Bản dịch
PS 3.7 — Giảng về Các Pháp Đứng Đầu được Tịnh Lặng
3.7. Samasīsakathā
Sự nhận biết về việc đoạn trừ hoàn toàn đối với tất cả các pháp, về sự diệt tận và tính chất không thiết lập là trí về ý nghĩa của các pháp đứng đầu được tịnh lặng là (có ý nghĩa) thế nào?
Đối với tất cả các pháp: là năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, các pháp thiện, các pháp bất thiện, các pháp vô ký, các pháp thuộc dục giới, các pháp thuộc sắc giới, các pháp thuộc vô sắc giới, các pháp không còn lệ thuộc.
Về việc đoạn trừ hoàn toàn: Do sự thoát ly, (hành giả) đoạn trừ hoàn toàn ước muốn trong các dục. Do không sân độc, (hành giả) đoạn trừ hoàn toàn sân độc. Do sự nghĩ tưởng đến ánh sáng, (hành giả) đoạn trừ hoàn toàn sự lờ đờ buồn ngủ. Do không tản mạn, (hành giả) đoạn trừ hoàn toàn sự phóng dật. Do xác định pháp, (hành giả) đoạn trừ hoàn toàn sự hoài nghi. Do trí, (hành giả) đoạn trừ hoàn toàn vô minh. Do hân hoan, (hành giả) đoạn trừ hoàn toàn sự không hứng thú. Do sơ thiền, (hành giả) đoạn trừ hoàn toàn các pháp ngăn che. …(như trên).., Do Đạo A-la-hán, (hành giả) đoạn trừ hoàn toàn toàn bộ phiền não.
Về sự diệt tận: Do thoát ly, (hành giả) diệt tận ước muốn trong các dục. Do không sân độc, (hành giả) diệt tận sân độc. Do sự nghĩ tưởng đến ánh sáng, (hành giả) diệt tận sự lờ đờ buồn ngủ. Do không tản mạn, (hành giả) diệt tận sự phóng dật. Do sự xác định pháp, (hành giả) diệt tận hoài nghi. Do trí, (hành giả) diệt tận vô minh. Do hân hoan, (hành giả) diệt tận sự không hứng thú. Do sơ thiền, (hành giả) diệt tận các pháp ngăn che. …(như trên)… Do Đạo A-la-hán, (hành giả) diệt tận toàn bộ phiền não.
Do tính chất không thiết lập: Ở (hành giả) đã thành tựu thoát ly, ước muốn trong các dục không thiết lập. Ở (hành giả) đã thành tựu không sân độc, sân độc không thiết lập. Ở (hành giả) đã thành tựu sự nghĩ tưởng về ánh sáng, sự lờ đờ buồn ngủ không thiết lập. Ở (hành giả) đã thành tựu sự không tản mạn, phóng dật không thiết lập. Ở (hành giả) đã thành tựu sự xác định pháp, hoài nghi không thiết lập. Ở (hành giả) đã thành tựu trí, vô minh không thiết lập. Ở (hành giả) đã thành tựu hân hoan, sự không hứng thú không thiết lập. Ở (hành giả) đã thành tựu sơ thiền, các pháp ngăn che không thiết lập. …(như trên)… Ở (hành giả) đã thành tựu Đạo A-la-hán, toàn bộ phiền não không thiết lập.
Được tịnh lặng: Do trạng thái dứt bỏ ước muốn các dục, sự thoát ly được tịnh lặng. Do trạng thái dứt bỏ sân độc, không sân độc được tịnh lặng. Do trạng thái dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, sự nghĩ tưởng đến ánh sáng được tịnh lặng. Do trạng thái dứt bỏ phóng dật, sự không tản mạn được tịnh lặng. Do trạng thái dứt bỏ hoài nghi, sự xác định pháp được tịnh lặng. Do trạng thái dứt bỏ vô minh, trí được tịnh lặng. Do trạng thái dứt bỏ sự không hứng thú, hân hoan được tịnh lặng. Do trạng thái dứt bỏ các pháp ngăn che, sơ thiền được tịnh lặng. …(như trên)… Do trạng thái dứt bỏ toàn bộ phiền não, Đạo A-la-hán được tịnh lặng.
