Bản dịch
PS 3.6 — Giảng về Phép Kỳ Diệu
3.6. Pāṭihāriyakathā
Này các tỳ khưu, đây là ba phép kỳ diệu. Ba là gì? Phép kỳ diệu về thần thông, phép kỳ diệu về điểm hóa, phép kỳ diệu về giáo hóa.
Và này các tỳ khưu, phép kỳ diệu về thần thông là gì? Này các tỳ khưu, ở đây có vị kinh nghiệm nhiều thể loại thần thông: là một hóa thành nhiều, là nhiều hóa thành một, hiện ra, biến mất …(như trên)… bằng thân vị ấy thể hiện sự tác động đến tận cõi Phạm Thiên. Này các tỳ khưu, điều này được gọi là phép kỳ diệu về thần thông.
Và này các tỳ khưu, phép kỳ diệu về điểm hóa là gì? Này các tỳ khưu, ở đây có vị chỉ điểm bằng hiện tướng rằng: “Ý của ngươi là như vầy, ý của ngươi là thế ấy, tâm của ngươi là như thế.” Dẫu cho vị ấy chỉ điểm nhiều, điều ấy cũng xảy ra đúng y như thế, không có sai khác. Này các tỳ khưu, hơn nữa ở đây có vị chẳng những không chỉ điểm bằng hiện tướng, mà chỉ lắng nghe âm thanh của loài người, hoặc của phi nhân, hoặc của chư thiên rồi chỉ điểm rằng: “Ý của ngươi là như vầy, ý của ngươi là thế ấy, tâm của ngươi là như thế.” Dẫu cho vị ấy chỉ điểm nhiều, điều ấy cũng xảy ra đúng y như thế, không có sai khác. Này các tỳ khưu, hơn nữa ở đây có vị chẳng những không chỉ điểm bằng hiện tướng, cũng không lắng nghe âm thanh của loài người, hoặc của phi nhân, hoặc của chư thiên rồi chỉ điểm, mà chỉ lắng nghe âm thanh lan truyền của sự suy tầm ở người đang suy tầm đang suy xét rồi chỉ điểm rằng: “Ý của ngươi là như vầy, ý của ngươi là thế ấy, tâm của ngươi là như thế.” Dẫu cho vị ấy chỉ điểm nhiều, điều ấy cũng xảy ra đúng y như thế, không có sai khác. Này các tỳ khưu, hơn nữa ở đây có vị chẳng những không chỉ điểm bằng hiện tướng, cũng không lắng nghe âm thanh của loài người, hoặc của phi nhân, hoặc của chư thiên rồi chỉ điểm, cũng không lắng nghe âm thanh lan truyền của sự suy tầm ở người đang suy tầm đang suy xét rồi chỉ điểm, mà chỉ dùng ý nắm giữ ý của vị đang thể nhập định không tầm không tứ và nhận biết rằng: “Theo như các tạo tác về ý của vị này đã được ước nguyện, thì kế liền tâm này vị ấy sẽ suy tầm đến điều suy tầm này như vầy.” Dẫu cho vị ấy chỉ điểm nhiều, điều ấy cũng xảy ra đúng y như thế, không có sai khác. Này các tỳ khưu, điều này được gọi là phép kỳ diệu về điểm hóa.
Và này các tỳ khưu, phép kỳ diệu về giáo hóa là gì? Này các tỳ khưu, ở đây có vị chỉ dạy như vầy: “Hãy suy tầm như vầy, chớ suy tầm như vầy. Hãy tác ý như vầy, chớ tác ý như vầy. Hãy dứt bỏ điều này, hãy thành tựu và an trú điều này.” Này các tỳ khưu, điều này được gọi là phép kỳ diệu về giáo hóa. Này các tỳ khưu, đây là ba phép kỳ diệu.
