Bản dịch
PS 3.3 — Giảng về Sự Lãnh Hội
3.3. Abhisamayakathā
Sự lãnh hội: Lãnh hội nhờ vào gì? Lãnh hội nhờ vào tâm. Nếu lãnh hội nhờ vào tâm, vậy thì người không có trí (có thể) lãnh hội? Người không có trí không (thể) lãnh hội. Lãnh hội nhờ vào trí.
Nếu lãnh hội nhờ vào trí, vậy thì người không có tâm (có thể) lãnh hội? Người không có tâm không (thể) lãnh hội. Lãnh hội nhờ vào tâm và nhờ vào trí.
Nếu lãnh hội nhờ vào tâm và nhờ vào trí, vậy thì lãnh hội nhờ vào tâm dục giới và nhờ vào trí? Không phải lãnh hội nhờ vào tâm dục giới và nhờ vào trí.
Vậy thì lãnh hội nhờ vào tâm sắc giới và nhờ vào trí? Không phải lãnh hội nhờ vào tâm sắc giới và nhờ vào trí. Vậy thì lãnh hội nhờ vào tâm vô sắc giới và nhờ vào trí? Không phải lãnh hội nhờ vào tâm vô sắc giới và nhờ vào trí. Vậy thì lãnh hội nhờ vào tâm vận hành theo nghiệp và nhờ vào trí? Không phải lãnh hội nhờ vào tâm vận hành theo nghiệp và nhờ vào trí. Vậy thì lãnh hội nhờ vào tâm thuận theo chân lý và nhờ vào trí? Không phải lãnh hội nhờ vào tâm thuận theo chân lý và nhờ vào trí. Vậy thì lãnh hội nhờ vào tâm quá khứ và nhờ vào trí? Không phải lãnh hội nhờ vào tâm quá khứ và nhờ vào trí. Vậy thì lãnh hội nhờ vào tâm vị lai và nhờ vào trí? Không phải lãnh hội nhờ vào tâm vị lai và nhờ vào trí. Vậy thì lãnh hội nhờ vào tâm hợp thế hiện tại và nhờ vào trí? Không phải lãnh hội nhờ vào tâm hợp thế hiện tại và nhờ vào trí. Lãnh hội nhờ vào tâm hiện tại và nhờ vào trí ở sát-na Đạo Siêu Thế.
Lãnh hội nhờ vào tâm hiện tại và nhờ vào trí ở sát-na Đạo Siêu Thế là (có ý nghĩa) thế nào? Ở sát-na Đạo Siêu Thế: tâmcó tính chủ đạo trong các pháp sanh lênlà nhân và duyên của trí; trítương ưng với điều ấy, có hành xứ là sự diệt tận, có tính chất chủ đạo trong việc nhận thấylà nhân và duyên của tâm; trí tương ưng với điều ấy là hành xứ của sự diệt tận. Lãnh hội nhờ vào tâm hiện tại và nhờ vào trí ở sát-na Đạo Siêu Thế là (có ý nghĩa) như thế.
Có phải sự lãnh hội chỉ là bấy nhiêu? Không phải, ở sát-na Đạo Siêu Thế: sự lãnh hội về nhận thấy là chánh kiến, sự lãnh hội về việc gắn chặt (tâm vào cảnh) là chánh tư duy, sự lãnh hội về gìn giữ là chánh ngữ, sự lãnh hội về nguồn sanh khởi là chánh nghiệp, sự lãnh hội về trong sạch là chánh mạng, sự lãnh hội về ra sức là chánh tinh tấn, sự lãnh hội về thiết lập là chánh niệm, sự lãnh hội về không tản mạn là chánh định.
Sự lãnh hội về thiết lập là niệm giác chi, sự lãnh hội về suy xét là trạch pháp giác chi, sự lãnh hội về ra sức là cần giác chi, sự lãnh hội về lan tỏa là hỷ giác chi, sự lãnh hội về an tịnh là tịnh giác chi, sự lãnh hội về không tản mạn là định giác chi, sự lãnh hội về phân biệt rõ là xả giác chi.
Sự lãnh hội về tính chất không dao động ở sự không có đức tin là tín lực, sự lãnh hội về tính chất không dao động ở biếng nhác là tấn lực, sự lãnh hội về tính chất không dao động ở buông lung là niệm lực, sự lãnh hội về tính chất không dao động ở phóng dật là định lực, sự lãnh hội về tính chất không dao động ở vô minh là tuệ lực.
Sự lãnh hội về cương quyết là tín quyền, sự lãnh hội về ra sức là tấn quyền, sự lãnh hội về thiết lập là niệm quyền, sự lãnh hội về không tản mạn là định quyền, sự lãnh hội về nhận thấy là tuệ quyền.
