi là khổ – trường hợp này có xảy ra; sau khi đã thành tựu sự kham nhẫn thuận thứ, vị ấy sẽ đi vào trạng thái chánh định – trường hợp này có xảy ra; sau khi đã đi vào trạng thái chánh định, vị ấy sẽ chứng ngộ quả Dự Lưu, hoặc quả Nhất Lai, hoặc quả Bất Lai, hoặc quả A-la-hán – trường hợp này có xảy ra.
‘‘So vata, bhikkhave, bhikkhu kañci dhammaṃ attato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti – netaṃ ṭhānaṃ vijjati; anulomikāya khantiyā asamannāgato sammattaniyāmaṃ okkamissatīti – netaṃ ṭhānaṃ vijjati; sammattaniyāmaṃ anokkamamāno sotāpattiphalaṃ vā sakadāgāmiphalaṃ vā anāgāmiphalaṃ vā arahattaṃ vā sacchikarissatīti – netaṃ ṭhānaṃ vijjati.
Bhikkhus, that a monk who contemplates any phenomenon as self will be endowed with conforming acceptance—this is impossible. That, not being endowed with conforming acceptance, he will enter the fixed course of rightness—this is impossible. That, not having entered the fixed course of rightness, he will realize the fruit of stream-entry, or the fruit of once-returning, or the fruit of non-returning, or Arahantship—this is impossible.
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy chắc chắn sẽ thành tựu sự kham nhẫn thuận thứ trong khi thường xuyên quán xét bất cứ pháp nào là tự ngã – trường hợp này không xảy ra; sau khi đã không thành tựu sự kham nhẫn thuận thứ, vị ấy sẽ đi vào trạng thái chánh định – trường hợp này không xảy ra; sau khi đã không đi vào trạng thái chánh định, vị ấy sẽ chứng ngộ quả Dự Lưu, hoặc quả Nhất Lai, hoặc quả Bất Lai, hoặc quả A-la-hán – trường hợp này không xảy ra.
‘‘So vata, bhikkhave, bhikkhu sabbadhamme † anattato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti – ṭhānametaṃ vijjati; anulomikāya khantiyā samannāgato sammattaniyāmaṃ okkamissatīti – ṭhānametaṃ vijjati; sammattaniyāmaṃ okkamamāno sotāpattiphalaṃ vā sakadāgāmiphalaṃ vā anāgāmiphalaṃ vā arahattaṃ vā sacchikarissatīti – ṭhānametaṃ vijjati.
Bhikkhus, that a monk who contemplates all phenomena as not-self will be endowed with conforming acceptance—this is possible. That, being endowed with conforming acceptance, he will enter the fixed course of rightness—this is possible. That, having entered the fixed course of rightness, he will realize the fruit of stream-entry, or the fruit of once-returning, or the fruit of non-returning, or Arahantship—this is possible.
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy chắc chắn sẽ thành tựu sự kham nhẫn thuận thứ trong khi thường xuyên quán xét tất cả các pháp là vô ngã – trường hợp này có xảy ra; sau khi đã thành tựu sự kham nhẫn thuận thứ, vị ấy sẽ đi vào trạng thái chánh định – trường hợp này có xảy ra; sau khi đã đi vào trạng thái chánh định, vị ấy sẽ chứng ngộ quả Dự Lưu, hoặc quả Nhất Lai, hoặc quả Bất Lai, hoặc quả A-la-hán – trường hợp này có xảy ra.
‘‘So vata, bhikkhave, bhikkhu nibbānaṃ dukkhato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti – netaṃ ṭhānaṃ vijjati; anulomikāya khantiyā asamannāgato sammattaniyāmaṃ okkamissatīti – netaṃ ṭhānaṃ vijjati; sammattaniyāmaṃ anokkamamāno sotāpattiphalaṃ vā sakadāgāmiphalaṃ vā anāgāmiphalaṃ vā arahattaṃ vā sacchikarissatīti – netaṃ ṭhānaṃ vijjati.