‘Thoát ly được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại ước muốn trong các dục’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sự thoát ly ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sự thoát ly ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Không sân độc được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại sân độc’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sự không sân độc ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sự không sân độc ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Sự nghĩ tưởng về ánh sáng được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại sự lờ đờ buồn ngủ’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sự nghĩ tưởng về ánh sáng ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sự nghĩ tưởng về ánh sáng ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Sự không tản mạn được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại sự phóng dật’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sự không tản mạn ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sự không tản mạn ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Sự xác định pháp được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại hoài nghi’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sự xác định pháp ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sự xác định pháp ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Trí được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại vô minh’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ trí ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, trí ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Sự hân hoan được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại sự không hứng thú’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sự hân hoan ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sự hân hoan ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Sơ thiền được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại các pháp ngăn che’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sơ thiền ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sơ thiền ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa. …(như trên)…
‘Đạo A-la-hán được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại toàn bộ phiền não’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ Đạo A-la-hán ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, Đạo A-la-hán ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Thoát ly được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại ước muốn trong các dục’ là phép kỳ diệu. Thành tựu và phép kỳ diệu được gọi là phép kỳ diệu về thần thông. ‘Không sân độc được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại sân độc’ là phép kỳ diệu. Thành tựu và phép kỳ diệu được gọi là phép kỳ diệu về thần thông. ‘Sự nghĩ tưởng về ánh sáng được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại sự lờ đờ buồn ngủ’ là phép kỳ diệu. Thành tựu và phép kỳ diệu được gọi là phép kỳ diệu về thần thông. …(như trên)… ‘Đạo A-la-hán được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại toàn bộ phiền não’ là phép kỳ diệu. Thành tựu và phép kỳ diệu được gọi là phép kỳ diệu về thần thông.
Phần Giảng về Phép Kỳ Diệu được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
30. ‘‘Tīṇimāni, bhikkhave †, pāṭihāriyāni. Katamāni tīṇi? Iddhipāṭihāriyaṃ, ādesanāpāṭihāriyaṃ, anusāsanīpāṭihāriyaṃ.
30. “Monks, there are these three wonders. What three? The wonder of psychic power, the wonder of mind-reading, and the wonder of instruction.”
30. Này các Tỳ khưu, có ba loại thần thông này. Ba loại nào? Thần túc thông, tha tâm thông, và giáo hóa thông.
‘‘Katamañca, bhikkhave, iddhipāṭihāriyaṃ? Idha, bhikkhave, ekacco anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhoti – ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti; āvibhāvaṃ tirobhāvaṃ…pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vatteti. Idaṃ vuccati, bhikkhave, iddhipāṭihāriyaṃ.
“And what, monks, is the wonder of psychic power? Here, monks, a certain person experiences the various kinds of psychic power: having been one, he becomes many; having been many, he becomes one; he appears and vanishes... and so on... he wields mastery with his body even as far as the Brahmā world. This, monks, is called the wonder of psychic power.”
Này các Tỳ khưu, thế nào là thần túc thông? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người trải nghiệm nhiều loại thần thông khác nhau – từ một thân hóa ra nhiều thân, từ nhiều thân hóa lại một thân; hiện hình, tàng hình... cho đến dùng thân làm chủ đến tận cõi Phạm thiên. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là thần túc thông.
‘‘Katamañca, bhikkhave, ādesanāpāṭihāriyaṃ? Idha, bhikkhave, ekacco nimittena ādisati – ‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te citta’nti. So bahuṃ cepi ādisati, tatheva taṃ hoti, no aññathā. Idha pana, bhikkhave, ekacco na heva kho nimittena ādisati, api ca kho manussānaṃ vā amanussānaṃ vā devatānaṃ vā saddaṃ sutvā ādisati – ‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te citta’nti. So bahuṃ cepi ādisati, tatheva taṃ hoti, no aññathā. Idha pana, bhikkhave, ekacco na heva kho nimittena ādisati, napi manussānaṃ vā amanussānaṃ vā devatānaṃ vā saddaṃ sutvā ādisati, api ca kho vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṃ sutvā ādisati – ‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te citta’nti. So bahuṃ cepi ādisati, tatheva taṃ hoti, no aññathā. Idha pana, bhikkhave, ekacco na heva kho nimittena ādisati, napi manussānaṃ vā amanussānaṃ vā devatānaṃ vā saddaṃ sutvā ādisati, napi vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṃ sutvā ādisati, api ca kho avitakkaṃ avicāraṃ samādhiṃ samāpannassa cetasā ceto paricca pajānāti – ‘yathā imassa bhoto manosaṅkhārā paṇihitā imassa † cittassa anantarā amukaṃ nāma vitakkaṃ vitakkayissatī’ti †. So bahuṃ cepi ādisati, tatheva taṃ hoti, no aññathā. Idaṃ vuccati, bhikkhave, ādesanāpāṭihāriyaṃ.
