Bản dịch
PS 3.8 — Giảng về sự Thiết Lập Niệm
3.8. Satipaṭṭhānakathā
[Duyên khởi ở Sāvatthī]
Này các tỳ khưu, đây là bốn sự thiết lập niệm. Bốn là gì? Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu trong giáo pháp này an trú có sự quán xét thân trên thân, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, có thể chế ngự tham và ưu phiền ở trên đời. …(như trên)… thọ trên các thọ …(như trên)… tâm trên tâm …(như trên)… pháp trên các pháp, có nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ rệt, có niệm, có thể chế ngự tham và ưu phiền ở trên đời. Này các tỳ khưu, đây là bốn sự thiết lập niệm.
An trú có sự quán xét thân trên thân là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có vị quán xét thân (cấu thành bởi) nguyên tố đất là vô thường, không phải là thường; quán xét là khổ não, không phải là lạc; quán xét là vô ngã, không phải là ngã; nhàm chán, không vui thích; lìa tham ái, không tham ái; làm cho diệt tận, không làm cho sanh khởi; từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi quán xét là vô thường, (vị ấy) dứt bỏ sự nghĩ tưởng về thường; trong khi quán xét là khổ não, (vị ấy) dứt bỏ sự nghĩ tưởng về lạc; trong khi quán xét là vô ngã, (vị ấy) dứt bỏ sự nghĩ tưởng về ngã; trong khi nhàm chán, (vị ấy) dứt bỏ sự vui thích; trong khi lìa tham ái, (vị ấy) dứt bỏ tham ái; trong khi làm cho diệt tận, (vị ấy) dứt bỏ nguồn sanh khởi; trong khi từ bỏ, (vị ấy) dứt bỏ sự nắm giữ. (Vị ấy) quán xét thân theo bảy biểu hiện này. Thân là sự thiết lập, không phải niệm. Niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm. Với niệm ấy, với trí ấy, (vị ấy) quán xét thân ấy. Vì thế, được gọi là: “Sự thiết lập niệm về quán xét thân trên thân.”
Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: là sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội các pháp đã được sanh lên tại nơi ấy, là sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các quyền, là sự tu tập theo ý nghĩa khởi động tinh tấn (thích hợp) nhằm đạt đến giải thoát Niết Bàn, là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.
Ở đây, có vị quán xét thân (cấu thành bởi) nguyên tố nước … thân (cấu thành bởi) nguyên tố lửa … thân (cấu thành bởi) nguyên tố gió … thân (cấu thành bởi) tóc … thân (cấu thành bởi) lông … thân (cấu thành bởi) da ngoài … thân (cấu thành bởi) da trong … thân (cấu thành bởi) thịt … thân (cấu thành bởi) máu … thân (cấu thành bởi) gân … thân (cấu thành bởi) xương … thân (cấu thành bởi) tủy xương là vô thường, không phải thường; quán xét là khổ não, không phải lạc; quán xét là vô ngã, không phải ngã; nhàm chán, không vui thích; lìa tham ái, không tham ái; làm cho diệt tận, không làm cho sanh khởi; từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi quán xét là vô thường, (vị ấy) dứt bỏ sự nghĩ tưởng về thường; trong khi quán xét là khổ não, (vị ấy) dứt bỏ sự nghĩ tưởng về lạc; trong khi quán xét là vô ngã, (vị ấy) dứt bỏ sự nghĩ tưởng về ngã; trong khi nhàm chán, (vị ấy) dứt bỏ sự
vui thích; trong khi lìa tham ái, (vị ấy) dứt bỏ tham ái; trong khi làm cho diệt tận, (vị ấy) dứt bỏ nguồn sanh khởi; trong khi từ bỏ, (vị ấy) dứt bỏ sự nắm giữ. (Vị ấy) quán xét thân theo bảy biểu hiện này. Thân là sự thiết lập, không phải niệm. Niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm. Với niệm ấy, với trí ấy, (vị ấy) quán xét thân ấy. Vì thế, được gọi là: “Sự thiết lập niệm về quán xét thân trên thân.”
Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: là sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy, là sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các quyền, là sự tu tập theo ý nghĩa khởi động tinh tấn (thích hợp) nhằm đạt đến giải thoát Niết Bàn, là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. An trú có sự quán xét thân trên thân là (có ý nghĩa) như thế.
