Bản dịch
PS 3.5 — Giảng về Hành Vi
3.5. Cariyākathā
Hành vi: Có tám hành vi: hành vi của oai nghi, hành vi của xứ, hành vi của niệm, hành vi của định, hành vi của trí, hành vi của Đạo, hành vi của sự đạt đến, và hành vi vì lợi ích của thế gian.
Hành vi của oai nghi: liên quan đến bốn oai nghi.
Hành vi của xứ: liên quan đến sáu nội ngoại xứ.
Hành vi của niệm: liên quan đến bốn sự thiết lập niệm.
Hành vi của định: liên quan đến bốn thiền.
Hành vi của trí: liên quan đến bốn Chân Lý cao thượng.
Hành vi của Đạo: liên quan đến bốn Thánh Đạo.
Hành vi của sự đạt đến: liên quan đến bốn Quả vị Sa-môn.
Hành vi vì lợi ích của thế gian: liên quan đến các đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác, liên quan một phần đến các vị Phật Độc Giác, liên quan một phần đến các vị Thinh Văn.
Hành vi của oai nghi là của các vị đã thành tựu ước nguyện. Hành vi của xứ là của các vị có sự hộ trì các căn. Hành vi của niệm là của các vị an trú vào sự không buông lung. Hành vi của định là của các vị gắn bó vào thắng tâm. Hành vi của trí là của các vị đã thành tựu sự giác ngộ. Hành vi của Đạo là của các vị thực hành đúng đắn. Hành vi của sự đạt đến là thuộc về các Quả đã được chứng đạt. Hành vi vì lợi ích của thế gian là của các đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác, là của các vị Phật Độc Giác một phần, là của các vị Thinh Văn một phần. Đây là tám hành vi.
Có tám hành vi khác nữa: Trong khi cương quyết là hành xử với tín, trong khi ra sức là hành xử với tấn, trong khi thiết lập là hành xử với niệm, trong khi hành động không tản mạn là hành xử với định, trong khi là nhận biết là hành xử với tuệ, trong khi nhận thức là hành xử với thức. ‘Ở vị thực hành như thế, các thiện pháp được thể hiện’ là hành xử với hành vi của xứ. ‘Vị thực hành như thế đạt đến sự thù thắng’ là hành xử với hành vi của sự thù thắng. Đây là tám hành vi.
Có tám hành vi khác nữa: Hành vi nhận thấy của chánh kiến, hành vi gắn chặt (tâm vào cảnh) của chánh tư duy, hành vi gìn giữ của chánh ngữ, hành vi nguồn sanh khởi của chánh nghiệp, hành vi trong sạch của chánh mạng, hành vi ra sức của chánh tinh tấn, hành vi thiết lập của chánh niệm, hành vi không tản mạn của chánh định. Đây là tám hành vi.
Phần Giảng về Hành Vi được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Careti aṭṭha cariyāyo – iriyāpathacariyā, āyatanacariyā, saticariyā, samādhicariyā, ñāṇacariyā, maggacariyā, patticariyā, lokatthacariyā. Iriyāpathacariyāti catūsu iriyāpathesu. Āyatanacariyāti chasu ajjhattikabāhiresu āyatanesu. Saticariyāti catūsu satipaṭṭhānesu. Samādhicariyāti catūsu jhānesu. Ñāṇacariyāti catūsu ariyasaccesu. Maggacariyāti catūsu ariyamaggesu. Patticariyāti catūsu sāmaññaphalesu. Lokatthacariyāti tathāgatesu arahantesu sammāsambuddhesu padesato paccekasambuddhesu padesato sāvakesu. Iriyāpathacariyā ca paṇidhisampannānaṃ, āyatanacariyā ca indriyesu guttadvārānaṃ, saticariyā ca appamādavihārīnaṃ, samādhicariyā ca adhicittamanuyuttānaṃ, ñāṇacariyā ca buddhisampannānaṃ, maggacariyā ca sammāpaṭipannānaṃ, patticariyā ca adhigataphalānaṃ, lokatthacariyā ca tathāgatānaṃ arahantānaṃ sammāsambuddhānaṃ padesato paccekabuddhānaṃ padesato sāvakānaṃ. Imā aṭṭha cariyāyo. Aparāpi aṭṭha cariyāyo – adhimuccanto saddhāya carati, paggaṇhanto vīriyena carati, upaṭṭhapento satiyā carati, avikkhepaṃ karonto samādhinā carati, pajānanto paññāya carati, vijānanto viññāṇacariyāya carati. Evaṃ paṭipannassa kusalā dhammā āyāpentīti – āyatanacariyāya carati. Evaṃ paṭipanno visesamadhigacchatīti – visesacariyāya carati. Imā aṭṭha cariyāyo.