“And what, monks, is the miracle of mind-reading? Here, monks, a certain person reveals by means of a sign: ‘Thus is your mind, in this way is your mind, so is your thought.’ Even if he reveals much, it is just so, and not otherwise. Again, monks, a certain person does not reveal by means of a sign, but rather, having heard the sound of humans, non-humans, or devas, he reveals: ‘Thus is your mind, in this way is your mind, so is your thought.’ Even if he reveals much, it is just so, and not otherwise. Again, monks, a certain person does not reveal by means of a sign, nor having heard the sound of humans, non-humans, or devas, but rather, having heard the sound of the resonance of thought of one who is thinking and pondering, he reveals: ‘Thus is your mind, in this way is your mind, so is your thought.’ Even if he reveals much, it is just so, and not otherwise. Again, monks, a certain person does not reveal by means of a sign, nor having heard the sound of humans, non-humans, or devas, nor having heard the sound of the resonance of thought of one who is thinking and pondering, but rather, having entered a concentration that is without thought and without examination, he knows, having encompassed the mind of another with his own mind: ‘According to how the mental formations of this venerable one are directed, immediately following this mind, he will think such-and-such a thought.’ Even if he reveals much, it is just so, and not otherwise. This, monks, is called the miracle of mind-reading.”
Này các Tỳ khưu, thế nào là tha tâm thông? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người nói rõ bằng tướng rằng: ‘Tâm của ông như thế này, tâm của ông theo cách này, ý của ông là như thế này’. Dù người ấy nói rõ nhiều điều, sự việc vẫn đúng như vậy, không khác. Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có người không nói rõ bằng tướng, nhưng sau khi nghe tiếng của người, phi nhân, hay chư thiên, liền nói rõ: ‘Tâm của ông như thế này, tâm của ông theo cách này, ý của ông là như thế này’. Dù người ấy nói rõ nhiều điều, sự việc vẫn đúng như vậy, không khác. Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có người không nói rõ bằng tướng, cũng không phải sau khi nghe tiếng của người, phi nhân, hay chư thiên, nhưng sau khi nghe tiếng vang của tầm của người đang suy tầm, tư sát, liền nói rõ: ‘Tâm của ông như thế này, tâm của ông theo cách này, ý của ông là như thế này’. Dù người ấy nói rõ nhiều điều, sự việc vẫn đúng như vậy, không khác. Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có người không nói rõ bằng tướng, cũng không phải sau khi nghe tiếng của người, phi nhân, hay chư thiên, cũng không phải sau khi nghe tiếng vang của tầm của người đang suy tầm, tư sát, nhưng sau khi nhập định không tầm không tứ, dùng tâm của mình bao trùm tâm của người khác mà biết rằng: ‘Các tâm hành của vị này được hướng đến như thế nào, ngay sau tâm này, vị ấy sẽ khởi lên tầm có tên như thế này’. Dù người ấy nói rõ nhiều điều, sự việc vẫn đúng như vậy, không khác. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là tha tâm thông.
‘‘Katamañca, bhikkhave, anusāsanīpāṭihāriyaṃ? Idha, bhikkhave, ekacco evamanusāsati – ‘evaṃ vitakketha, mā evaṃ vitakkayittha. Evaṃ manasi karotha, mā evaṃ manasi karittha. Idaṃ pajahatha, idaṃ upasampajja viharathā’ti. Idaṃ vuccati, bhikkhave, anusāsanīpāṭihāriyaṃ. Imāni kho, bhikkhave, tīṇi pāṭihāriyāni’’.