Bhikkhus, that a monk who contemplates Nibbāna as suffering will be endowed with conforming acceptance—this is impossible. That, not being endowed with conforming acceptance, he will enter the fixed course of rightness—this is impossible. That, not having entered the fixed course of rightness, he will realize the fruit of stream-entry, or the fruit of once-returning, or the fruit of non-returning, or Arahantship—this is impossible.
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy chắc chắn sẽ thành tựu sự kham nhẫn thuận thứ trong khi thường xuyên quán xét Niết Bàn là khổ – trường hợp này không xảy ra; sau khi đã không thành tựu sự kham nhẫn thuận thứ, vị ấy sẽ đi vào trạng thái chánh định – trường hợp này không xảy ra; sau khi đã không đi vào trạng thái chánh định, vị ấy sẽ chứng ngộ quả Dự Lưu, hoặc quả Nhất Lai, hoặc quả Bất Lai, hoặc quả A-la-hán – trường hợp này không xảy ra.
‘‘So vata, bhikkhave, bhikkhu nibbānaṃ sukhato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti – ṭhānametaṃ vijjati; anulomikāya khantiyā samannāgato sammattaniyāmaṃ okkamissatīti – ṭhānametaṃ vijjati; sammattaniyāmaṃ okkamamāno sotāpattiphalaṃ vā sakadāgāmiphalaṃ vā anāgāmiphalaṃ vā arahattaṃ vā sacchikarissatīti – ṭhānametaṃ vijjati’’.
Bhikkhus, that a monk who contemplates Nibbāna as happiness will be endowed with conforming acceptance—this is possible. That, being endowed with conforming acceptance, he will enter the fixed course of rightness—this is possible. That, having entered the fixed course of rightness, he will realize the fruit of stream-entry, or the fruit of once-returning, or the fruit of non-returning, or Arahantship—this is possible.
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy chắc chắn sẽ thành tựu sự kham nhẫn thuận thứ trong khi thường xuyên quán xét Niết Bàn là lạc – trường hợp này có xảy ra; sau khi đã thành tựu sự kham nhẫn thuận thứ, vị ấy sẽ đi vào trạng thái chánh định – trường hợp này có xảy ra; sau khi đã đi vào trạng thái chánh định, vị ấy sẽ chứng ngộ quả Dự Lưu, hoặc quả Nhất Lai, hoặc quả Bất Lai, hoặc quả A-la-hán – trường hợp này có xảy ra.”
37. Katihākārehi anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati, katihākārehi sammattaniyāmaṃ okkamati? Cattārīsāya ākārehi anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati, cattārīsāya ākārehi sammattaniyāmaṃ okkamati.
37. By how many aspects does one obtain conforming acceptance? By how many aspects does one enter the fixed course of rightness? One obtains conforming acceptance by forty aspects. One enters the fixed course of rightness by forty aspects.
37. Do bao nhiêu phương diện mà thành tựu được sự kham nhẫn thuận thứ, do bao nhiêu phương diện mà đi vào được trạng thái chánh định? Do bốn mươi phương diện mà thành tựu được sự kham nhẫn thuận thứ, do bốn mươi phương diện mà đi vào được trạng thái chánh định.
Katamehi cattārīsāya ākārehi anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati, katamahi cattārīsāya ākārehi sammattaniyāmaṃ okkamati? Pañcakkhandhe aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato ītito upaddavato bhayato upasaggato calato pabhaṅguto † addhuvato atāṇato † aleṇato asaraṇato rittato tucchato suññato anattato ādīnavato vipariṇāmadhammato asārakato aghamūlato vadhakato vibhavato sāsavato saṅkhatato mārāmisato jātidhammato jarādhammato byādhidhammato maraṇadhammato sokadhammato paridevadhammato upāyāsadhammato saṃkilesikadhammato.
By what forty aspects does one obtain conforming acceptance, and by what forty aspects does one enter the fixed course of rightness? The five aggregates as impermanent, as suffering, as disease, as a boil, as a dart, as misery, as affliction, as alien, as perishable, as a calamity, as a disaster, as fear, as a menace, as unsteady, as breaking up, as unstable, as without protection, as without shelter, as without refuge, as empty, as vain, as void, as not-self, as a danger, as subject to change, as essenceless, as the root of misery, as a slayer, as subject to destruction, as with taints, as conditioned, as Māra’s prey, as subject to birth, as subject to aging, as subject to illness, as subject to death, as subject to sorrow, as subject to lamentation, as subject to despair, as subject to defilement.