An trú có sự quán xét thọ trên các thọ là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có vị quán xét thọ lạc là vô thường, không phải thường; …(như trên)…; từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi quán xét là vô thường, (vị ấy) dứt bỏ sự nghĩ tưởng về thường; …(như trên)…; trong khi từ bỏ, (vị ấy) dứt bỏ sự nắm giữ. (Vị ấy) quán xét thọ theo bảy biểu hiện này. Thọ là sự thiết lập, không phải niệm. Niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm. Với niệm ấy, với trí ấy, (vị ấy) quán xét thọ ấy. Vì thế, được gọi là: “Sự thiết lập niệm về quán xét thọ trên các thọ.”
Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. …(như trên)… Ở đây, có vị quán xét thọ khổ … thọ không khổ không lạc … thọ lạc có hệ lụy vật chất … thọ lạc không hệ lụy vật chất … thọ khổ có hệ lụy vật chất … thọ khổ không hệ lụy vật chất … thọ không khổ không lạc có hệ lụy vật chất … thọ không khổ không lạc không hệ lụy vật chất … thọ sanh lên do nhãn xúc … thọ sanh lên do nhĩ xúc … thọ sanh lên do tỷ xúc … thọ sanh lên do thiệt xúc … thọ sanh lên do thân xúc … thọ sanh lên do ý xúc là vô thường, không phải thường; …(như trên)…; từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi quán xét là vô thường, (vị ấy) dứt bỏ sự nghĩ tưởng về thường; …(như trên)…; trong khi từ bỏ, (vị ấy) dứt bỏ sự nắm giữ. (Vị ấy) quán xét thọ theo bảy biểu hiện này. Thọ là sự thiết lập, không phải niệm. Niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm. Với niệm ấy, với trí ấy, (vị ấy) quán xét thọ ấy. Vì thế, được gọi là: “Sự thiết lập niệm về quán xét thọ trên các thọ.”
Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… An trú có sự quán xét thọ trên các thọ là (có ý nghĩa) như thế.
An trú có sự quán xét tâm trên tâm là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có vị quán xét tâm có tham ái là vô thường, không phải thường; …(như trên)…; từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi quán xét là vô thường, (vị ấy) dứt bỏ sự nghĩ tưởng về thường; …(như trên)…; trong khi từ bỏ, (vị ấy) dứt bỏ sự nắm giữ. (Vị ấy) quán xét tâm theo bảy biểu hiện này. Tâm là sự thiết lập, không phải niệm. Niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm. Với niệm ấy, với trí ấy, (vị ấy) quán xét tâm ấy. Vì thế, được gọi là: “Sự thiết lập niệm về quán xét tâm trên tâm.”
Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. …(như trên)…
Ở đây, có vị quán xét tâm lìa khỏi tham ái … tâm có sân … tâm lìa khỏi sân … tâm có si … tâm lìa khỏi si … tâm co rút … tâm tản mạn … tâm đại hành … tâm không đại hành … tâm vượt trội … tâm không vượt trội … tâm định tĩnh … tâm không định tĩnh … tâm được giải thoát … tâm chưa được giải thoát … nhãn thức … nhĩ thức … tỷ thức … thiệt thức … thân thức … ý thức là vô thường, không phải là thường; …; từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi quán xét là vô thường, (vị ấy) dứt bỏ sự nghĩ tưởng về thường; …(như trên)…; trong khi từ bỏ, (vị ấy) dứt bỏ sự nắm giữ. (Vị ấy) quán xét tâm theo bảy biểu hiện này. Tâm là sự thiết lập, không phải niệm. Niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm. Với niệm ấy, với trí ấy, (vị ấy) quán xét tâm ấy. Vì thế, được gọi là: “Sự thiết lập niệm về quán xét tâm trên tâm.”
Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. …(như trên)… An trú có sự quán xét tâm trên tâm là (có ý nghĩa) như thế.