He practices eight modes of conduct: conduct in regard to postures, conduct in regard to the sense bases, conduct in regard to mindfulness, conduct in regard to concentration, conduct in regard to knowledge, conduct in regard to the path, conduct in regard to attainment, and conduct for the welfare of the world. Conduct in regard to postures refers to the four postures. Conduct in regard to the sense bases refers to the six internal and external sense bases. Conduct in regard to mindfulness refers to the four foundations of mindfulness. Conduct in regard to concentration refers to the four jhānas. Conduct in regard to knowledge refers to the four noble truths. Conduct in regard to the path refers to the four noble paths. Conduct in regard to attainment refers to the four fruits of the contemplative life. Conduct for the welfare of the world refers to the Tathāgatas, Arahants, and Perfectly Enlightened Ones; in part, to the paccekabuddhas; and in part, to the disciples. Conduct in regard to postures is for those accomplished in serene establishment, conduct in regard to the sense bases is for those who guard the doors of their faculties, conduct in regard to mindfulness is for those who dwell heedfully, conduct in regard to concentration is for those devoted to the higher mind, conduct in regard to knowledge is for those endowed with the wisdom of change-of-lineage, conduct in regard to the path is for those rightly practicing, conduct in regard to attainment is for those who have realized the fruits, and conduct for the welfare of the world is for the Tathāgatas, Arahants, and Perfectly Enlightened Ones; in part, for the paccekabuddhas; and in part, for the disciples. These are the eight modes of conduct. There are another eight modes of conduct: resolving, one practices with faith; exerting, one practices with energy; establishing, one practices with mindfulness; bringing about non-distraction, one practices with concentration; understanding, one practices with wisdom; discerning, one practices with the conduct of consciousness. For one who practices thus, wholesome states accrue; this is the conduct of accrual. One who practices thus attains distinction; this is the conduct for distinction. These are the eight modes of conduct.
‘Nên đi’ (care) (nghĩa là) có tám hạnh: oai nghi hạnh, xứ hạnh, niệm hạnh, định hạnh, tuệ hạnh, đạo hạnh, chứng đắc hạnh, và thế gian lợi ích hạnh. Oai nghi hạnh là ở trong bốn oai nghi. Xứ hạnh là ở trong sáu xứ nội và ngoại. Niệm hạnh là ở trong bốn niệm xứ. Định hạnh là ở trong bốn thiền. Tuệ hạnh là ở trong bốn Thánh đế. Đạo hạnh là ở trong bốn Thánh đạo. Chứng đắc hạnh là ở trong bốn quả Sa-môn. Thế gian lợi ích hạnh là ở nơi các bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác; một phần ở nơi các vị Phật Độc Giác; một phần ở nơi các vị Thinh Văn. Và oai nghi hạnh là của những vị có nguyện đầy đủ, xứ hạnh là của những vị có các căn được hộ trì, niệm hạnh là của những vị sống không dể duôi, định hạnh là của những vị chuyên tâm vào tăng thượng tâm, tuệ hạnh là của những vị có trí tuệ đầy đủ, đạo hạnh là của những vị thực hành đúng đắn, chứng đắc hạnh là của những vị đã chứng đắc quả, thế gian lợi ích hạnh là của các bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác; một phần ở nơi các vị Phật Độc Giác; một phần ở nơi các vị Thinh Văn. Đây là tám hạnh. Lại nữa, có tám hạnh khác: người có lòng tin đi với tín, người tinh tấn đi với cần, người an trú niệm đi với niệm, người thực hành không tán loạn đi với định, người có trí tuệ đi với tuệ, người có sự hiểu biết đi với thức hạnh. Đối với người thực hành như vậy, các thiện pháp tăng trưởng, vì thế (gọi là) đi với xứ hạnh. Người thực hành như vậy đạt đến sự thù thắng, vì thế (gọi là) đi với thù thắng hạnh. Đây là tám hạnh.
Aparāpi aṭṭha cariyāyo – dassanacariyā ca sammādiṭṭhiyā, abhiropanacariyā ca sammāsaṅkappassa, pariggahacariyā ca sammāvācāya, samuṭṭhānacariyā ca sammākammantassa, vodānacariyā ca sammāājīvassa, paggahacariyā ca sammāvāyāmassa, upaṭṭhānacariyā ca sammāsatiyā, avikkhepacariyā ca sammāsamādhissa. Imā aṭṭha cariyāyo.
There are another eight modes of conduct: the conduct of seeing of right view, the conduct of applying the mind of right intention, the conduct of embracing of right speech, the conduct of originating of right action, the conduct of cleansing of right livelihood, the conduct of exerting of right effort, the conduct of establishing of right mindfulness, and the conduct of non-distraction of right concentration. These are the eight modes of conduct.
Lại nữa, có tám hạnh khác: kiến hạnh của chánh kiến, hướng tâm hạnh của chánh tư duy, thu thúc hạnh của chánh ngữ, phát khởi hạnh của chánh nghiệp, thanh tịnh hạnh của chánh mạng, sách tấn hạnh của chánh tinh tấn, an trú hạnh của chánh niệm, và bất loạn hạnh của chánh định. Đây là tám hạnh.