Do bốn mươi phương diện nào mà thành tựu được sự kham nhẫn thuận thứ, do bốn mươi phương diện nào mà đi vào được trạng thái chánh định? (Vị ấy quán xét) năm uẩn là vô thường, là khổ, là bệnh, là nhọt, là mũi tên, là đau khổ, là hoạn nạn, là cái khác, là tan hoại, là tai ương, là hiểm họa, là sự đáng sợ, là phiền não, là dao động, là mong manh, là không bền, là không che chở, là không ẩn náu, là không nương tựa, là trống rỗng, là rỗng không, là không, là vô ngã, là sự nguy hiểm, là có tính biến hoại, là không lõi cứng, là gốc rễ của đau khổ, là kẻ sát nhân, là sự hoại diệt, là có lậu hoặc, là bị tác thành, là mồi của ma, là có tính sanh, là có tính già, là có tính bệnh, là có tính chết, là có tính sầu, là có tính bi, là có tính não, là có tính ô nhiễm.
38. Pañcakkhandhe aniccato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho niccaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe dukkhato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho sukhaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe rogato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho ārogyaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe gaṇḍato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho agaṇḍaṃ † nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe sallato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho visallaṃ † nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati.
38. One who sees the five aggregates as impermanent obtains conforming acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as permanent—Nibbāna—enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as suffering obtains conforming acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as bliss—Nibbāna—enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as disease obtains conforming acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as health—Nibbāna—enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as a boil obtains conforming acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as freedom from boils—Nibbāna—enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as a dart obtains conforming acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as freedom from darts—Nibbāna—enters the fixed course of rightness.
38. Trong khi thấy năm uẩn là vô thường, vị ấy thành tựu sự kham nhẫn thuận thứ. Trong khi thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn thường hằng,’ vị ấy đi vào trạng thái chánh định. Trong khi thấy năm uẩn là khổ, vị ấy thành tựu sự kham nhẫn thuận thứ. Trong khi thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn an lạc,’ vị ấy đi vào trạng thái chánh định. Trong khi thấy năm uẩn là bệnh, vị ấy thành tựu sự kham nhẫn thuận thứ. Trong khi thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn không bệnh,’ vị ấy đi vào trạng thái chánh định. Trong khi thấy năm uẩn là nhọt, vị ấy thành tựu sự kham nhẫn thuận thứ. Trong khi thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn không nhọt,’ vị ấy đi vào trạng thái chánh định. Trong khi thấy năm uẩn là mũi tên, vị ấy thành tựu sự kham nhẫn thuận thứ. Trong khi thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn không mũi tên,’ vị ấy đi vào trạng thái chánh định.
Pañcakkhandhe aghato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho anagho nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe ābādhato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho anābādho nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe parato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho aparappaccayaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe palokato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho apalokadhammo nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe ītito passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho anītikaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati.
One who sees the five aggregates as suffering gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as suffering-free Nibbāna enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as an affliction gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as affliction-free Nibbāna enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as alien gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as independent Nibbāna enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as disintegrating gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as imperishable Nibbāna enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as a plague gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as plague-free Nibbāna enters the fixed course of rightness.
Vị ấy thấy năm uẩn là đau khổ, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn không đau khổ,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là bệnh hoạn, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn không bệnh hoạn,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là cái khác, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn không do duyên khác,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là hoại diệt, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn có pháp không hoại diệt,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là tai ương, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn không tai ương,’ liền đi vào định pháp chánh tà.
Pañcakkhandhe upaddavato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho anupaddavaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe bhayato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho abhayaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe upasaggato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho anupasaggaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe calato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho acalaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe pabhaṅguto passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho apabhaṅgu † nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati.
