Bản dịch
PS 3.4 — Giảng về Sự Viễn Ly
3.4. Vivekakathā
[Duyên khởi ở Sāvatthī]
Này các tỳ khưu, cũng giống như bất cứ các hành động gì được thực hiện bằng sức lực tất cả các hành động ấy được thực hiện sau khi đã nương tựa vào trái đất, sau khi đã thiết lập ở trên trái đất; các hành động được thực hiện bằng sức lực này được thực hiện như vậy. Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế, sau khi nương tựa vào giới sau khi thiết lập ở giới, vị tỳ khưu tu tập Thánh Đạo tám chi phần, làm sung mãn Thánh Đạo tám chi phần.
Này các tỳ khưu, sau khi nương tựa vào giới sau khi thiết lập ở giới, vị tỳ khưu tu tập Thánh Đạo tám chi phần, làm sung mãn Thánh Đạo tám chi phần là (có ý nghĩa) thế nào? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu tu tập chánh kiến liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham ái, liên hệ đến diệt tận, có sự hướng đến xả ly; tu tập chánh tư duy … tu tập chánh ngữ … tu tập chánh nghiệp … tu tập chánh mạng … tu tập chánh tinh tấn … tu tập chánh niệm … tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham ái, liên hệ đến diệt tận, có sự hướng đến xả ly. Này các tỳ khưu, sau khi nương tựa vào giới sau khi thiết lập ở giới, vị tỳ khưu tu tập Thánh Đạo tám chi phần, làm sung mãn Thánh Đạo tám chi phần là (có ý nghĩa) như thế.
Này các tỳ khưu, cũng giống như bất cứ các hạt giống và các loài thảo mộc nào đạt được sự tăng trưởng, sự phát triển, sự tiến triển, tất cả các loài ấy (đạt được) sau khi đã nương tựa vào trái đất, sau khi đã thiết lập ở trên trái đất; các hạt giống và các loài thảo mộc này đạt được sự tăng trưởng, sự phát triển, sự tiến triển là như vậy. Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế, sau khi nương tựa vào giới, sau khi thiết lập ở giới, vị tỳ khưu trong khi tu tập Thánh Đạo tám chi phần, trong khi làm sung mãn Thánh Đạo tám chi phần, đạt được sự tăng trưởng, sự phát triển, sự tiến triển trong các pháp.
Này các tỳ khưu, sau khi nương tựa vào giới, sau khi thiết lập ở giới, vị tỳ khưu trong khi tu tập Thánh Đạo tám chi phần, trong khi làm sung mãn Thánh Đạo tám chi phần, đạt được sự tăng trưởng, sự phát triển, sự tiến triển trong các pháp là (có ý nghĩa) thế nào? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu tu tập chánh kiến liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham ái, liên hệ đến sự diệt tận, có sự hướng đến xả ly; tu tập chánh tư duy … tu tập chánh ngữ … tu tập chánh nghiệp … tu tập chánh mạng … tu tập chánh tinh tấn … tu tập chánh niệm … tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham ái, liên hệ đến sự diệt tận, có sự hướng đến xả ly. Này các tỳ khưu, sau khi nương tựa vào giới, sau khi thiết lập ở giới, vị tỳ khưu trong khi tu tập Thánh Đạo tám chi phần, trong khi làm sung mãn Thánh Đạo tám chi phần, đạt được sự tăng trưởng, sự phát triển, sự tiến triển trong các pháp là (có ý nghĩa) như thế.
Đối với chánh kiến, có năm sự viễn ly, năm sự ly tham ái, năm sự diệt tận, năm sự xả ly, mười hai sự liên hệ. Đối với chánh tư duy … Đối với chánh ngữ … Đối với chánh nghiệp … Đối với chánh mạng … Đối với chánh tinh tấn … Đối với chánh niệm … Đối với chánh định, có năm sự viễn ly, năm sự ly tham ái, năm sự diệt tận, năm sự xả ly, mười hai sự liên hệ.
Đối với chánh kiến, có năm sự viễn ly gì? Sự viễn ly do áp chế, sự viễn ly do thay thế, sự viễn ly do đoạn trừ, sự viễn ly do tịnh lặng, sự viễn ly do xuất ly. Và sự viễn ly do áp chế là đối với các pháp ngăn che ở vị đang tu tập sơ thiền, sự viễn ly do thay thế là đối với các khuynh hướng tà kiến ở vị đang tu tập định dự phần vào thông suốt, sự viễn ly do đoạn trừ là ở vị đang tu tập Đạo đưa đến đoạn tận (là Đạo) tối thượng ở đời, sự viễn ly do tịnh lặng là ở vào thời điểm của Quả, và sự viễn ly do xuất ly là sự diệt tận, Niết Bàn. Đối với chánh kiến, có năm sự viễn ly này. Ở năm sự viễn ly này, có ước muốn được sanh lên, đức tin được chú trọng, và tâm của vị ấy khéo được khẳng định.
Đối với chánh kiến, có năm sự ly tham ái gì? Sự ly tham ái do áp chế, sự ly tham ái do thay thế, sự ly tham ái do đoạn trừ, sự ly tham ái do tịnh lặng, sự ly tham ái do xuất ly. Và sự ly tham ái do áp chế là đối với các pháp ngăn che ở vị đang tu tập sơ thiền, sự ly tham ái do thay thế là đối với các khuynh hướng tà kiến ở vị đang tu tập định dự
phần vào thông suốt, sự ly tham ái do đoạn trừ là ở vị đang tu tập Đạo đưa đến đoạn tận (là Đạo) tối thượng ở đời, sự ly tham ái do tịnh lặng là ở vào thời điểm của Quả, và sự ly tham ái do xuất ly là sự diệt tận, Niết Bàn. Đối với chánh kiến, có năm sự ly tham ái này. Ở năm sự ly tham ái này, có ước muốn được sanh lên, đức tin được chú trọng, và tâm của vị ấy khéo được khẳng định.
Đối với chánh kiến, có năm sự diệt tận gì? Sự diệt tận do áp chế, sự diệt tận do thay thế, sự diệt tận do đoạn trừ, sự diệt tận do tịnh lặng, sự diệt tận do xuất ly. Và sự diệt tận do áp chế là đối với các pháp ngăn che ở vị đang tu tập sơ thiền, sự diệt tận do thay thế là đối với các khuynh hướng tà kiến ở vị đang tu tập định dự phần vào thông suốt, sự diệt tận do đoạn trừ là ở vị đang tu tập Đạo đưa đến đoạn tận (là Đạo) tối thượng ở đời, sự diệt tận do tĩnh lặng là ở vào thời điểm của Quả, và sự diệt tận do xuất ly là bản thể bất tử. Đối với chánh kiến, có năm sự diệt tận này. Ở năm sự diệt tận này, có ước muốn được sanh lên, đức tin được chú trọng, và tâm của vị ấy khéo được khẳng định.