An trú có sự quán xét pháp trên các pháp là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có vị quán xét các pháp còn lại, ngoại trừ thân ngoại trừ thọ ngoại trừ tâm, là vô thường, không phải là thường; quán xét là khổ não, không phải là lạc; quán xét là vô ngã, không phải là ngã; nhàm chán, không vui thích; lìa tham ái, không tham ái; làm cho diệt tận, không làm cho sanh khởi; từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi quán xét là vô thường, (vị ấy) dứt bỏ sự nghĩ tưởng về thường; trong khi quán xét là khổ não, (vị ấy) dứt bỏ sự nghĩ tưởng về lạc; trong khi quán xét là vô ngã, (vị ấy) dứt bỏ sự nghĩ tưởng về ngã; trong khi nhàm chán, (vị ấy) dứt bỏ sự vui thích; trong khi lìa tham ái, (vị ấy) dứt bỏ tham ái; trong khi làm cho diệt tận, (vị ấy) dứt bỏ nguồn sanh khởi; trong khi từ bỏ, (vị ấy) dứt bỏ sự nắm giữ. (Vị ấy) quán xét các pháp ấy theo bảy biểu hiện này. Các pháp là sự thiết lập, không phải niệm. Niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm. Với niệm ấy, với trí ấy, (vị ấy) quán xét các pháp ấy. Vì thế, được gọi là: “Sự thiết lập niệm về quán xét pháp trên các pháp.”
Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: là sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy, là sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các quyền, là sự tu tập theo ý nghĩa khởi động tinh tấn (thích hợp) nhằm đạt đến giải thoát Niết Bàn, là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. An trú có sự quán xét pháp trên các pháp là (có ý nghĩa) như thế.
Phần Giảng về sự Thiết Lập Niệm được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
35. [Ka] kathaṃ kāye kāyānupassī viharati? Idhekacco pathavīkāyaṃ aniccato anupassati, no niccato; dukkhato anupassati, no sukhato; anattato anupassati, no attato; nibbindati, no nandati; virajjati, no rajjati; nirodheti, no samudeti, paṭinissajjati, no ādiyati. Aniccato anupassanto niccasaññaṃ pajahati, dukkhato anupassanto sukhasaññaṃ pajahati, anattato anupassanto attasaññaṃ pajahati, nibbindanto nandiṃ pajahati, virajjanto rāgaṃ pajahati, nirodhento samudayaṃ pajahati, paṭinissajjanto ādānaṃ pajahati. Imehi sattahi ākārehi kāyaṃ anupassati. Kāyo upaṭṭhānaṃ, no sati. Sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena taṃ kāyaṃ anupassati. Tena vuccati – ‘‘kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānā’’.
35. [Ka] How does one dwell contemplating the body as body? Here, a certain person contemplates the earth-body as impermanent, not as permanent; as suffering, not as pleasant; as non-self, not as self. He becomes disenchanted, not delighted; dispassionate, not passionate; he causes cessation, not arising; he relinquishes, not clinging. By contemplating as impermanent, he abandons the perception of permanence; by contemplating as suffering, he abandons the perception of pleasure; by contemplating as non-self, he abandons the perception of self; by becoming disenchanted, he abandons delight; by becoming dispassionate, he abandons passion; by causing cessation, he abandons arising; by relinquishing, he abandons clinging. In these seven ways he contemplates the body. The body is the object of mindfulness, not mindfulness. Mindfulness is both the object of mindfulness and mindfulness itself. With that mindfulness and that knowledge, he contemplates that body. Therefore it is called “the establishment of mindfulness through contemplation of the body as body.”
35. [A] Thế nào là vị ấy trú, quán thân trên thân? Ở đây, có người quán thân đất là vô thường, không phải là thường; quán là khổ, không phải là lạc; quán là vô ngã, không phải là ngã; nhàm chán, không hoan hỷ; ly tham, không tham ái; đoạn diệt, không tập khởi; từ bỏ, không chấp thủ. Do quán là vô thường, vị ấy từ bỏ tưởng về thường; do quán là khổ, vị ấy từ bỏ tưởng về lạc; do quán là vô ngã, vị ấy từ bỏ tưởng về ngã; do nhàm chán, vị ấy từ bỏ sự hoan hỷ; do ly tham, vị ấy từ bỏ tham ái; do đoạn diệt, vị ấy từ bỏ sự tập khởi; do từ bỏ, vị ấy từ bỏ sự chấp thủ. Vị ấy quán thân theo bảy phương diện này. Thân là đối tượng của niệm, không phải là niệm. Niệm vừa là đối tượng của niệm, vừa là niệm. Vị ấy dùng niệm ấy, dùng trí tuệ ấy để quán thân kia. Do đó, được gọi là ‘niệm xứ quán thân trên thân’.
Bhāvanāti catasso bhāvanā – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā, indriyānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā, tadupagavīriyavāhanaṭṭhena bhāvanā, āsevanaṭṭhena bhāvanā.