One who sees the five aggregates as a calamity gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as calamity-free Nibbāna enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as terror gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as terror-free Nibbāna enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as a menace gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as menace-free Nibbāna enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as fickle gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as unmoving Nibbāna enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as perishable gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as imperishable Nibbāna enters the fixed course of rightness.
Vị ấy thấy năm uẩn là tai họa, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn không tai họa,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là đáng sợ, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn không đáng sợ,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là phiền não, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn không phiền não,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là dao động, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn không dao động,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là mong manh, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn không mong manh,’ liền đi vào định pháp chánh tà.
Pañcakkhandhe addhuvato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho dhuvaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe atāṇato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho tāṇaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe aleṇato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho leṇaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe asaraṇato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho saraṇaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe rittato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho arittaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati.
One who sees the five aggregates as impermanent gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as permanent Nibbāna, enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as without protection gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as protection, Nibbāna, enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as without shelter gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as shelter, Nibbāna, enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as without refuge gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as refuge, Nibbāna, enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as empty gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as not-empty Nibbāna, enters the fixed course of rightness.
Vị ấy thấy năm uẩn là không thường còn, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn thường còn,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là không nơi bảo hộ, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn là nơi bảo hộ,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là không nơi ẩn náu, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn là nơi ẩn náu,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là không nơi nương tựa, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn là nơi nương tựa,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là trống rỗng, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn không trống rỗng,’ liền đi vào định pháp chánh tà.
Pañcakkhandhe tucchato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho atucchaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe suññato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho paramasuññaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe anattato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho paramatthaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe ādīnavato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho anādīnavaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe vipariṇāmadhammato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho avipariṇāmadhammaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati.
One who sees the five aggregates as vain gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as not vain Nibbāna, enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as void gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as supreme emptiness, Nibbāna, enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as not-self gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as the highest good, Nibbāna, enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as a danger gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as danger-free Nibbāna, enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as subject to change gains conformity-acceptance. One who sees the cessation of the five aggregates as not subject to change, Nibbāna, enters the fixed course of rightness.
Vị ấy thấy năm uẩn là hư ảo, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn không hư ảo,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là tánh không, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn là tánh không tối thượng,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là vô ngã, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn là chân nghĩa,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là sự nguy hại, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn không có sự nguy hại,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là pháp biến hoại, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn là pháp không biến hoại,’ liền đi vào định pháp chánh tà.
Pañcakkhandhe asārakato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho sāraṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe aghamūlato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho anaghamūlaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe vadhakato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho avadhakaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe vibhavato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho avibhavaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe sāsavato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho anāsavaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati.
One who sees the five aggregates as without substance gains conformity-acceptance. One who sees that the cessation of the five aggregates, Nibbāna, is substance enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as the root of woe gains conformity-acceptance. One who sees that the cessation of the five aggregates, Nibbāna, is not the root of woe enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as a slayer gains conformity-acceptance. One who sees that the cessation of the five aggregates, Nibbāna, is not a slayer enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as manifold gains conformity-acceptance. One who sees that the cessation of the five aggregates, Nibbāna, is not manifold enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as with taints gains conformity-acceptance. One who sees that the cessation of the five aggregates, Nibbāna, is without taints enters the fixed course of rightness.
Vị ấy thấy năm uẩn là không có cốt lõi, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn là cốt lõi,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là cội nguồn của đau khổ, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn không phải là cội nguồn của đau khổ,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là kẻ sát nhân, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn không phải là kẻ sát nhân,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là sự hoại diệt, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn không có sự hoại diệt,’ liền đi vào định pháp chánh tà. Vị ấy thấy năm uẩn là có lậu hoặc, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự đoạn diệt của năm uẩn là Niết Bàn không có lậu hoặc,’ liền đi vào định pháp chánh tà.
Pañcakkhandhe saṅkhatato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho asaṅkhataṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe mārāmisato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho nirāmisaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe jātidhammato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho ajātaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe jarādhammato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho ajaraṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe byādhidhammato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho abyādhi † nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati.