Đối với chánh kiến, có năm sự xả ly gì? Sự xả ly do áp chế, sự xả ly do thay thế, sự xả ly do đoạn trừ, sự xả ly do tịnh lặng, sự xả ly do xuất ly. Và sự xả ly do áp chế là đối với các pháp ngăn che ở vị đang tu tập sơ thiền, sự xả ly do thay thế là đối với các khuynh hướng tà kiến ở vị đang tu tập định dự phần vào thông suốt, sự xả ly do đoạn trừ là ở vị đang tu tập Đạo đưa đến đoạn tận (là Đạo) tối thượng ở đời, sự xả ly do tĩnh lặng là ở vào thời điểm của Quả, và sự xả ly do xuất ly là sự diệt tận, Niết Bàn. Đối với chánh kiến, có năm sự xả ly này. Ở năm sự xả ly này, có ước muốn được sanh lên, đức tin được chú trọng, và tâm của vị ấy khéo được khẳng định. Đối với chánh kiến, có năm sự viễn ly, năm sự ly tham ái, năm sự diệt tận, năm sự xả ly, mười hai sự liên hệ này.
Đối với chánh tư duy … Đối với chánh ngữ … Đối với chánh nghiệp … Đối với chánh mạng … Đối với chánh tinh tấn … Đối với chánh niệm … Đối với chánh định, có năm sự viễn ly gì? Sự viễn ly do áp chế, sự viễn ly do thay thế, sự viễn ly do đoạn trừ, sự viễn ly do tịnh lặng, sự viễn ly do xuất ly. Và sự viễn ly do áp chế là đối với các pháp ngăn che ở vị đang tu tập sơ thiền, sự viễn ly do thay thế là đối với các khuynh hướng tà kiến ở vị đang tu tập định dự phần vào thông suốt, sự viễn ly do đoạn trừ là ở vị đang tu tập Đạo đưa đến đoạn tận (là Đạo) tối thượng ở đời, sự viễn ly do tĩnh lặng là ở vào thời điểm của Quả, và sự viễn ly do xuất ly là sự diệt tận, Niết Bàn. Đối với chánh định, có năm sự viễn ly này. Ở năm sự viễn ly này, có ước muốn được sanh lên, đức tin được chú trọng, và tâm của vị ấy khéo được khẳng định.
Đối với chánh định, có năm sự ly tham ái gì? Sự ly tham ái do áp chế, sự ly tham ái do thay thế, sự ly tham ái do đoạn trừ, sự ly tham ái do tịnh lặng, sự ly tham ái do xuất ly. Và sự ly tham ái do áp chế là đối với các pháp ngăn che ở vị đang tu tập sơ thiền, sự ly tham ái do thay thế là đối với các khuynh hướng tà kiến ở vị đang tu tập định dự phần vào thông suốt, sự ly tham ái do đoạn trừ là ở vị đang tu tập Đạo đưa đến đoạn tận (là Đạo) tối thượng ở đời, sự ly tham ái do tĩnh lặng là ở vào thời điểm của Quả, và sự ly tham ái do xuất ly là sự diệt tận, Niết Bàn. Đối với chánh định, có năm sự ly tham ái này. Ở năm sự ly tham ái này, có ước muốn được sanh lên, đức tin được chú trọng, và tâm của vị ấy khéo được khẳng định.
Đối với chánh định, có năm sự diệt tận gì? Sự diệt tận do áp chế, sự diệt tận do thay thế, sự diệt tận do đoạn trừ, sự diệt tận do tịnh lặng, sự diệt tận do xuất ly. Và sự diệt tận do áp chế là đối với các pháp ngăn che ở vị đang tu tập sơ thiền, sự diệt tận do thay thế là đối với các khuynh hướng tà kiến ở vị đang tu tập định dự phần vào thông suốt, sự diệt tận do đoạn trừ là ở vị đang tu tập Đạo đưa đến đoạn tận (là Đạo) tối thượng ở đời, sự diệt tận do tĩnh lặng là ở vào thời điểm của Quả, và sự diệt tận do xuất ly là bản thể bất tử. Đối với chánh định, có năm sự diệt tận này. Ở năm sự diệt tận này, có ước muốn được sanh lên, đức tin được chú trọng, và tâm của vị ấy khéo được khẳng định.
Đối với chánh định, có 5 sự xả ly gì? Sự xả ly do áp chế, sự xả ly do thay thế, sự xả ly do đoạn trừ, sự xả ly do tịnh lặng, sự xả ly do xuất ly. Và sự xả ly do áp chế là đối với các pháp ngăn che ở vị đang tu tập sơ thiền, sự xả ly do thay thế là đối với các khuynh hướng tà kiến ở vị đang tu tập định dự phần vào thông suốt, sự xả ly do đoạn trừ là ở vị đang tu tập Đạo đưa đến đoạn tận (là Đạo) tối thượng ở đời, sự xả ly do tĩnh lặng là ở vào thời điểm của Quả, và sự xả ly do xuất ly là sự diệt tận, Niết Bàn. Đối với chánh định, có 5 sự xả ly này. Ở 5 sự xả ly này, có ước muốn được sanh lên, đức tin được chú trọng, và tâm của vị ấy khéo được khẳng định. Đối với chánh định, có 5 sự viễn ly, 5 sự ly tham ái, 5 sự diệt tận, 5 sự xả ly, 12 sự liên hệ này.
Này các tỳ khưu, cũng giống như bất cứ các hành động gì được thực hiện bằng sức lực tất cả các hành động ấy đều được thực hiện sau khi đã nương tựa vào trái đất, sau khi đã thiết lập ở trên trái đất; các hành động được thực hiện bằng sức lực này đều được thực hiện như vậy. Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế, sau khi nương tựa vào giới, sau khi thiết lập ở giới, vị tỳ khưu tu tập bảy giác chi, làm sung mãn bảy giác chi. …(nt)… trong khi tu tập bảy giác chi, trong khi làm sung mãn bảy giác chi, đạt được sự tăng trưởng, sự phát triển, sự tiến triển trong các pháp. …(nt)… tu tập năm lực, làm sung mãn năm lực …(nt)… trong khi tu tập năm lực, trong khi làm sung mãn năm lực, đạt được sự tăng trưởng, sự phát triển, sự tiến triển trong các pháp. …(nt)… tu tập năm quyền, làm sung mãn năm quyền …(nt)…
Này các tỳ khưu, cũng giống như bất cứ các hạt giống và các loài thảo mộc nào đạt được sự tăng trưởng, sự phát triển, sự tiến triển, tất cả các loài ấy (đạt được) sau khi đã nương tựa vào trái đất, sau khi đã thiết lập ở trên trái đất; các hạt giống và các loài thảo mộc này đạt được sự tăng trưởng, sự phát triển, sự tiến triển là như vậy. Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế, sau khi nương tựa vào giới, sau khi thiết lập ở giới, vị tỳ khưu trong khi tu tập năm quyền, trong khi làm sung mãn năm quyền, đạt được sự tăng trưởng, sự phát triển, sự tiến triển trong các pháp.