And what, O monks, is the miracle of instruction? Here, O monks, a certain person instructs thus: ‘Think in this way; do not think in this way. Apply your mind in this way; do not apply your mind in this way. Abandon this; having attained this, you should dwell.’ This, O monks, is called the miracle of instruction. These, O monks, are the three miracles.
Này các Tỳ khưu, thế nào là giáo hóa thông? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người giáo huấn như vầy: ‘Hãy suy tầm như thế này, đừng suy tầm như thế kia. Hãy tác ý như thế này, đừng tác ý như thế kia. Hãy từ bỏ điều này, hãy thành tựu điều này và an trú’. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là giáo hóa thông. Này các Tỳ khưu, đây là ba loại thần thông.
31. Nekkhammaṃ ijjhatīti – iddhi. Kāmacchandaṃ paṭiharatīti – pāṭihāriyaṃ. Ye tena nekkhammena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti – ādesanāpāṭihāriyaṃ. ‘‘Taṃ kho pana nekkhammaṃ evaṃ āsevitabbaṃ, evaṃ bhāvetabbaṃ, evaṃ bahulīkātabbaṃ, evaṃ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā’’ti – anusāsanīpāṭihāriyaṃ.
31. Renunciation is accomplished, therefore it is power. It removes sensual desire, therefore it is a miracle. All those who are endowed with that renunciation have pure minds and undisturbed intentions—this is the miracle of mind-reading. ‘That renunciation should be resorted to thus, developed thus, and practiced frequently thus; mindfulness in accordance with it should be established thus’—this is the miracle of instruction.
31. Sự xuất ly thành tựu, nên gọi là thần thông (iddhi). Loại trừ được dục tham, nên gọi là phép lạ (pāṭihāriyaṃ). Những ai đã thành tựu sự xuất ly ấy, tất cả họ đều có tâm thanh tịnh, tư duy không vẩn đục – đó là tha tâm thông. ‘Sự xuất ly ấy cần được thực hành như thế này, cần được tu tập như thế này, cần được làm cho sung mãn như thế này, cần an lập niệm tương ứng với pháp ấy như thế này’ – đó là giáo hóa thông.
Abyāpādo ijjhatīti – iddhi. Byāpādaṃ paṭiharatīti – pāṭihāriyaṃ. Ye tena abyāpādena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti – ādesanāpāṭihāriyaṃ. ‘‘So kho pana abyāpādo evaṃ āsevitabbo, evaṃ bhāvetabbo, evaṃ bahulīkātabbo, evaṃ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā’’ti – anusāsanīpāṭihāriyaṃ.
Non-ill will is accomplished, therefore it is power. It removes ill will, therefore it is a miracle. All those who are endowed with that non-ill will have pure minds and undisturbed intentions—this is the miracle of mind-reading. ‘That non-ill will should be resorted to thus, developed thus, and practiced frequently thus; mindfulness in accordance with it should be established thus’—this is the miracle of instruction.
Sự vô sân thành tựu, nên gọi là thần thông (iddhi). Loại trừ được sân, nên gọi là phép lạ (pāṭihāriyaṃ). Những ai đã thành tựu sự vô sân ấy, tất cả họ đều có tâm thanh tịnh, tư duy không vẩn đục – đó là tha tâm thông. ‘Sự vô sân ấy cần được thực hành như thế này, cần được tu tập như thế này, cần được làm cho sung mãn như thế này, cần an lập niệm tương ứng với pháp ấy như thế này’ – đó là giáo hóa thông.
Ālokasaññā ijjhatīti – iddhi. Thinamiddhaṃ paṭiharatīti – pāṭihāriyaṃ. Ye tāya ālokasaññāya samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti – ādesanāpāṭihāriyaṃ. ‘‘Sā kho pana ālokasaññā evaṃ āsevitabbā, evaṃ bhāvetabbā, evaṃ bahulīkātabbā, evaṃ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā’’ti – anusāsanīpāṭihāriyaṃ.