One who sees the five aggregates as conditioned gains conformity-acceptance. One who sees 'the cessation of the five aggregates is the unconditioned, Nibbāna,' enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as Māra’s bait gains conformity-acceptance. One who sees 'the cessation of the five aggregates is baitless, Nibbāna,' enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as subject to birth gains conformity-acceptance. One who sees 'the cessation of the five aggregates is the unborn, Nibbāna,' enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as subject to aging gains conformity-acceptance. One who sees 'the cessation of the five aggregates is the ageless, Nibbāna,' enters the fixed course of rightness. One who sees the five aggregates as subject to sickness gains conformity-acceptance. One who sees 'the cessation of the five aggregates is without sickness, Nibbāna,' enters the fixed course of rightness.
Vị ấy thấy năm uẩn là pháp hữu vi, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự diệt của năm uẩn là Niết-bàn vô vi,’ rồi đi vào chánh tánh quyết định. Vị ấy thấy năm uẩn là mồi của ma, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự diệt của năm uẩn là Niết-bàn không phải là mồi,’ rồi đi vào chánh tánh quyết định. Vị ấy thấy năm uẩn có pháp sanh, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự diệt của năm uẩn là Niết-bàn không sanh,’ rồi đi vào chánh tánh quyết định. Vị ấy thấy năm uẩn có pháp già, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự diệt của năm uẩn là Niết-bàn không già,’ rồi đi vào chánh tánh quyết định. Vị ấy thấy năm uẩn có pháp bệnh, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự diệt của năm uẩn là Niết-bàn không bệnh,’ rồi đi vào chánh tánh quyết định.
Pañcakkhandhe maraṇadhammato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho amataṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe sokadhammato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho asokaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe paridevadhammato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho aparidevaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe upāyāsadhammato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho anupāyāsaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati. Pañcakkhandhe saṃkilesikadhammato passanto anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Pañcannaṃ khandhānaṃ nirodho asaṃkiliṭṭhaṃ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṃ okkamati.
A person, seeing the five aggregates as subject to death, obtains conformable acceptance. Seeing that 'the cessation of the five aggregates is the deathless Nibbāna,' one enters the fixed course of righteousness. A person, seeing the five aggregates as subject to sorrow, obtains conformable acceptance. Seeing that 'the cessation of the five aggregates is the sorrowless Nibbāna,' one enters the fixed course of righteousness. A person, seeing the five aggregates as subject to lamentation, obtains conformable acceptance. Seeing that 'the cessation of the five aggregates is the Nibbāna free from lamentation,' one enters the fixed course of righteousness. A person, seeing the five aggregates as subject to despair, obtains conformable acceptance. Seeing that 'the cessation of the five aggregates is the Nibbāna free from despair,' one enters the fixed course of righteousness. A person, seeing the five aggregates as subject to defilement, obtains conformable acceptance. Seeing that 'the cessation of the five aggregates is the undefiled Nibbāna,' one enters the fixed course of righteousness.
Vị ấy thấy năm uẩn có pháp chết, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự diệt của năm uẩn là Niết-bàn bất tử,’ rồi đi vào chánh tánh quyết định. Vị ấy thấy năm uẩn có pháp sầu, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự diệt của năm uẩn là Niết-bàn vô sầu,’ rồi đi vào chánh tánh quyết định. Vị ấy thấy năm uẩn có pháp bi, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự diệt của năm uẩn là Niết-bàn vô bi,’ rồi đi vào chánh tánh quyết định. Vị ấy thấy năm uẩn có pháp não, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự diệt của năm uẩn là Niết-bàn vô não,’ rồi đi vào chánh tánh quyết định. Vị ấy thấy năm uẩn có pháp ô nhiễm, đạt được sự kham nhẫn thuận thứ. Vị ấy thấy rằng: ‘Sự diệt của năm uẩn là Niết-bàn không ô nhiễm,’ rồi đi vào chánh tánh quyết định.
39. Aniccatoti, aniccānupassanā. Dukkhatoti, dukkhānupassanā. Rogatoti, dukkhānupassanā. Gaṇḍatoti, dukkhānupassanā. Sallatoti, dukkhānupassanā. Aghatoti, dukkhānupassanā. Ābādhatoti, dukkhānupassanā. Paratoti, anattānupassanā. Palokatoti, aniccānupassanā. Ītitoti, dukkhānupassanā.