Này các tỳ khưu, sau khi nương tựa vào giới, sau khi thiết lập ở giới, vị tỳ khưu trong khi tu tập năm quyền, trong khi làm sung mãn năm quyền, đạt được sự tăng trưởng, sự phát triển, sự tiến triển trong các pháp là (có ý nghĩa) thế nào? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu tu tập tín quyền liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham ái, liên hệ đến sự diệt tận, có sự hướng đến xả ly; tu tập tấn quyền … tu tập niệm quyền … tu tập định quyền … tu tập tuệ quyền liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham ái, liên hệ đến sự diệt tận, có sự hướng đến xả ly. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu, sau khi nương tựa vào giới …(như trên)… đạt được sự tăng trưởng, sự phát triển, sự tiến triển trong các pháp là (có ý nghĩa) như thế.
Đối với tín quyền, có năm sự viễn ly, năm sự ly tham ái, năm sự diệt tận, năm sự xả ly, mười hai sự liên hệ. Đối với tấn quyền … Đối với niệm quyền … Đối với định quyền … Đối với tuệ quyền, có năm sự viễn ly, năm sự ly tham ái, năm sự diệt tận, năm sự xả ly, mười hai sự liên hệ.
Đối với tín quyền, có năm sự viễn ly gì? Sự viễn ly do áp chế, sự viễn ly do thay thế, sự viễn ly do đoạn trừ, sự viễn ly do tịnh lặng, sự viễn ly do xuất ly. Và sự viễn ly do áp chế là đối với các pháp ngăn che ở vị đang tu tập sơ thiền, sự viễn ly do thay thế là đối với các khuynh hướng tà kiến ở vị đang tu tập định dự phần vào thông suốt, sự viễn ly do đoạn trừ là ở vị đang tu tập Đạo đưa đến đoạn tận (là Đạo) tối thượng ở đời, sự viễn ly do tĩnh lặng là ở vào thời điểm của Quả, và sự viễn ly do xuất ly là sự diệt tận, Niết Bàn. Đối với tín quyền, có năm sự viễn ly này. Ở năm sự viễn ly này, có ước muốn được sanh lên, đức tin được chú trọng, và tâm của vị ấy khéo được khẳng định. …(như trên)… Đối với tín quyền, có năm sự viễn ly, năm sự ly tham ái, năm sự diệt tận, năm sự xả ly, mười hai sự liên hệ này.
Đối với tấn quyền … Đối với niệm quyền … Đối với định quyền … Đối với tuệ quyền, có năm sự viễn ly gì? Sự viễn ly do áp chế, sự viễn ly do thay thế, sự viễn ly do đoạn trừ, sự viễn ly do tịnh lặng, sự viễn ly do xuất ly. …(nt)… Đối với tuệ quyền, có năm sự viễn ly, năm sự ly tham ái, năm sự diệt tận, năm sự xả ly, mười hai sự liên hệ này.
Phần Giảng về sự Viễn Ly được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāveti, ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bahulīkaroti? Idha, bhikkhave, bhikkhu sammādiṭṭhiṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. Sammāsaṅkappaṃ…pe… sammāvācaṃ… sammākammantaṃ… sammāājīvaṃ… sammāvāyāmaṃ… sammāsatiṃ… sammāsamādhiṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. Evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāveti, ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bahulīkaroti.
“And how, bhikkhus, does a bhikkhu, relying on virtue, established upon virtue, develop the Noble Eightfold Path and cultivate the Noble Eightfold Path? Here, bhikkhus, a bhikkhu develops right view, which is based on seclusion, based on dispassion, based on cessation, culminating in relinquishment. He develops right intention... and so on... right concentration, which is based on seclusion, based on dispassion, based on cessation, culminating in relinquishment. In this way, bhikkhus, a bhikkhu, relying on virtue, established upon virtue, develops the Noble Eightfold Path and cultivates the Noble Eightfold Path.”
Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu nương vào giới, an trú trong giới, tu tập Thánh đạo Tám ngành, thực hành nhiều lần Thánh đạo Tám ngành? Này các Tỳ khưu, ở đây vị Tỳ khưu tu tập chánh kiến nương vào sự an tịnh, nương vào sự ly tham, nương vào sự đoạn diệt, hướng đến sự xả ly. Chánh tư duy ... chánh ngữ ... chánh nghiệp ... chánh mạng ... chánh tinh tấn ... chánh niệm ... vị ấy tu tập chánh định nương vào sự an tịnh, nương vào sự ly tham, nương vào sự đoạn diệt, hướng đến sự xả ly. Này các Tỳ khưu, chính là như vậy vị Tỳ khưu nương vào giới, an trú trong giới, tu tập Thánh đạo Tám ngành, thực hành nhiều lần Thánh đạo Tám ngành.
23. ‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, ye keci † bījagāmabhūtagāmā vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjanti, sabbe te pathaviṃ nissāya pathaviyaṃ patiṭṭhāya evamete bījagāmabhūtagāmā vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjanti; evamevaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāvento ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bahulīkaronto vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ pāpuṇāti dhammesu.
23. “Just as, bhikkhus, whatever seeds and plants achieve growth, increase, and abundance, all these achieve it relying on the earth, established upon the earth; so too, bhikkhus, a bhikkhu, relying on virtue, established upon virtue, developing the Noble Eightfold Path, cultivating the Noble Eightfold Path, attains growth, increase, and abundance in wholesome states.”
23. Này các Tỳ khưu, ví như bất cứ loại hạt giống và cây cối nào đạt đến sự tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh, tất cả chúng đều nương vào đất, đứng trên đất mà các loại hạt giống và cây cối ấy đạt đến sự tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh. Tương tự y như thế, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nương vào giới, an trú trong giới, trong khi tu tập Thánh đạo Tám ngành, trong khi thực hành nhiều lần Thánh đạo Tám ngành, vị ấy đạt đến sự tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh ở trong các pháp.