Development: There are four kinds of development—development in the sense of the non-overstepping of arisen phenomena, development in the sense of the faculties having a single function, development in the sense of the conveying function of effort that leads to that, and development in the sense of repeated practice.
Sự tu tập (bhāvanā) là: Có bốn loại tu tập – sự tu tập theo ý nghĩa không vượt qua nhau của các pháp đã sanh khởi ở đó, sự tu tập theo ý nghĩa có một phận sự duy nhất của các quyền, sự tu tập theo ý nghĩa mang đi tinh tấn hướng đến mục tiêu ấy, sự tu tập theo ý nghĩa thực hành lặp đi lặp lại.
Idhekacco āpokāyaṃ…pe… tejokāyaṃ… vāyokāyaṃ… kesakāyaṃ… lomakāyaṃ… chavikāyaṃ… cammakāyaṃ… maṃsakāyaṃ… rudhirakāyaṃ… nhārukāyaṃ † … aṭṭhikāyaṃ… aṭṭhimiñjakāyaṃ aniccato anupassati, no niccato; dukkhato anupassati, no sukhato; anattato anupassati, no attato; nibbindati, no nandati; virajjati, no rajjati, nirodheti, no samudeti; paṭinissajjati, no ādiyati. Aniccato anupassanto niccasaññaṃ pajahati, dukkhato anupassanto sukhasaññaṃ pajahati, anattato anupassanto attasaññaṃ pajahati, nibbindanto nandiṃ pajahati, virajjanto rāgaṃ pajahati, nirodhento samudayaṃ pajahati, paṭinissajjanto ādānaṃ pajahati. Imehi sattahi ākārehi kāyaṃ anupassati. Kāyo upaṭṭhānaṃ, no sati. Sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena taṃ kāyaṃ anupassati. Tena vuccati – ‘‘kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānā’’.
Here, a certain person contemplates the water-body... the fire-body... the air-body... the body of head-hairs... the body of body-hairs... the body of skin... the body of hide... the body of flesh... the body of blood... the body of sinews... the body of bones... the body of bone-marrow as impermanent, not as permanent; as suffering, not as pleasant; as non-self, not as self. He becomes disenchanted, he is not delighted; he becomes dispassionate, he is not passionate; he brings about cessation, he does not bring about origination; he relinquishes, he does not grasp. Contemplating as impermanent, he abandons the perception of permanence; contemplating as suffering, he abandons the perception of pleasure; contemplating as non-self, he abandons the perception of self; becoming disenchanted, he abandons delight; becoming dispassionate, he abandons passion; bringing about cessation, he abandons origination; relinquishing, he abandons grasping. He contemplates the body in these seven ways. The body is the establishment [of mindfulness], not mindfulness. Mindfulness is both the establishment [of mindfulness] and mindfulness. With that mindfulness, with that knowledge, he contemplates that body. Therefore, it is called 'the establishment of mindfulness through the contemplation of the body in the body'.
Ở đây, có người quán thân nước... vân vân... thân lửa... thân gió... thân tóc... thân lông... thân da... thân biểu bì... thân thịt... thân máu... thân gân... thân xương... thân tủy là vô thường, không phải là thường; quán là khổ, không phải là lạc; quán là vô ngã, không phải là ngã; nhàm chán, không hoan hỷ; ly tham, không tham ái; đoạn diệt, không tập khởi; từ bỏ, không chấp thủ. Do quán là vô thường, vị ấy từ bỏ tưởng về thường; do quán là khổ, vị ấy từ bỏ tưởng về lạc; do quán là vô ngã, vị ấy từ bỏ tưởng về ngã; do nhàm chán, vị ấy từ bỏ sự hoan hỷ; do ly tham, vị ấy từ bỏ tham ái; do đoạn diệt, vị ấy từ bỏ sự tập khởi; do từ bỏ, vị ấy từ bỏ sự chấp thủ. Vị ấy quán thân theo bảy phương diện này. Thân là đối tượng của niệm, không phải là niệm. Niệm vừa là đối tượng của niệm, vừa là niệm. Vị ấy dùng niệm ấy, dùng trí tuệ ấy để quán thân kia. Do đó, được gọi là ‘niệm xứ quán thân trên thân’.
Bhāvanāti catasso bhāvanā – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā, indriyānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā, tadupagavīriyavāhanaṭṭhena bhāvanā, āsevanaṭṭhena bhāvanā. Evaṃ kāye kāyānupassī viharati.