39. As impermanent, it is contemplation of impermanence. As suffering, it is contemplation of suffering. As a disease, it is contemplation of suffering. As a boil, it is contemplation of suffering. As a dart, it is contemplation of suffering. As misery, it is contemplation of suffering. As an affliction, it is contemplation of suffering. As other, it is contemplation of non-self. As perishable, it is contemplation of impermanence. As a calamity, it is contemplation of suffering.
39. Thấy là vô thường, là vô thường quán. Thấy là khổ, là khổ quán. Thấy là bệnh, là khổ quán. Thấy là ung nhọt, là khổ quán. Thấy là mũi tên, là khổ quán. Thấy là sự bất hạnh, là khổ quán. Thấy là hoạn nạn, là khổ quán. Thấy là cái khác, là vô ngã quán. Thấy là hoại diệt, là vô thường quán. Thấy là tai ương, là khổ quán.
Upaddavatoti, dukkhānupassanā. Bhayatoti, dukkhānupassanā. Upasaggatoti, dukkhānupassanā. Calatoti, aniccānupassanā. Pabhaṅgutoti, aniccānupassanā. Addhuvatoti, aniccānupassanā. Atāṇatoti, dukkhānupassanā. Aleṇatoti, dukkhānupassanā. Asaraṇatoti, dukkhānupassanā. Rittatoti, anattānupassanā.
As a calamity, it is contemplation of suffering. As a terror, it is contemplation of suffering. As an affliction, it is contemplation of suffering. As trembling, it is contemplation of impermanence. As fragile, it is contemplation of impermanence. As unstable, it is contemplation of impermanence. As offering no protection, it is contemplation of suffering. As offering no shelter, it is contemplation of suffering. As offering no refuge, it is contemplation of suffering. As empty, it is contemplation of non-self.
Thấy là tai họa, là khổ quán. Thấy là đáng sợ, là khổ quán. Thấy là nguy hiểm, là khổ quán. Thấy là dao động, là vô thường quán. Thấy là mong manh, là vô thường quán. Thấy là không bền vững, là vô thường quán. Thấy là không che chở, là khổ quán. Thấy là không ẩn náu, là khổ quán. Thấy là không nương tựa, là khổ quán. Thấy là trống rỗng, là vô ngã quán.
Tucchatoti, anattānupassanā. Suññatoti, anattānupassanā. Anattatoti, anattānupassanā. Ādīnavatoti, dukkhānupassanā. Vipariṇāmadhammatoti, aniccānupassanā. Asārakatoti, anattānupassanā. Aghamūlatoti, dukkhānupassanā. Vadhakatoti, dukkhānupassanā. Vibhavatoti, aniccānupassanā. Sāsavatoti, dukkhānupassanā.
As hollow, it is contemplation of not-self. As void, it is contemplation of not-self. As not-self, it is contemplation of not-self. As a drawback, it is contemplation of suffering. As subject to change, it is contemplation of impermanence. As without core, it is contemplation of not-self. As the root of misery, it is contemplation of suffering. As a slayer, it is contemplation of suffering. As subject to destruction, it is contemplation of impermanence. As with effluents, it is contemplation of suffering.
Thấy là rỗng không, là vô ngã quán. Thấy là không, là vô ngã quán. Thấy là vô ngã, là vô ngã quán. Thấy là sự nguy hại, là khổ quán. Thấy là có pháp biến hoại, là vô thường quán. Thấy là không có lõi cây, là vô ngã quán. Thấy là gốc rễ của bất hạnh, là khổ quán. Thấy là kẻ sát hại, là khổ quán. Thấy là sự biến mất, là vô thường quán. Thấy là có lậu hoặc, là khổ quán.
Saṅkhatatoti, aniccānupassanā. Mārāmisatoti, dukkhānupassanā. Jātidhammatoti, dukkhānupassanā. Jarādhammatoti, dukkhānupassanā. Byādhidhammatoti, dukkhānupassanā. Maraṇadhammatoti, aniccānupassanā. Sokadhammatoti, dukkhānupassanā. Paridevadhammatoti, dukkhānupassanā. Upāyāsadhammatoti, dukkhānupassanā. Saṃkilesikadhammatoti, dukkhānupassanā.