Pháp đứng đầu: Có mười ba pháp đứng đầu: Đứng đầu các sự vướng bận là ái, đứng đầu các sự trói buộc là ngã mạn, đứng đầu các pháp tiêm nhiễm là tà kiến, đứng đầu các sự tản mạn là phóng dật, đứng đầu các phiền não là vô minh, đứng đầu các sự cương quyết là tín, Đứng đầu các sự ra sức là tấn, đứng đầu các sự thiết lập là niệm, đứng đầu các sự không tản mạn là định, đứng đầu các sự nhận thức là tuệ, đứng đầu các sự vận hành là mạng quyền, đứng đầu các hành xứ là giải thoát, đứng đầu các hành là sự diệt tận.
Các Pháp Đứng Đầu Được Tịnh Lặng được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
87. Kathaṃ sabbadhammānaṃ sammā samucchede nirodhe ca anupaṭṭhānatā paññā samasīsaṭṭhe ñāṇaṃ? Sabbadhammānanti – pañcakkhandhā, dvādasāyatanāni, aṭṭhārasa dhātuyo, kusalā dhammā, akusalā dhammā, abyākatā dhammā, kāmāvacarā dhammā, rūpāvacarā dhammā, arūpāvacarā dhammā, apariyāpannā dhammā. Sammā samucchedeti nekkhammena kāmacchandaṃ sammā samucchindati. Abyāpādena byāpādaṃ sammā samucchindati. Ālokasaññāya thinamiddhaṃ sammā samucchindati. Avikkhepena uddhaccaṃ sammā samucchindati. Dhammavavatthānena vicikicchaṃ sammā samucchindati. Ñāṇena avijjaṃ sammā samucchindati. Pāmojjena aratiṃ sammā samucchindati. Paṭhamena jhānena nīvaraṇe sammā samucchindati…pe… arahattamaggena sabbakilese sammā samucchindati.
87. How is the wisdom that is non-arising in the right cutting off and cessation of all phenomena, the knowledge in the sense of being level? 'All phenomena' means: the five aggregates, the twelve bases, the eighteen elements, wholesome phenomena, unwholesome phenomena, indeterminate phenomena, phenomena of the sense sphere, phenomena of the form sphere, phenomena of the formless sphere, and supramundane phenomena. 'Rightly cuts off' means: one rightly cuts off sensual desire by means of jhāna; one rightly cuts off ill will by means of non-ill will; one rightly cuts off sloth and torpor by means of the perception of light; one rightly cuts off restlessness by means of non-distraction; one rightly cuts off doubt by means of the determination of phenomena; one rightly cuts off ignorance by means of knowledge; one rightly cuts off discontent by means of joy; one rightly cuts off the hindrances by means of the first jhāna... and so on... one rightly cuts off all defilements by means of the path of arahantship.
87. Thế nào là trí tuệ về sự không sanh khởi lại trong sự chánh đoạn diệt và sự diệt tận của tất cả các pháp là trí tuệ trong ý nghĩa bình đẳng và đứng đầu? Trong câu ‘tất cả các pháp’ (sabbadhammānaṃ) – là năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, các pháp thiện, các pháp bất thiện, các pháp vô ký, các pháp Dục giới, các pháp Sắc giới, các pháp Vô Sắc giới, các pháp Siêu thế. Trong câu ‘chánh đoạn diệt’ (sammā samucchede), do nhờ sự xuất ly nên chánh đoạn diệt được dục tham. Do nhờ tâm vô sân nên chánh đoạn diệt được sân hận. Do nhờ quang tưởng nên chánh đoạn diệt được hôn trầm thụy miên. Do nhờ sự không tán loạn nên chánh đoạn diệt được trạo cử. Do nhờ sự xác định các pháp nên chánh đoạn diệt được hoài nghi. Do nhờ trí tuệ nên chánh đoạn diệt được vô minh. Do nhờ sự hân hoan nên chánh đoạn diệt được sự không hoan hỷ. Do nhờ thiền thứ nhất nên chánh đoạn diệt được các triền cái... cho đến... do nhờ đạo A-la-hán nên chánh đoạn diệt được tất cả phiền não.
Nirodheti nekkhammena kāmacchandaṃ nirodheti. Abyāpādena byāpādaṃ nirodheti. Ālokasaññāya thinamiddhaṃ nirodheti. Avikkhepena uddhaccaṃ nirodheti. Dhammavavatthānena vicikicchaṃ nirodheti. Ñāṇena avijjaṃ nirodheti. Pāmojjena aratiṃ nirodheti. Paṭhamena jhānena nīvaraṇe nirodheti…pe… arahattamaggena sabbakilese nirodheti.