‘‘Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāvento ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bahulīkaronto vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ pāpuṇāti dhammesu? Idha, bhikkhave, bhikkhu sammādiṭṭhiṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. Sammāsaṅkappaṃ bhāveti…pe… sammāvācaṃ bhāveti… sammākammantaṃ bhāveti… sammāājīvaṃ bhāveti… sammāvāyāmaṃ bhāveti… sammāsatiṃ bhāveti… sammāsamādhiṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. Evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāvento ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bahulīkaronto vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ pāpuṇāti dhammesū’’ti.
“And how, bhikkhus, does a bhikkhu, relying on virtue, established in virtue, developing the Noble Eightfold Path, cultivating the Noble Eightfold Path, attain growth, increase, and abundance in wholesome states? Here, bhikkhus, a bhikkhu develops right view that is based on seclusion, based on dispassion, based on cessation, and culminates in relinquishment. He develops right intention… and so on… he develops right concentration that is based on seclusion, based on dispassion, based on cessation, and culminates in relinquishment. In this way, bhikkhus, a bhikkhu, relying on virtue, established in virtue, developing the Noble Eightfold Path, cultivating the Noble Eightfold Path, attains growth, increase, and abundance in wholesome states.”
Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu nương vào giới, an trú trong giới, trong khi tu tập Thánh đạo Tám ngành, trong khi thực hành nhiều lần Thánh đạo Tám ngành, vị ấy đạt đến sự tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh ở trong các pháp? Này các Tỳ khưu, ở đây vị Tỳ khưu tu tập chánh kiến nương vào sự an tịnh, nương vào sự ly tham, nương vào sự đoạn diệt, hướng đến sự xả ly. Vị ấy tu tập chánh tư duy ... vị ấy tu tập chánh ngữ ... vị ấy tu tập chánh nghiệp ... vị ấy tu tập chánh mạng ... vị ấy tu tập chánh tinh tấn ... vị ấy tu tập chánh niệm ... vị ấy tu tập chánh định nương vào sự an tịnh, nương vào sự ly tham, nương vào sự đoạn diệt, hướng đến sự xả ly. Này các Tỳ khưu, chính là như vậy vị Tỳ khưu nương vào giới, an trú trong giới, trong khi tu tập Thánh đạo Tám ngành, trong khi thực hành nhiều lần Thánh đạo Tám ngành, vị ấy đạt đến sự tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh ở trong các pháp.
1. Maggaṅganiddeso
1. Exposition of the Path Factors
1. Phần Giải Thích Về Các Chi Đạo
24. Sammādiṭṭhiyā pañca vivekā, pañca virāgā, pañca nirodhā, pañca vossaggā, dvādasa nissayā. Sammāsaṅkappassa…pe… sammāvācāya… sammākammantassa… sammāājīvassa… sammāvāyāmassa… sammāsatiyā… sammāsamādhissa pañca vivekā, pañca virāgā, pañca nirodhā, pañca vossaggā, dvādasa nissayā.
24. For right view there are five seclusions, five dispassions, five cessations, five relinquishments, and twelve supports. For right intention… and so on… for right concentration there are five seclusions, five dispassions, five cessations, five relinquishments, and twelve supports.
24. Đối với chánh kiến có năm sự an tịnh, năm sự ly tham, năm sự đoạn diệt, năm sự xả ly, mười hai sự nương tựa. Đối với chánh tư duy ... đối với chánh ngữ ... đối với chánh nghiệp ... đối với chánh mạng ... đối với chánh tinh tấn ... đối với chánh niệm ... đối với chánh định có năm sự an tịnh, năm sự ly tham, năm sự đoạn diệt, năm sự xả ly, mười hai sự nương tựa.
Sammādiṭṭhiyā katame pañca vivekā? Vikkhambhanaviveko, tadaṅgaviveko samucchedaviveko, paṭippassaddhiviveko, nissaraṇaviveko. Vikkhambhanaviveko ca nīvaraṇānaṃ paṭhamajjhānaṃ bhāvayato, tadaṅgaviveko ca diṭṭhigatānaṃ nibbedhabhāgiyaṃ samādhiṃ bhāvayato, samucchedaviveko ca lokuttaraṃ khayagāmimaggaṃ bhāvayato, paṭippassaddhiviveko ca phalakkhaṇe, nissaraṇaviveko ca nirodho nibbānaṃ. Sammādiṭṭhiyā ime pañca vivekā. Imesu pañcasu vivekesu chandajāto hoti saddhādhimutto, cittañcassa svādhiṭṭhitaṃ.
What are the five seclusions for right view? Seclusion by suppression, seclusion by substitution of opposites, seclusion by cutting off, seclusion by tranquilization, and seclusion by escape. Seclusion by suppression is of the hindrances for one who develops the first jhāna. Seclusion by substitution of opposites is of wrong views for one who develops concentration pertaining to penetration. Seclusion by cutting off is for one who develops the supramundane path leading to destruction. Seclusion by tranquilization is at the moment of fruition. Seclusion by escape is cessation, Nibbāna. These are the five seclusions for right view. In these five seclusions, desire is born, one is resolved by faith, and one’s mind is well established.
Năm loại viễn ly của chánh kiến là những gì? Trấn phục viễn ly, bỉ phần viễn ly, đoạn diệt viễn ly, an tịnh viễn ly, xuất ly viễn ly. Trấn phục viễn ly đối với các triền cái của người tu tập sơ thiền, bỉ phần viễn ly đối với các tà kiến của người tu tập định thuộc phần nhàm chán, đoạn diệt viễn ly của người tu tập đạo siêu thế đưa đến sự đoạn tận, an tịnh viễn ly ở trong sát-na quả, và xuất ly viễn ly là sự diệt, là Níp-bàn. Đây là năm loại viễn ly của chánh kiến. Ở trong năm loại viễn ly này, người ấy có dục được sanh khởi, được giải thoát bằng đức tin, và tâm của người ấy được khéo an trú.
Sammādiṭṭhiyā katame pañca virāgā? Vikkhambhanavirāgo, tadaṅgavirāgo, samucchedavirāgo, paṭippassaddhivirāgo, nissaraṇavirāgo. Vikkhambhanavirāgo ca nīvaraṇānaṃ paṭhamajjhānaṃ bhāvayato, tadaṅgavirāgo ca diṭṭhigatānaṃ nibbedhabhāgiyaṃ samādhiṃ bhāvayato, samucchedavirāgo ca lokuttaraṃ khayagāmimaggaṃ bhāvayato, paṭippassaddhivirāgo ca phalakkhaṇe, nissaraṇavirāgo ca nirodho nibbānaṃ. Sammādiṭṭhiyā ime pañca virāgā. Imesu pañcasu virāgesu chandajāto hoti saddhādhimutto, cittañcassa svādhiṭṭhitaṃ.