Regarding 'development' (bhāvanā), there are four kinds of development: development in the sense of not transgressing the arisen phenomena; development in the sense of the faculties having a single function; development in the sense of applying effort that leads up to that [single function]; and development in the sense of cultivation. Thus he dwells contemplating the body in the body.
Sự tu tập (bhāvanā) là: Có bốn loại tu tập – sự tu tập theo ý nghĩa không vượt qua nhau của các pháp đã sanh khởi ở đó, sự tu tập theo ý nghĩa có một phận sự duy nhất của các quyền, sự tu tập theo ý nghĩa mang đi tinh tấn hướng đến mục tiêu ấy, sự tu tập theo ý nghĩa thực hành lặp đi lặp lại. Như vậy, vị ấy trú, quán thân trên thân.
[Kha] kathaṃ vedanāsu vedanānupassī viharati? Idhekacco sukhaṃ vedanaṃ aniccato anupassati, no niccato…pe… paṭinissajjati, no ādiyati. Aniccato anupassanto niccasaññaṃ pajahati…pe… paṭinissajjanto ādānaṃ pajahati. Imehi sattahi ākārehi vedanaṃ anupassati. Vedanā upaṭṭhānaṃ, no sati. Sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena taṃ vedanaṃ anupassati. Tena vuccati – ‘‘vedanāsu vedanānupassanāsatipaṭṭhānā’’.
[Kha] How does one dwell contemplating feelings in feelings? Here, a certain person contemplates a pleasant feeling as impermanent, not as permanent... he relinquishes, he does not grasp. Contemplating as impermanent, he abandons the perception of permanence... relinquishing, he abandons grasping. He contemplates feeling in these seven ways. Feeling is the establishment [of mindfulness], not mindfulness. Mindfulness is both the establishment [of mindfulness] and mindfulness. With that mindfulness, with that knowledge, he contemplates that feeling. Therefore, it is called 'the establishment of mindfulness through the contemplation of feelings in feelings'.
[B] Thế nào là vị ấy trú, quán cảm thọ trên các cảm thọ? Ở đây, có người quán lạc thọ là vô thường, không phải là thường... vân vân... từ bỏ, không chấp thủ. Do quán là vô thường, vị ấy từ bỏ tưởng về thường... vân vân... do từ bỏ, vị ấy từ bỏ sự chấp thủ. Vị ấy quán cảm thọ theo bảy phương diện này. Cảm thọ là đối tượng của niệm, không phải là niệm. Niệm vừa là đối tượng của niệm, vừa là niệm. Vị ấy dùng niệm ấy, dùng trí tuệ ấy để quán cảm thọ kia. Do đó, được gọi là ‘niệm xứ quán cảm thọ trên các cảm thọ’.
Bhāvanāti catasso bhāvanā…pe… āsevanaṭṭhena bhāvanā…pe… idhekacco dukkhaṃ vedanaṃ…pe… adukkhamasukhaṃ vedanaṃ… sāmisaṃ sukhaṃ vedanaṃ… nirāmisaṃ sukhaṃ vedanaṃ… sāmisaṃ dukkhaṃ vedanaṃ… nirāmisaṃ dukkhaṃ vedanaṃ… sāmisaṃ adukkhamasukhaṃ vedanaṃ… nirāmisaṃ adukkhamasukhaṃ vedanaṃ… cakkhusamphassajaṃ vedanaṃ… sotasamphassajaṃ vedanaṃ… ghānasamphassajaṃ vedanaṃ… jivhāsamphassajaṃ vedanaṃ… kāyasamphassajaṃ vedanaṃ… manosamphassajaṃ vedanaṃ aniccato anupassati, no niccato…pe… paṭinissajjati, no ādiyati. Aniccato anupassanto niccasaññaṃ pajahati…pe… paṭinissajjanto ādānaṃ pajahati. Imehi sattahi ākārehi vedanaṃ anupassati. Vedanā upaṭṭhānaṃ, no sati. Sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena taṃ vedanaṃ anupassati. Tena vuccati – ‘‘vedanāsu vedanānupassanāsatipaṭṭhānā’’.