As conditioned, it is contemplation of impermanence. As Māra's bait, it is contemplation of suffering. As subject to birth, it is contemplation of suffering. As subject to aging, it is contemplation of suffering. As subject to illness, it is contemplation of suffering. As subject to death, it is contemplation of impermanence. As subject to sorrow, it is contemplation of suffering. As subject to lamentation, it is contemplation of suffering. As subject to despair, it is contemplation of suffering. As subject to defilement, it is contemplation of suffering.
Thấy là pháp hữu vi, là vô thường quán. Thấy là mồi của ma, là khổ quán. Thấy là có pháp sanh, là khổ quán. Thấy là có pháp già, là khổ quán. Thấy là có pháp bệnh, là khổ quán. Thấy là có pháp chết, là vô thường quán. Thấy là có pháp sầu, là khổ quán. Thấy là có pháp bi, là khổ quán. Thấy là có pháp não, là khổ quán. Thấy là có pháp ô nhiễm, là khổ quán.
Imehi cattālīsāya ākārehi anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhati. Imehi cattālīsāya ākārehi sammattaniyāmaṃ okkamati.
By these forty aspects, one gains conformable acceptance. By these forty aspects, one enters the fixed course of righteousness.
Vị ấy đạt được sự kham nhẫn thuận thứ bằng bốn mươi phương diện này. Vị ấy đi vào chánh tánh quyết định bằng bốn mươi phương diện này.
Imehi cattālīsāya ākārehi anulomikaṃ khantiṃ paṭilabhantassa, imehi cattālīsāya ākārehi sammattaniyāmaṃ okkamantassa kati aniccānupassanā, kati dukkhānupassanā, kati anattānupassanā?
For one gaining conformable acceptance by these forty aspects, for one entering the fixed course of righteousness by these forty aspects—how many are contemplations of impermanence, how many are contemplations of suffering, how many are contemplations of not-self?
Đối với người đạt được sự kham nhẫn thuận thứ bằng bốn mươi phương diện này, đối với người đi vào chánh tánh quyết định bằng bốn mươi phương diện này, có bao nhiêu vô thường quán, bao nhiêu khổ quán, bao nhiêu vô ngã quán?
Pañcavīsati anattānupassanā, paññāsa aniccānupassanā;
Sataṃ pañcavīsati ceva, yāni dukkhe pavuccareti.
Twenty-five are contemplations of not-self, fifty are contemplations of impermanence; and one hundred and twenty-five are said to be contemplations of suffering.
Có hai mươi lăm vô ngã quán, năm mươi vô thường quán; và một trăm hai mươi lăm pháp quán được gọi là khổ quán.
Vipassanākathā niṭṭhitā.
The discourse on insight is concluded.
Phần luận về minh sát đã kết thúc.
10. Mātikākathā
10. The Discourse on the Matrix
10. Phần Luận Về Đề Mục
40. Nicchāto †, mokkho vimokkho, vijjāvimutti, adhisīlaṃ, adhicittaṃ, adhipaññā, passaddhi, ñāṇaṃ, dassanaṃ visuddhi † nekkhammaṃ, nissaraṇaṃ paviveko, vossaggo, cariyā, jhānavimokkho, bhāvanā, adhiṭṭhānaṃ, jīvitaṃ.
40. Without craving, deliverance, liberation, liberation through knowledge, higher virtue, higher mind, higher wisdom, tranquility, knowledge, seeing, purity, renunciation, escape, seclusion, relinquishment, conduct, liberation through absorption, development, determination, life.
40. Sự không khao khát, sự giải thoát và sự hoàn toàn giải thoát, minh giải thoát, tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ, sự tịnh an, trí, kiến, sự thanh tịnh, sự xuất ly, sự thoát ly, sự viễn ly, sự xả ly, hạnh, thiền giải thoát, sự tu tập, sự quyết định, mạng sống.