What are the five dispassions of right view? Dispassion by suppression, dispassion by substitution, dispassion by cutting off, dispassion by tranquilization, and dispassion by escape. For one who develops the first jhāna, there is dispassion by suppression of the hindrances; for one who develops concentration partaking of penetration regarding wrong views, there is dispassion by substitution; for one who develops the supramundane path leading to destruction, there is dispassion by cutting off; at the moment of fruition, there is dispassion by tranquilization; and dispassion by escape is cessation, Nibbāna. These are the five dispassions of right view. In these five dispassions, desire is born, one is resolved by faith, and one’s mind is well established.
Năm loại ly tham của chánh kiến là những gì? Trấn phục ly tham, bỉ phần ly tham, đoạn diệt ly tham, an tịnh ly tham, xuất ly ly tham. Trấn phục ly tham đối với các triền cái của người tu tập sơ thiền, bỉ phần ly tham đối với các tà kiến của người tu tập định thuộc phần nhàm chán, đoạn diệt ly tham của người tu tập đạo siêu thế đưa đến sự đoạn tận, an tịnh ly tham ở trong sát-na quả, và xuất ly ly tham là sự diệt, là Níp-bàn. Đây là năm loại ly tham của chánh kiến. Ở trong năm loại ly tham này, người ấy có dục được sanh khởi, được giải thoát bằng đức tin, và tâm của người ấy được khéo an trú.
Sammādiṭṭhiyā katame pañca nirodhā? Vikkhambhananirodho, tadaṅganirodho, samucchedanirodho, paṭippassaddhinirodho, nissaraṇanirodho. Vikkhambhananirodho ca nīvaraṇānaṃ paṭhamajjhānaṃ bhāvayato, tadaṅganirodho ca diṭṭhigatānaṃ nibbedhabhāgiyaṃ samādhiṃ bhāvayato, samucchedanirodho ca lokuttaraṃ khayagāmimaggaṃ bhāvayato, paṭippassaddhinirodho ca phalakkhaṇe, nissaraṇanirodho ca amatā dhātu. Sammādiṭṭhiyā ime pañca nirodhā. Imesu pañcasu nirodhesu chandajāto hoti saddhādhimutto, cittañcassa svādhiṭṭhitaṃ.
What are the five cessations of right view? Cessation by suppression, cessation by substitution, cessation by cutting off, cessation by tranquilization, and cessation by escape. For one who develops the first jhāna, there is cessation by suppression of the hindrances; for one who develops concentration partaking of penetration regarding wrong views, there is cessation by substitution; for one who develops the supramundane path leading to destruction, there is cessation by cutting off; at the moment of fruition, there is cessation by tranquilization; and cessation by escape is the deathless element. These are the five cessations of right view. In these five cessations, desire is born, one is resolved by faith, and one’s mind is well established.
Năm loại diệt của chánh kiến là những gì? Trấn phục diệt, bỉ phần diệt, đoạn diệt diệt, an tịnh diệt, xuất ly diệt. Trấn phục diệt đối với các triền cái của người tu tập sơ thiền, bỉ phần diệt đối với các tà kiến của người tu tập định thuộc phần nhàm chán, đoạn diệt diệt của người tu tập đạo siêu thế đưa đến sự đoạn tận, an tịnh diệt ở trong sát-na quả, và xuất ly diệt là giới bất tử. Đây là năm loại diệt của chánh kiến. Ở trong năm loại diệt này, người ấy có dục được sanh khởi, được giải thoát bằng đức tin, và tâm của người ấy được khéo an trú.
Sammādiṭṭhiyā katame pañca vossaggā? Vikkhambhanavossaggo, tadaṅgavossaggo, samucchedavossaggo, paṭippassaddhivossaggo, nissaraṇavossaggo. Vikkhambhanavossaggo ca nīvaraṇānaṃ paṭhamajjhānaṃ bhāvayato, tadaṅgavossaggo ca diṭṭhigatānaṃ nibbedhabhāgiyaṃ samādhiṃ bhāvayato, samucchedavossaggo ca lokuttaraṃ khayagāmimaggaṃ bhāvayato, paṭippassaddhivossaggo ca phalakkhaṇe, nissaraṇavossaggo ca nirodho nibbānaṃ. Sammādiṭṭhiyā ime pañca vossaggā. Imesu pañcasu vossaggesu chandajāto hoti saddhādhimutto, cittañcassa svādhiṭṭhitaṃ. Sammādiṭṭhiyā ime pañca vivekā, pañca virāgā, pañca nirodhā, pañca vossaggā, dvādasa nissayā.
What are the five relinquishments of right view? Relinquishment by suppression, relinquishment by substitution, relinquishment by cutting off, relinquishment by tranquilization, and relinquishment by escape. There is relinquishment by suppression of the hindrances for one who develops the first jhāna; relinquishment by substitution of wrong views for one who develops concentration partaking of penetration; relinquishment by cutting off for one who develops the supramundane path leading to destruction; relinquishment by tranquilization at the moment of fruition; and relinquishment by escape, which is cessation, Nibbāna. These are the five relinquishments of right view. In these five relinquishments, desire is born, one is resolved by faith, and one’s mind is well established. Of right view, these are the five seclusions, five dispassions, five cessations, five relinquishments, and twelve supports.
Năm loại xả ly của chánh kiến là những gì? Trấn phục xả ly, bỉ phần xả ly, đoạn diệt xả ly, an tịnh xả ly, xuất ly xả ly. Trấn phục xả ly đối với các triền cái của người tu tập sơ thiền, bỉ phần xả ly đối với các tà kiến của người tu tập định thuộc phần nhàm chán, đoạn diệt xả ly của người tu tập đạo siêu thế đưa đến sự đoạn tận, an tịnh xả ly ở trong sát-na quả, và xuất ly xả ly là sự diệt, là Níp-bàn. Đây là năm loại xả ly của chánh kiến. Ở trong năm loại xả ly này, người ấy có dục được sanh khởi, được giải thoát bằng đức tin, và tâm của người ấy được khéo an trú. Đây là năm loại viễn ly, năm loại ly tham, năm loại diệt, năm loại xả ly, mười hai sự y chỉ của chánh kiến.