Regarding 'development' (bhāvanā), there are four kinds of development... and so on... Development (bhāvanā) is so called in the sense of repeated practice... and so on... Here, a certain person repeatedly contemplates a painful feeling... and so on... a neither-painful-nor-pleasant feeling... a worldly pleasant feeling... an unworldly pleasant feeling... a worldly painful feeling... an unworldly painful feeling... a worldly neither-painful-nor-pleasant feeling... an unworldly neither-painful-nor-pleasant feeling... a feeling born of eye-contact... a feeling born of ear-contact... a feeling born of nose-contact... a feeling born of tongue-contact... a feeling born of body-contact... a feeling born of mind-contact as impermanent, not as permanent... and so on... one relinquishes and does not grasp. By repeatedly contemplating as impermanent, one abandons the perception of permanence... and so on... By relinquishing, one abandons grasping. In these seven ways, one repeatedly contemplates feeling. Feeling is the establishment [of mindfulness], not mindfulness itself. Mindfulness is both the establishment [of mindfulness] and mindfulness itself. With that mindfulness and that knowledge, one repeatedly contemplates that feeling. Therefore, it is called 'the establishment of mindfulness by contemplating feelings in feelings'.
Bhāvanā (sự tu tập) là có bốn sự tu tập... cho đến... sự tu tập có nghĩa là thực hành lặp đi lặp lại... cho đến... Ở đây, có người quán xét khổ thọ... cho đến... bất khổ bất lạc thọ... lạc thọ hữu tài... lạc thọ vô tài... khổ thọ hữu tài... khổ thọ vô tài... bất khổ bất lạc thọ hữu tài... bất khổ bất lạc thọ vô tài... thọ sanh do nhãn xúc... thọ sanh do nhĩ xúc... thọ sanh do tỷ xúc... thọ sanh do thiệt xúc... thọ sanh do thân xúc... thọ sanh do ý xúc là vô thường, không quán xét là thường... cho đến... vị ấy từ bỏ, không chấp thủ. Do quán xét là vô thường, vị ấy đoạn trừ thường tưởng... cho đến... do từ bỏ, vị ấy đoạn trừ sự chấp thủ. Vị ấy quán xét thọ theo bảy phương diện này. Thọ là đối tượng hiện khởi, không phải là niệm. Niệm vừa là đối tượng hiện khởi, vừa là niệm. Với niệm ấy, với trí tuệ ấy, vị ấy quán xét thọ ấy. Do đó, được gọi là – ‘niệm xứ quán thọ trên các thọ’.”
Bhāvanāti catasso bhāvanā…pe… evaṃ vedanāsu vedanānupassī viharati.
Regarding 'development' (bhāvanā), there are four kinds of development... and so on... Thus, one dwells contemplating feelings in feelings.
Bhāvanā (sự tu tập) là có bốn sự tu tập... cho đến... Như vậy, vị ấy sống quán thọ trên các thọ.
[Ga] kathaṃ citte cittānupassī viharati? Idhekacco sarāgaṃ cittaṃ aniccato anupassati, no niccato…pe… paṭinissajjati, no ādiyati. Aniccato anupassanto niccasaññaṃ pajahati…pe… paṭinissajjanto ādānaṃ pajahati. Imehi sattahi ākārehi cittaṃ anupassati. Cittaṃ upaṭṭhānaṃ, no sati. Sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena taṃ cittaṃ anupassati. Tena vuccati – ‘‘citte cittānupassanāsatipaṭṭhānā’’.
[Ga] How does one dwell contemplating mind in mind? Here, a certain person repeatedly contemplates a mind with lust as impermanent, not as permanent... and so on... one relinquishes and does not grasp. By repeatedly contemplating as impermanent, one abandons the perception of permanence... and so on... By relinquishing, one abandons grasping. In these seven ways, one repeatedly contemplates the mind. The mind is the establishment [of mindfulness], not mindfulness itself. Mindfulness is both the establishment [of mindfulness] and mindfulness itself. With that mindfulness and that knowledge, one repeatedly contemplates that mind. Therefore, it is called 'the establishment of mindfulness by contemplating mind in mind'.
[Ga] Thế nào là vị ấy sống quán tâm trên tâm? Ở đây, có người quán xét tâm có tham là vô thường, không quán xét là thường... cho đến... vị ấy từ bỏ, không chấp thủ. Do quán xét là vô thường, vị ấy đoạn trừ thường tưởng... cho đến... do từ bỏ, vị ấy đoạn trừ sự chấp thủ. Vị ấy quán xét tâm theo bảy phương diện này. Tâm là đối tượng hiện khởi, không phải là niệm. Niệm vừa là đối tượng hiện khởi, vừa là niệm. Với niệm ấy, với trí tuệ ấy, vị ấy quán xét tâm ấy. Do đó, được gọi là – ‘niệm xứ quán tâm trên tâm’.”