'Causes to cease' means: one causes sensual desire to cease by means of jhāna; one causes ill will to cease by means of non-ill will; one causes sloth and torpor to cease by means of the perception of light; one causes restlessness to cease by means of non-distraction; one causes doubt to cease by means of the determination of phenomena; one causes ignorance to cease by means of knowledge; one causes discontent to cease by means of joy; one causes the hindrances to cease by means of the first jhāna... and so on... one causes all defilements to cease by means of the path of arahantship.
Trong câu ‘diệt tận’ (nirodheti), do nhờ sự xuất ly nên làm cho dục tham được diệt tận. Do nhờ tâm vô sân nên làm cho sân hận được diệt tận. Do nhờ quang tưởng nên làm cho hôn trầm thụy miên được diệt tận. Do nhờ sự không tán loạn nên làm cho trạo cử được diệt tận. Do nhờ sự xác định các pháp nên làm cho hoài nghi được diệt tận. Do nhờ trí tuệ nên làm cho vô minh được diệt tận. Do nhờ sự hân hoan nên làm cho sự không hoan hỷ được diệt tận. Do nhờ thiền thứ nhất nên làm cho các triền cái được diệt tận... cho đến... do nhờ đạo A-la-hán nên làm cho tất cả phiền não được diệt tận.
Anupaṭṭhānatāti nekkhammaṃ paṭiladdhassa kāmacchando na upaṭṭhāti. Abyāpādaṃ paṭiladdhassa byāpādo na upaṭṭhāti. Ālokasaññaṃ paṭiladdhassa thinamiddhaṃ na upaṭṭhāti. Avikkhepaṃ paṭiladdhassa uddhaccaṃ na upaṭṭhāti. Dhammavavatthānaṃ paṭiladdhassa vicikicchā na upaṭṭhāti. Ñāṇaṃ paṭiladdhassa avijjā na upaṭṭhāti. Pāmojjaṃ paṭiladdhassa arati na upaṭṭhāti. Paṭhamaṃ jhānaṃ paṭiladdhassa nīvaraṇā na upaṭṭhahanti…pe… arahattamaggaṃ paṭiladdhassa sabbakilesā na upaṭṭhahanti.
Herein, regarding 'non-arising': for one who has attained renunciation, sensual desire does not arise. For one who has attained non-ill will, ill will does not arise. For one who has attained the perception of light, sloth and torpor do not arise. For one who has attained non-distraction, restlessness does not arise. For one who has attained the determination of phenomena, doubt does not arise. For one who has attained knowledge, ignorance does not arise. For one who has attained joy, discontent does not arise. For one who has attained the first jhāna, the hindrances do not arise... for one who has attained the path of arahantship, all defilements do not arise.
Trong câu ‘sự không sanh khởi lại’ (anupaṭṭhānatā), đối với người đã chứng đắc sự xuất ly, dục tham không sanh khởi. Đối với người đã chứng đắc tâm vô sân, sân hận không sanh khởi. Đối với người đã chứng đắc quang tưởng, hôn trầm thụy miên không sanh khởi. Đối với người đã chứng đắc sự không tán loạn, trạo cử không sanh khởi. Đối với người đã chứng đắc sự xác định các pháp, hoài nghi không sanh khởi. Đối với người đã chứng đắc trí tuệ, vô minh không sanh khởi. Đối với người đã chứng đắc sự hân hoan, sự không hoan hỷ không sanh khởi. Đối với người đã chứng đắc thiền thứ nhất, các triền cái không sanh khởi... cho đến... đối với người đã chứng đắc đạo A-la-hán, tất cả phiền não không sanh khởi.
Samanti kāmacchandassa pahīnattā nekkhammaṃ samaṃ. Byāpādassa pahīnattā abyāpādo samaṃ. Thinamiddhassa pahīnattā ālokasaññā samaṃ. Uddhaccassa pahīnattā avikkhepo samaṃ. Vicikicchāya pahīnattā dhammavavatthānaṃ samaṃ. Avijjāya pahīnattā ñāṇaṃ samaṃ. Aratiyā pahīnattā pāmojjaṃ samaṃ. Nīvaraṇānaṃ pahīnattā paṭhamaṃ jhānaṃ samaṃ…pe… sabbakilesānaṃ pahīnattā arahattamaggo samaṃ.