25. Sammāsaṅkappassa …pe… sammāvācāya… sammākammantassa… sammāājīvassa… sammāvāyāmassa… sammāsatiyā… sammāsamādhissa katame pañca vivekā? Vikkhambhanaviveko, tadaṅgaviveko, samucchedaviveko, paṭippassaddhiviveko, nissaraṇaviveko. Vikkhambhanaviveko ca nīvaraṇānaṃ paṭhamajjhānaṃ bhāvayato, tadaṅgaviveko ca diṭṭhigatānaṃ nibbedhabhāgiyaṃ samādhiṃ bhāvayato, samucchedaviveko ca lokuttaraṃ khayagāmimaggaṃ bhāvayato, paṭippassaddhiviveko ca phalakkhaṇe nissaraṇaviveko ca nirodho nibbānaṃ. Sammāsamādhissa ime pañca vivekā. Imesu pañcasu vivekesu chandajāto hoti saddhādhimutto, cittañcassa svādhiṭṭhitaṃ.
25. What are the five seclusions of right intention… of right speech… of right action… of right livelihood… of right effort… of right mindfulness… of right concentration? Seclusion by suppression, seclusion by substitution, seclusion by cutting off, seclusion by tranquilization, and seclusion by escape. There is seclusion by suppression of the hindrances for one who develops the first jhāna; seclusion by substitution of wrong views for one who develops concentration partaking of penetration; seclusion by cutting off for one who develops the supramundane path leading to destruction; seclusion by tranquilization at the moment of fruition; and seclusion by escape, which is cessation, Nibbāna. These are the five seclusions of right concentration. In these five seclusions, desire is born, one is resolved by faith, and one’s mind is well established.
25. Của chánh tư duy... cho đến... của chánh ngữ... của chánh nghiệp... của chánh mạng... của chánh tinh tấn... của chánh niệm... Năm loại viễn ly của chánh định là những gì? Trấn phục viễn ly, bỉ phần viễn ly, đoạn diệt viễn ly, an tịnh viễn ly, xuất ly viễn ly. Trấn phục viễn ly đối với các triền cái của người tu tập sơ thiền, bỉ phần viễn ly đối với các tà kiến của người tu tập định thuộc phần nhàm chán, đoạn diệt viễn ly của người tu tập đạo siêu thế đưa đến sự đoạn tận, an tịnh viễn ly ở trong sát-na quả, và xuất ly viễn ly là sự diệt, là Níp-bàn. Đây là năm loại viễn ly của chánh định. Ở trong năm loại viễn ly này, người ấy có dục được sanh khởi, được giải thoát bằng đức tin, và tâm của người ấy được khéo an trú.
Sammāsamādhissa katame pañca virāgā? Vikkhambhanavirāgo, tadaṅgavirāgo, samucchedavirāgo, paṭippassaddhivirāgo, nissaraṇavirāgo. Vikkhambhanavirāgo ca nīvaraṇānaṃ paṭhamajjhānaṃ bhāvayato, tadaṅgavirāgo ca diṭṭhigatānaṃ nibbedhabhāgiyaṃ samādhiṃ bhāvayato, samucchedavirāgo ca lokuttaraṃ khayagāmimaggaṃ bhāvayato, paṭippassaddhivirāgo ca phalakkhaṇe, nissaraṇavirāgo ca nirodho nibbānaṃ. Sammāsamādhissa ime pañca virāgā. Imesu pañcasu virāgesu chandajāto hoti saddhādhimutto, cittañcassa svādhiṭṭhitaṃ.
What are the five dispassions of right concentration? Dispassion by suppression, momentary dispassion, dispassion by cutting off, dispassion by tranquilization, and dispassion by escape. And there is dispassion by suppression of the hindrances for one who develops the first jhāna; and momentary dispassion regarding wrong views for one who develops concentration that partakes of penetration; and dispassion by cutting off for one who develops the supramundane path leading to destruction; and dispassion by tranquilization at the moment of fruition; and dispassion by escape, which is cessation, Nibbāna. These are the five dispassions of right concentration. In these five dispassions, desire is born, one is resolved by faith, and one’s mind is well established.
Năm loại ly tham của chánh định là những gì? Trấn phục ly tham, bỉ phần ly tham, đoạn diệt ly tham, an tịnh ly tham, xuất ly ly tham. Trấn phục ly tham đối với các triền cái của người tu tập sơ thiền, bỉ phần ly tham đối với các tà kiến của người tu tập định thuộc phần nhàm chán, đoạn diệt ly tham của người tu tập đạo siêu thế đưa đến sự đoạn tận, an tịnh ly tham ở trong sát-na quả, và xuất ly ly tham là sự diệt, là Níp-bàn. Đây là năm loại ly tham của chánh định. Ở trong năm loại ly tham này, người ấy có dục được sanh khởi, được giải thoát bằng đức tin, và tâm của người ấy được khéo an trú.
Sammāsamādhissa katame pañca nirodhā? Vikkhambhananirodho, tadaṅganirodho, samucchedanirodho, paṭippassaddhinirodho, nissaraṇanirodho. Vikkhambhananirodho ca nīvaraṇānaṃ paṭhamajjhānaṃ bhāvayato, tadaṅganirodho ca diṭṭhigatānaṃ nibbedhabhāgiyaṃ samādhiṃ bhāvayato, samucchedanirodho ca lokuttaraṃ khayagāmimaggaṃ bhāvayato, paṭippassaddhinirodho ca phalakkhaṇe, nissaraṇanirodho ca amatā dhātu. Sammāsamādhissa ime pañca nirodhā. Imesu pañcasu nirodhesu chandajāto hoti saddhādhimutto, cittañcassa svādhiṭṭhitaṃ.
What are the five cessations of right concentration? Cessation by suppression, momentary cessation, cessation by cutting off, cessation by tranquilization, and cessation by escape. And there is cessation by suppression of the hindrances for one who develops the first jhāna; and momentary cessation regarding wrong views for one who develops concentration that partakes of penetration; and cessation by cutting off for one who develops the supramundane path leading to destruction; and cessation by tranquilization at the moment of fruition; and cessation by escape, which is the deathless element. These are the five cessations of right concentration. In these five cessations, desire is born, one is resolved by faith, and one’s mind is well established.
Năm loại diệt của chánh định là những gì? Trấn phục diệt, bỉ phần diệt, đoạn diệt diệt, an tịnh diệt, xuất ly diệt. Trấn phục diệt đối với các triền cái của người tu tập sơ thiền, bỉ phần diệt đối với các tà kiến của người tu tập định thuộc phần nhàm chán, đoạn diệt diệt của người tu tập đạo siêu thế đưa đến sự đoạn tận, an tịnh diệt ở trong sát-na quả, và xuất ly diệt là giới bất tử. Đây là năm loại diệt của chánh định. Ở trong năm loại diệt này, người ấy có dục được sanh khởi, được giải thoát bằng đức tin, và tâm của người ấy được khéo an trú.