The perception of light is accomplished, therefore it is power. It removes sloth and torpor, therefore it is a miracle. All those who are endowed with that perception of light have pure minds and undisturbed intentions—this is the miracle of mind-reading. ‘That perception of light should be resorted to thus, developed thus, and practiced frequently thus; mindfulness in accordance with it should be established thus’—this is the miracle of instruction.
Quang minh tưởng thành tựu, nên gọi là thần thông (iddhi). Loại trừ được hôn trầm thụy miên, nên gọi là phép lạ (pāṭihāriyaṃ). Những ai đã thành tựu quang minh tưởng ấy, tất cả họ đều có tâm thanh tịnh, tư duy không vẩn đục – đó là tha tâm thông. ‘Quang minh tưởng ấy cần được thực hành như thế này, cần được tu tập như thế này, cần được làm cho sung mãn như thế này, cần an lập niệm tương ứng với pháp ấy như thế này’ – đó là giáo hóa thông.
Avikkhepo ijjhatīti – iddhi. Uddhaccaṃ paṭiharatīti – pāṭihāriyaṃ. Ye tena avikkhepena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti – ādesanāpāṭihāriyaṃ. ‘‘So kho pana avikkhepo evaṃ āsevitabbo, evaṃ bhāvetabbo, evaṃ bahulīkātabbo, evaṃ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā’’ti – anusāsanīpāṭihāriyaṃ.
Non-distraction is accomplished—this is power. It wards off restlessness—this is a wonder. All those endowed with that non-distraction have purified minds and unclouded intentions—this is the wonder of mind-reading. "That non-distraction should be cultivated thus, developed thus, made abundant thus, and mindfulness should be established in conformity with it"—this is the wonder of instruction.
Sự không phóng dật được thành tựu, vì vậy là thần thông. Loại trừ được trạo cử, vì vậy là thần biến. Những vị nào được thành tựu với sự không phóng dật ấy, tất cả các vị ấy có tâm thanh tịnh, có tư duy không vẩn đục, vì vậy là tha tâm thần biến. ‘Lại nữa, sự không phóng dật ấy nên được thực hành như thế này, nên được tu tập như thế này, nên được làm cho sung mãn như thế này, nên an lập niệm tương ứng với pháp ấy như thế này,’ vì vậy là giáo giới thần biến.
Dhammavavatthānaṃ ijjhatīti – iddhi. Vicikicchaṃ paṭiharatīti – pāṭihāriyaṃ. Ye tena dhammavavatthānena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti – ādesanāpāṭihāriyaṃ. ‘‘Taṃ kho pana dhammavavatthānaṃ evaṃ āsevitabbaṃ, evaṃ bhāvetabbaṃ, evaṃ bahulīkātabbaṃ, evaṃ tadanudhammatā, sati upaṭṭhāpetabbā’’ti – anusāsanīpāṭihāriyaṃ.
The determination of phenomena is accomplished—this is power. It wards off doubt—this is a wonder. All those endowed with that determination of phenomena have purified minds and unclouded intentions—this is the wonder of mind-reading. "That determination of phenomena should be cultivated thus, developed thus, made abundant thus, and mindfulness should be established in conformity with it"—this is the wonder of instruction.
Sự xác định các pháp được thành tựu, vì vậy là thần thông. Loại trừ được hoài nghi, vì vậy là thần biến. Những vị nào được thành tựu với sự xác định các pháp ấy, tất cả các vị ấy có tâm thanh tịnh, có tư duy không vẩn đục, vì vậy là tha tâm thần biến. ‘Lại nữa, sự xác định các pháp ấy nên được thực hành như thế này, nên được tu tập như thế này, nên được làm cho sung mãn như thế này, nên an lập niệm tương ứng với pháp ấy như thế này,’ vì vậy là giáo giới thần biến.