Herein, regarding 'calm': because sensual desire has been abandoned, renunciation is calm. Because ill will has been abandoned, non-ill will is calm. Because sloth and torpor have been abandoned, the perception of light is calm. Because restlessness has been abandoned, non-distraction is calm. Because doubt has been abandoned, the determination of phenomena is calm. Because ignorance has been abandoned, knowledge is calm. Because discontent has been abandoned, joy is calm. Because the hindrances have been abandoned, the first jhāna is calm... Because all defilements have been abandoned, the path of arahantship is calm.
Trong câu ‘bình đẳng’ (samaṃ), do vì dục tham đã được đoạn tận nên sự xuất ly được gọi là bình đẳng. Do vì sân hận đã được đoạn tận nên tâm vô sân được gọi là bình đẳng. Do vì hôn trầm thụy miên đã được đoạn tận nên quang tưởng được gọi là bình đẳng. Do vì trạo cử đã được đoạn tận nên sự không tán loạn được gọi là bình đẳng. Do vì hoài nghi đã được đoạn tận nên sự xác định các pháp được gọi là bình đẳng. Do vì vô minh đã được đoạn tận nên trí tuệ được gọi là bình đẳng. Do vì sự không hoan hỷ đã được đoạn tận nên sự hân hoan được gọi là bình đẳng. Do vì các triền cái đã được đoạn tận nên thiền thứ nhất được gọi là bình đẳng... cho đến... do vì tất cả phiền não đã được đoạn tận nên đạo A-la-hán được gọi là bình đẳng.
Sīsanti terasa sīsāni – palibodhasīsañca taṇhā, vinibandhanasīsañca māno, parāmāsasīsañca diṭṭhi, vikkhepasīsañca uddhaccaṃ, saṃkilesasīsañca avijjā, adhimokkhasīsañca saddhā, paggahasīsañca vīriyaṃ, upaṭṭhānasīsañca sati, avikkhepasīsañca samādhi, dassanasīsañca paññā, pavattasīsañca jīvitindriyaṃ, gocarasīsañca vimokkho, saṅkhārasīsañca nirodho. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘sabbadhammānaṃ sammā samucchede nirodhe ca anupaṭṭhānatā paññā samasīsaṭṭhe ñāṇaṃ’’.
Herein, regarding 'heads', there are thirteen heads: craving is the head of obstruction; conceit is the head of bondage; wrong view is the head of misapprehension; restlessness is the head of distraction; ignorance is the head of defilement; faith is the head of resolve; energy is the head of exertion; mindfulness is the head of establishment; concentration is the head of non-distraction; wisdom is the head of seeing; the life faculty is the head of continuance; liberation is the head of resort; cessation is the head of formations. That is knowledge (ñāṇa) in the sense of knowing, and wisdom (paññā) in the sense of thorough understanding. Therefore it is said: “The wisdom that is the non-arising upon the right cutting off and cessation of all phenomena is the knowledge in the state of being calm-headed.”
Trong câu ‘đứng đầu’ (sīsaṃ), có mười ba pháp đứng đầu: ái là đứng đầu về sự chướng ngại, mạn là đứng đầu về sự trói buộc, tà kiến là đứng đầu về sự chấp thủ sai lầm, trạo cử là đứng đầu về sự tán loạn, vô minh là đứng đầu về sự ô nhiễm, tín là đứng đầu về sự quyết định, tinh tấn là đứng đầu về sự nỗ lực, niệm là đứng đầu về sự an trú, định là đứng đầu về sự không tán loạn, tuệ là đứng đầu về sự thấy biết, mạng quyền là đứng đầu về sự hiện hành, giải thoát là đứng đầu về cảnh giới, sự diệt tận là đứng đầu về các pháp hữu vi. Trí tuệ ấy, theo ý nghĩa biết rõ nên là trí (ñāṇaṃ), theo ý nghĩa hiểu biết thấu đáo nên là tuệ (paññā). Do đó, được nói rằng: ‘Trí tuệ về sự không sanh khởi lại trong sự chánh đoạn diệt và sự diệt tận của tất cả các pháp là trí tuệ trong ý nghĩa bình đẳng và đứng đầu’.