Sammāsamādhissa katame pañca vossaggā? Vikkhambhanavossaggo, tadaṅgavossaggo, samucchedavossaggo, paṭippassaddhivossaggo, nissaraṇavossaggo. Vikkhambhanavossaggo ca nīvaraṇānaṃ paṭhamajjhānaṃ bhāvayato, tadaṅgavossaggo ca diṭṭhigatānaṃ nibbedhabhāgiyaṃ samādhiṃ bhāvayato, samucchedavossaggo ca lokuttaraṃ khayagāmimaggaṃ bhāvayato, paṭippassaddhivossaggo ca phalakkhaṇe, nissaraṇavossaggo ca nirodho nibbānaṃ. Sammāsamādhissa ime pañca vossaggā. Imesu pañcasu vossaggesu chandajāto hoti saddhādhimutto, cittañcassa svādhiṭṭhitaṃ. Sammāsamādhissa ime pañca vivekā, pañca virāgā, pañca nirodhā, pañca vossaggā, dvādasa nissayā.
What are the five relinquishments of right concentration? Relinquishment by suppression, relinquishment for the time being, relinquishment by cutting off, relinquishment by tranquilization, and relinquishment by escape. There is relinquishment by suppression of the hindrances for one who develops the first jhāna; there is relinquishment for the time being regarding wrong views for one who develops concentration that partakes of penetration; there is relinquishment by cutting off for one who develops the supramundane path leading to destruction; there is relinquishment by tranquilization at the moment of fruition; and relinquishment by escape is cessation, Nibbāna. These are the five relinquishments of right concentration. In these five relinquishments, desire is born, one is resolved by faith, and one’s mind is well established. Of right concentration, these are the five seclusions, five dispassions, five cessations, five relinquishments, and twelve supports.
Năm sự từ bỏ của chánh định là những gì? Sự từ bỏ bằng cách trấn áp, sự từ bỏ bằng cách thay thế đối phần, sự từ bỏ bằng cách đoạn tuyệt, sự từ bỏ bằng cách an tịnh, sự từ bỏ bằng cách xuất ly. Và sự từ bỏ bằng cách trấn áp các triền cái đối với vị đang tu tập sơ thiền, và sự từ bỏ bằng cách thay thế đối phần các tà kiến đối với vị đang tu tập định thuộc phần nhàm chán, và sự từ bỏ bằng cách đoạn tuyệt đối với vị đang tu tập đạo siêu thế đưa đến sự đoạn tận, và sự từ bỏ bằng cách an tịnh ở trong khoảnh khắc của quả, và sự từ bỏ bằng cách xuất ly chính là sự diệt, là Nibbāna. Đây là năm sự từ bỏ của chánh định. Trong năm sự từ bỏ này, vị ấy có dục sanh khởi, có lòng tin giải thoát, và tâm của vị ấy được khéo an trú. Đây là năm sự viễn ly, năm sự ly tham, năm sự đoạn diệt, năm sự từ bỏ, mười hai sự y chỉ của chánh định.
26. ‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, ye keci balakaraṇīyā kammantā karīyanti, sabbe te pathaviṃ nissāya pathaviyaṃ patiṭṭhāya evamete balakaraṇīyā kammantā karīyanti; evamevaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya satta bojjhaṅge bhāveti, satta bojjhaṅge bahulīkaroti…pe… satta bojjhaṅge bhāvento satta bojjhaṅge bahulīkaronto vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ pāpuṇāti dhammesu…pe… pañca balāni bhāveti, pañca balāni bahulīkaroti…pe… pañca balāni bhāvento pañca balāni bahulīkaronto vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ pāpuṇāti dhammesu…pe… pañcindriyāni bhāveti, pañcindriyāni bahulīkaroti…pe….
26. Just as, bhikkhus, whatever tasks requiring strength are performed, all of them are performed relying on the earth, established on the earth; in the same way, bhikkhus, a bhikkhu, relying on virtue, established in virtue, develops the seven factors of enlightenment, cultivates the seven factors of enlightenment… developing and cultivating the seven factors of enlightenment, he attains growth, increase, and abundance in the Dhamma… he develops the five powers, cultivates the five powers… developing and cultivating the five powers, he attains growth, increase, and abundance in the Dhamma… he develops the five faculties, cultivates the five faculties….
26. Này các Tỳ khưu, ví như bất cứ công việc nào cần dùng sức lực được thực hiện, tất cả chúng đều được thực hiện nương vào đất, đứng trên đất; cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nương vào giới, an trú trong giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi... (vân vân)... do tu tập bảy giác chi, do làm cho sung mãn bảy giác chi, vị ấy đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh trong các pháp... (vân vân)... tu tập năm lực, làm cho sung mãn năm lực... (vân vân)... do tu tập năm lực, do làm cho sung mãn năm lực, vị ấy đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh trong các pháp... (vân vân)... tu tập năm quyền, làm cho sung mãn năm quyền... (vân vân)...
‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, ye keci bījagāmabhūtagāmā vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjanti, sabbe te pathaviṃ nissāya pathaviyaṃ patiṭṭhāya evamete bījagāmabhūtagāmā vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ āpajjanti, evamevaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya pañcindriyāni bhāvento pañcindriyāni bahulīkaronto vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ pāpuṇāti dhammesu.
Just as, bhikkhus, whatever seeds and plants attain growth, increase, and abundance, all of them do so relying on the earth, established on the earth; in the same way, bhikkhus, a bhikkhu, relying on virtue, established in virtue, developing the five faculties, cultivating the five faculties, attains growth, increase, and abundance in the dhammas.
Này các Tỳ khưu, ví như bất cứ loài thảo mộc nào do hạt giống và rễ cây sanh trưởng, đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh, tất cả chúng đều nương vào đất, đứng trên đất mà các loài thảo mộc do hạt giống và rễ cây sanh trưởng ấy đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh; cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nương vào giới, an trú trong giới, do tu tập năm quyền, do làm cho sung mãn năm quyền, vị ấy đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh trong các pháp.
‘‘Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya pañcindriyāni bhāvento pañcindriyāni bahulīkaronto vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ pāpuṇāti dhammesu? Idha, bhikkhave, bhikkhu saddhindriyaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. Vīriyindriyaṃ bhāveti…pe… satindriyaṃ bhāveti…pe… samādhindriyaṃ bhāveti…pe… paññindriyaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. Evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya…pe… pāpuṇāti dhammesū’’ti.