Ñāṇaṃ ijjhatīti – iddhi. Avijjaṃ paṭiharatīti – pāṭihāriyaṃ. Ye tena ñāṇena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti – ādesanāpāṭihāriyaṃ. ‘‘Taṃ kho pana ñāṇaṃ evaṃ āsevitabbaṃ, evaṃ bhāvetabbaṃ, evaṃ bahulīkātabbaṃ, evaṃ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā’’ti – anusāsanīpāṭihāriyaṃ.
Knowledge is accomplished—this is power. It wards off ignorance—this is a wonder. All those endowed with that knowledge have purified minds and unclouded intentions—this is the wonder of mind-reading. "That knowledge should be cultivated thus, developed thus, made abundant thus, and mindfulness should be established in conformity with it"—this is the wonder of instruction.
Trí tuệ được thành tựu, vì vậy là thần thông. Loại trừ được vô minh, vì vậy là thần biến. Những vị nào được thành tựu với trí tuệ ấy, tất cả các vị ấy có tâm thanh tịnh, có tư duy không vẩn đục, vì vậy là tha tâm thần biến. ‘Lại nữa, trí tuệ ấy nên được thực hành như thế này, nên được tu tập như thế này, nên được làm cho sung mãn như thế này, nên an lập niệm tương ứng với pháp ấy như thế này,’ vì vậy là giáo giới thần biến.
Pāmojjaṃ ijjhatīti – iddhi. Aratiṃ paṭiharatīti – pāṭihāriyaṃ. Ye tena pāmojjena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti – ādesanāpāṭihāriyaṃ. ‘‘Taṃ kho pana pāmojjaṃ evaṃ āsevitabbaṃ, evaṃ bhāvetabbaṃ, evaṃ bahulīkātabbaṃ, evaṃ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā’’ti – anusāsanīpāṭihāriyaṃ…pe….
Joy is accomplished—this is power. It wards off discontent—this is a wonder. All those endowed with that joy have purified minds and unclouded intentions—this is the wonder of mind-reading. "That joy should be cultivated thus, developed thus, made abundant thus, and mindfulness should be established in conformity with it"—this is the wonder of instruction [...].
Sự hân hoan được thành tựu, vì vậy là thần thông. Loại trừ được sự không hoan hỷ, vì vậy là thần biến. Những vị nào được thành tựu với sự hân hoan ấy, tất cả các vị ấy có tâm thanh tịnh, có tư duy không vẩn đục, vì vậy là tha tâm thần biến. ‘Lại nữa, sự hân hoan ấy nên được thực hành như thế này, nên được tu tập như thế này, nên được làm cho sung mãn như thế này, nên an lập niệm tương ứng với pháp ấy như thế này,’ vì vậy là giáo giới thần biến. … vân vân ….
Paṭhamaṃ jhānaṃ ijjhatīti – iddhi. Nīvaraṇe paṭiharatīti – pāṭihāriyaṃ. Ye tena paṭhamena jhānena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti – ādesanāpāṭihāriyaṃ. ‘‘Taṃ kho pana paṭhamaṃ jhānaṃ evaṃ āsevitabbaṃ, evaṃ bhāvetabbaṃ, evaṃ bahulīkātabbaṃ, evaṃ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā’’ti – anusāsanīpāṭihāriyaṃ…pe….
The first jhāna is accomplished—this is power. It wards off the hindrances—this is a wonder. All those endowed with that first jhāna have purified minds and unagitated intentions—this is the wonder of mind-reading. 'That first jhāna should be cultivated thus, developed thus, made abundant thus, and mindfulness that is in conformity with it should be established'—this is the wonder of instruction [...].
Sơ thiền được thành tựu, vì vậy là thần thông. Loại trừ được các triền cái, vì vậy là thần biến. Những vị nào được thành tựu với sơ thiền ấy, tất cả các vị ấy có tâm thanh tịnh, có tư duy không vẩn đục, vì vậy là tha tâm thần biến. ‘Lại nữa, sơ thiền ấy nên được thực hành như thế này, nên được tu tập như thế này, nên được làm cho sung mãn như thế này, nên an lập niệm tương ứng với pháp ấy như thế này,’ vì vậy là giáo giới thần biến. … vân vân ….