Bhāvanāti catasso bhāvanā…pe… āsevanaṭṭhena bhāvanā.
Regarding 'development' (bhāvanā), there are four kinds of development... and so on... Development (bhāvanā) is so called in the sense of repeated practice.
Bhāvanā (sự tu tập) là có bốn sự tu tập... cho đến... sự tu tập có nghĩa là thực hành lặp đi lặp lại.
Idhekacco vītarāgaṃ cittaṃ…pe… sadosaṃ cittaṃ… vītadosaṃ cittaṃ… samohaṃ cittaṃ… vītamohaṃ cittaṃ… saṃkhittaṃ cittaṃ… vikkhittaṃ cittaṃ… mahaggataṃ cittaṃ… amahaggataṃ cittaṃ… sauttaraṃ cittaṃ… anuttaraṃ cittaṃ… samāhitaṃ cittaṃ… asamāhitaṃ cittaṃ… vimuttaṃ cittaṃ… avimuttaṃ cittaṃ… cakkhuviññāṇaṃ… sotaviññāṇaṃ… ghānaviññāṇaṃ… jivhāviññāṇaṃ… kāyaviññāṇaṃ… manoviññāṇaṃ aniccato anupassati, no niccato…pe… paṭinissajjati, no ādiyati. Aniccato anupassanto niccasaññaṃ pajahati…pe… paṭinissajjanto ādānaṃ pajahati. Imehi sattahi ākārehi cittaṃ anupassati. Cittaṃ upaṭṭhānaṃ, no sati. Sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena taṃ cittaṃ anupassati. Tena vuccati – ‘‘citte cittānupassanāsatipaṭṭhānā’’.
Here, a certain person contemplates a mind free from lust... a mind with hate... a mind free from hate... a mind with delusion... a mind free from delusion... a constricted mind... a scattered mind... an exalted mind... an unexalted mind... a surpassable mind... an unsurpassed mind... a concentrated mind... an unconcentrated mind... a liberated mind... an unliberated mind... eye-consciousness... ear-consciousness... nose-consciousness... tongue-consciousness... body-consciousness... mind-consciousness as impermanent, not as permanent... he relinquishes, not grasping. Contemplating it as impermanent, he abandons the perception of permanence... Relinquishing, he abandons grasping. In these seven ways, he contemplates the mind. The mind is the establishment, not mindfulness. Mindfulness is both the establishment and mindfulness. With that mindfulness and that knowledge, he contemplates that mind. Therefore, it is called 'the establishment of mindfulness by contemplating the mind in the mind'.
Ở đây, có người quán xét tâm ly tham... cho đến... tâm có sân... tâm ly sân... tâm có si... tâm ly si... tâm co rút... tâm tán loạn... tâm quảng đại... tâm không quảng đại... tâm hữu thượng... tâm vô thượng... tâm định tĩnh... tâm không định tĩnh... tâm giải thoát... tâm không giải thoát... nhãn thức... nhĩ thức... tỷ thức... thiệt thức... thân thức... ý thức là vô thường, không quán xét là thường... cho đến... vị ấy từ bỏ, không chấp thủ. Do quán xét là vô thường, vị ấy đoạn trừ thường tưởng... cho đến... do từ bỏ, vị ấy đoạn trừ sự chấp thủ. Vị ấy quán xét tâm theo bảy phương diện này. Tâm là đối tượng hiện khởi, không phải là niệm. Niệm vừa là đối tượng hiện khởi, vừa là niệm. Với niệm ấy, với trí tuệ ấy, vị ấy quán xét tâm ấy. Do đó, được gọi là – ‘niệm xứ quán tâm trên tâm’.”
Bhāvanāti catasso bhāvanā…pe… āsevanaṭṭhena bhāvanā. Evaṃ citte cittānupassī viharati.
Regarding 'development,' there are four developments... It is 'development' in the sense of repeated practice. Thus, he dwells contemplating the mind in the mind.
Bhāvanā (sự tu tập) là có bốn sự tu tập... cho đến... sự tu tập có nghĩa là thực hành lặp đi lặp lại. Như vậy, vị ấy sống quán tâm trên tâm.