And how, bhikkhus, does a bhikkhu, relying on virtue and established in virtue, developing the five faculties and cultivating the five faculties, attain growth, increase, and abundance in the dhammas? Here, bhikkhus, a bhikkhu develops the faculty of faith, which is based on seclusion, based on dispassion, based on cessation, and culminates in relinquishment. He develops the faculty of energy... he develops the faculty of mindfulness... he develops the faculty of concentration... he develops the faculty of wisdom, which is based on seclusion, based on dispassion, based on cessation, and culminates in relinquishment. It is in this way, bhikkhus, that a bhikkhu, relying on virtue... attains growth, increase, and abundance in the dhammas.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu nương vào giới, an trú trong giới, do tu tập năm quyền, do làm cho sung mãn năm quyền, đạt đến sự tăng trưởng, sự phát triển, sự lớn mạnh trong các pháp? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu tu tập tín quyền y theo viễn ly, y theo ly tham, y theo đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Vị ấy tu tập tấn quyền... (vân vân)... tu tập niệm quyền... (vân vân)... tu tập định quyền... (vân vân)... tu tập tuệ quyền y theo viễn ly, y theo ly tham, y theo đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Này các Tỳ khưu, chính như vậy là vị Tỳ khưu nương vào giới... (vân vân)... đạt đến trong các pháp.
2. Indriyaniddeso
2. The Exposition of the Faculties
2. Phần giải thích về các quyền
27. Saddhindriyassa pañca vivekā, pañca virāgā, pañca nirodhā, pañca vossaggā, dvādasa nissayā. Vīriyindriyassa…pe… satindriyassa… samādhindriyassa… paññindriyassa pañca vivekā, pañca virāgā, pañca nirodhā, pañca vossaggā, dvādasa nissayā.
27. For the faculty of faith, there are five seclusions, five dispassions, five cessations, five relinquishments, and twelve supports. For the faculty of energy... for the faculty of mindfulness... for the faculty of concentration... for the faculty of wisdom, there are five seclusions, five dispassions, five cessations, five relinquishments, and twelve supports.
27. Đối với tín quyền có năm sự viễn ly, năm sự ly tham, năm sự đoạn diệt, năm sự từ bỏ, mười hai sự y chỉ. Đối với tấn quyền... (vân vân)... niệm quyền... định quyền... đối với tuệ quyền có năm sự viễn ly, năm sự ly tham, năm sự đoạn diệt, năm sự từ bỏ, mười hai sự y chỉ.
Saddhindriyassa katame pañca vivekā? Vikkhambhanaviveko, tadaṅgaviveko, samucchedaviveko, paṭippassaddhiviveko, nissaraṇaviveko. Vikkhambhanaviveko ca nīvaraṇānaṃ paṭhamajjhānaṃ bhāvayato, tadaṅgaviveko ca diṭṭhigatānaṃ nibbedhabhāgiyaṃ samādhiṃ bhāvayato, samucchedaviveko ca lokuttaraṃ khayagāmimaggaṃ bhāvayato, paṭippassaddhiviveko ca phalakkhaṇe, nissaraṇaviveko ca nirodho nibbānaṃ. Saddhindriyassa ime pañca vivekā. Imesu pañcasu vivekesu chandajāto hoti saddhādhimutto, cittañcassa svādhiṭṭhitaṃ…pe… saddhindriyassa ime pañca vivekā, pañca virāgā, pañca nirodhā, pañca vossaggā, dvādasa nissayā.
What are the five seclusions of the faculty of faith? Seclusion by suppression, seclusion by substitution of opposites, seclusion by cutting off, seclusion by tranquillization, and seclusion by escape. And there is seclusion by suppression of the hindrances for one who develops the first jhāna; and seclusion by substitution of opposites for wrong views for one who develops concentration that partakes of penetration; and seclusion by cutting off for one who develops the supramundane path leading to destruction; and seclusion by tranquillization at the moment of fruition; and seclusion by escape, which is cessation, Nibbāna. These are the five seclusions of the faculty of faith. In these five seclusions, one becomes desirous and resolved through faith, and one's mind is well-established... For the faculty of faith, these are the five seclusions, five dispassions, five cessations, five relinquishments, and twelve supports.
Năm sự viễn ly của tín quyền là những gì? Sự viễn ly bằng cách trấn áp, sự viễn ly bằng cách thay thế đối phần, sự viễn ly bằng cách đoạn tuyệt, sự viễn ly bằng cách an tịnh, sự viễn ly bằng cách xuất ly. Và sự viễn ly bằng cách trấn áp các triền cái đối với vị đang tu tập sơ thiền, và sự viễn ly bằng cách thay thế đối phần các tà kiến đối với vị đang tu tập định thuộc phần nhàm chán, và sự viễn ly bằng cách đoạn tuyệt đối với vị đang tu tập đạo siêu thế đưa đến sự đoạn tận, và sự viễn ly bằng cách an tịnh ở trong khoảnh khắc của quả, và sự viễn ly bằng cách xuất ly chính là sự diệt, là Nibbāna. Đây là năm sự viễn ly của tín quyền. Trong năm sự viễn ly này, vị ấy có dục sanh khởi, có lòng tin giải thoát, và tâm của vị ấy được khéo an trú... (vân vân)... Đây là năm sự viễn ly, năm sự ly tham, năm sự đoạn diệt, năm sự từ bỏ, mười hai sự y chỉ của tín quyền.
Vīriyindriyassa…pe… satindriyassa…pe… samādhindriyassa… paññindriyassa katame pañca vivekā? Vikkhambhanaviveko, tadaṅgaviveko, samucchedaviveko, paṭippassaddhiviveko, nissaraṇaviveko…pe… paññindriyassa ime pañca vivekā, pañca virāgā, pañca nirodhā, pañca vossaggā, dvādasa nissayāti.
For the faculty of energy... for the faculty of mindfulness... for the faculty of concentration... For the faculty of wisdom, what are the five seclusions? Seclusion by suppression, seclusion by substitution of opposites, seclusion by cutting off, seclusion by tranquillization, and seclusion by escape... For the faculty of wisdom, these are the five seclusions, five dispassions, five cessations, five relinquishments, and twelve supports.
Đối với tấn quyền... (vân vân)... niệm quyền... (vân vân)... định quyền... đối với tuệ quyền, năm sự viễn ly là những gì? Sự viễn ly bằng cách trấn áp, sự viễn ly bằng cách thay thế đối phần, sự viễn ly bằng cách đoạn tuyệt, sự viễn ly bằng cách an tịnh, sự viễn ly bằng cách xuất ly... (vân vân)... Đây là năm sự viễn ly, năm sự ly tham, năm sự đoạn diệt, năm sự từ bỏ, mười hai sự y chỉ của tuệ quyền.
Vivekakathā niṭṭhitā.
The discourse on seclusion is concluded.
Dứt về chương viễn ly.