Arahattamaggo ijjhatīti – iddhi. Sabbakilese paṭiharatīti – pāṭihāriyaṃ. Ye tena arahattamaggena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti – ādesanāpāṭihāriyaṃ. ‘‘So kho pana arahattamaggo evaṃ āsevitabbo, evaṃ bhāvetabbo, evaṃ bahulīkātabbo, evaṃ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā’’ti – anusāsanīpāṭihāriyaṃ.
The path of arahantship is accomplished—this is power. It wards off all defilements—this is a wonder. All those endowed with that path of arahantship have purified minds and unagitated intentions—this is the wonder of mind-reading. 'That path of arahantship should be cultivated thus, developed thus, made abundant thus, and mindfulness that is in conformity with it should be established'—this is the wonder of instruction.
A-la-hán đạo được thành tựu, vì vậy là thần thông. Loại trừ được tất cả phiền não, vì vậy là thần biến. Những vị nào được thành tựu với A-la-hán đạo ấy, tất cả các vị ấy có tâm thanh tịnh, có tư duy không vẩn đục, vì vậy là tha tâm thần biến. ‘Lại nữa, A-la-hán đạo ấy nên được thực hành như thế này, nên được tu tập như thế này, nên được làm cho sung mãn như thế này, nên an lập niệm tương ứng với pháp ấy như thế này,’ vì vậy là giáo giới thần biến.
32. Nekkhammaṃ ijjhatīti – iddhi. Kāmacchandaṃ paṭiharatīti – pāṭihāriyaṃ. Yā ca iddhi yañca pāṭihāriyaṃ, idaṃ vuccati iddhipāṭihāriyaṃ. Abyāpādo ijjhatīti – iddhi. Byāpādaṃ paṭiharatīti – pāṭihāriyaṃ. Yā ca iddhi yañca pāṭihāriyaṃ, idaṃ vuccati iddhipāṭihāriyaṃ. Ālokasaññā ijjhatīti – iddhi. Thinamiddhaṃ paṭiharatīti – pāṭihāriyaṃ…pe… arahattamaggo ijjhatīti – iddhi. Sabbakilese paṭiharatīti – pāṭihāriyaṃ. Yā ca iddhi yañca pāṭihāriyaṃ, idaṃ vuccati iddhipāṭihāriyanti.
32. Renunciation is accomplished—this is power. It wards off sensual desire—this is a wonder. Both that which is power and that which is a wonder, this is called the wonder of power. Non-ill will is accomplished—this is power. It wards off ill will—this is a wonder. Both that which is power and that which is a wonder, this is called the wonder of power. The perception of light is accomplished—this is power. It wards off sloth and torpor—this is a wonder [...]. The path of arahantship is accomplished—this is power. It wards off all defilements—this is a wonder. Both that which is power and that which is a wonder, this is called the wonder of power.
32. Sự xuất ly được thành tựu, vì vậy là thần thông. Loại trừ được dục tham, vì vậy là thần biến. Thần thông nào và thần biến nào, điều này được gọi là thần thông thần biến. Vô sân được thành tựu, vì vậy là thần thông. Loại trừ được sân, vì vậy là thần biến. Thần thông nào và thần biến nào, điều này được gọi là thần thông thần biến. Quang tưởng được thành tựu, vì vậy là thần thông. Loại trừ được hôn trầm thụy miên, vì vậy là thần biến. … vân vân … A-la-hán đạo được thành tựu, vì vậy là thần thông. Loại trừ được tất cả phiền não, vì vậy là thần biến. Thần thông nào và thần biến nào, điều này được gọi là thần thông thần biến.
Pāṭihāriyakathā niṭṭhitā.
The Discourse on Wonders is concluded.
Phần luận về thần biến đã kết thúc.