[Gha] kathaṃ dhammesu dhammānupassī viharati? Idhekacco ṭhapetvā kāyaṃ ṭhapetvā vedanaṃ ṭhapetvā cittaṃ tadavasese dhamme aniccato anupassati, no niccato; dukkhato anupassati, no sukhato; anattato anupassati, no attato; nibbindati, no nandati; virajjati, no rajjati; nirodheti, no samudeti; paṭinissajjati, no ādiyati. Aniccato anupassanto niccasaññaṃ pajahati, dukkhato anupassanto sukhasaññaṃ pajahati, anattato anupassanto attasaññaṃ pajahati, nibbindanto nandiṃ pajahati, virajjanto rāgaṃ pajahati, nirodhento samudayaṃ pajahati, paṭinissajjanto ādānaṃ pajahati. Imehi sattahi ākārehi te dhamme anupassati. Dhammā upaṭṭhānaṃ, no sati. Sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena te dhamme anupassati. Tena vuccati – ‘‘dhammesu dhammānupassanāsatipaṭṭhānā’’.
[Gha] How does one dwell contemplating phenomena as phenomena? Here, a certain person, having set aside the body, having set aside feeling, and having set aside the mind, contemplates the remaining phenomena as impermanent, not as permanent; as suffering, not as pleasant; as not-self, not as self; one becomes disenchanted, not delighted; one becomes dispassionate, not impassioned; one brings them to cessation, not to arising; one relinquishes, not grasping. Contemplating as impermanent, one abandons the perception of permanence; contemplating as suffering, one abandons the perception of pleasure; contemplating as not-self, one abandons the perception of self; becoming disenchanted, one abandons delight; becoming dispassionate, one abandons passion; bringing them to cessation, one abandons arising; relinquishing, one abandons grasping. One contemplates those phenomena in these seven ways. Phenomena are the establishment, not mindfulness. Mindfulness is both the establishment and mindfulness. With that mindfulness, with that knowledge, one contemplates those phenomena. Therefore, it is called 'the establishment of mindfulness through contemplation of phenomena in phenomena'.
[Gha] Thế nào là vị ấy sống quán pháp trên các pháp? Ở đây, có người, sau khi loại trừ thân, loại trừ thọ, loại trừ tâm, quán xét các pháp còn lại là vô thường, không quán xét là thường; quán xét là khổ, không quán xét là lạc; quán xét là vô ngã, không quán xét là ngã; vị ấy nhàm chán, không hoan hỷ; ly tham, không tham đắm; làm cho diệt, không làm cho sanh khởi; từ bỏ, không chấp thủ. Do quán xét là vô thường, vị ấy đoạn trừ thường tưởng; do quán xét là khổ, vị ấy đoạn trừ lạc tưởng; do quán xét là vô ngã, vị ấy đoạn trừ ngã tưởng; do nhàm chán, vị ấy đoạn trừ sự hoan hỷ; do ly tham, vị ấy đoạn trừ tham ái; do làm cho diệt, vị ấy đoạn trừ sự sanh khởi; do từ bỏ, vị ấy đoạn trừ sự chấp thủ. Vị ấy quán xét các pháp ấy theo bảy phương diện này. Các pháp là đối tượng hiện khởi, không phải là niệm. Niệm vừa là đối tượng hiện khởi, vừa là niệm. Với niệm ấy, với trí tuệ ấy, vị ấy quán xét các pháp ấy. Do đó, được gọi là – ‘niệm xứ quán pháp trên các pháp’.”
Bhāvanāti catasso bhāvanā – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā, indriyānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā, tadupagavīriyavāhanaṭṭhena bhāvanā, āsevanaṭṭhena bhāvanā. Evaṃ dhammesu dhammānupassī viharatīti.
Regarding 'development', there are four kinds of development: development in the sense of not transgressing the arisen phenomena; development in the sense of the single function of the faculties; development in the sense of conveying effort directed towards that; and development in the sense of repeated practice. Thus, one dwells contemplating phenomena as phenomena.
Bhāvanā (sự tu tập) là có bốn sự tu tập – ở đây, sự tu tập có nghĩa là các pháp đã sanh không vượt qua nhau, sự tu tập có nghĩa là các căn có cùng một vai trò, sự tu tập có nghĩa là sự tinh tấn hướng đến mục tiêu ấy, sự tu tập có nghĩa là thực hành lặp đi lặp lại. Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các pháp.
Satipaṭṭhānakathā niṭṭhitā.
The discourse on the establishments of mindfulness is concluded.
Phần luận về Niệm Xứ đã kết thúc.