Sự lãnh hội về các quyền theo ý nghĩa pháp chủ đạo, sự lãnh hội về các lực theo ý nghĩa về tính chất không thể bị lay chuyển, sự lãnh hội về các giác chi theo ý nghĩa dẫn xuất (ra khỏi luân hồi), sự lãnh hội về Đạo theo ý nghĩa chủng tử, sự lãnh hội về thiết lập niệm theo ý nghĩa thiết lập, sự lãnh hội về các chánh cần theo ý nghĩa nỗ lực, sự lãnh hội về các nền tảng của thần thông theo ý nghĩa thành tựu, sự lãnh hội về chân lý theo ý nghĩa của thực thể, sự lãnh hội về chỉ tịnh theo ý nghĩa không tản mạn, sự lãnh hội về minh sát theo ý nghĩa quán sát, sự lãnh hội về chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa nhất vị, sự lãnh hội về kết hợp chung theo ý nghĩa không vượt quá, sự lãnh hội về giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, sự lãnh hội về tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tản mạn, sự lãnh hội về kiến thanh tịnh theo ý nghĩa nhận thấy, sự lãnh hội về giải thoát theo ý nghĩa được phóng thích, sự lãnh hội về minh theo ý nghĩa thấu triệt, sự lãnh hội về giải thoát theo ý nghĩa buông bỏ, trí về đoạn tận theo ý nghĩa đoạn trừ là sự lãnh hội.
Ước muốn theo ý nghĩa nguồn cội là sự lãnh hội, tác ý theo ý nghĩa nguồn sanh khởi là sự lãnh hội, xúc theo ý nghĩa liên kết là sự lãnh hội, thọ theo ý nghĩa hội tụ là sự lãnh hội, định theo ý nghĩa dẫn đầu là sự lãnh hội, niệm theo ý nghĩa pháp chủ đạo là sự lãnh hội, tuệ theo ý nghĩa cao thượng trong các pháp thiện là sự lãnh hội, giải thoát theo ý nghĩa cốt lỏi là sự lãnh hội, Niết Bàn liên quan đến bất tử theo ý nghĩa kết thúc là sự lãnh hội.
Có phải sự lãnh hội chỉ là bấy nhiêu? Không phải, ở sát-na Đạo Nhập Lưu: sự lãnh hội về nhận thấy là chánh kiến …(như trên)… Niết Bàn liên quan đến bất tử theo ý nghĩa kết thúc là sự lãnh hội.
Có phải sự lãnh hội chỉ là bấy nhiêu? Không phải, ở sát-na Quả Nhập Lưu: sự lãnh hội về nhận thấy là chánh kiến …(như trên)… trí về sự vô sanh theo ý nghĩa tĩnh lặng là sự lãnh hội. Ước muốn theo ý nghĩa nguồn cội là sự lãnh hội …(như trên)… Niết Bàn liên quan đến bất tử theo ý nghĩa kết thúc là sự lãnh hội.
Có phải sự lãnh hội chỉ là bấy nhiêu? Không phải, ở sát-na Đạo Nhất Lai … ở sát-na Quả Nhất Lai … ở sát-na Đạo Bất Lai … ở sát-na Quả Bất Lai … ở sát-na Đạo A-la-hán … ở sát-na Quả A-la-hán: sự lãnh hội về nhận thấy là chánh kiến, sự lãnh hội về sự gắn chặt (tâm vào cảnh) là chánh tư duy …(như trên)… trí về sự vô sanh theo ý nghĩa tịnh lặng là sự lãnh hội. Ước muốn theo ý nghĩa nguồn cội là sự lãnh hội …(như trên)… Niết Bàn liên quan đến bất tử theo ý nghĩa kết thúc là sự lãnh hội.
Vị này dứt bỏ các phiền não, dứt bỏ các phiền não thuộc quá khứ, dứt bỏ các phiền não thuộc vị lai, dứt bỏ các phiền não thuộc hiện tại. Dứt bỏ các phiền não thuộc quá khứ: Nếu (vị ấy) dứt bỏ các phiền não thuộc quá khứ, vậy thì (vị ấy) dứt bỏ pháp đã được cạn kiệt, làm diệt tận pháp đã được diệt tận, làm xa lìa pháp đã được xa lìa, làm biến mất pháp đã được biến mất; (vị ấy) dứt bỏ pháp thuộc quá khứ là pháp không hiện hữu. Như thế, (vị ấy) không dứt bỏ các phiền não thuộc quá khứ.
Dứt bỏ các phiền não thuộc vị lai: Nếu (vị ấy) dứt bỏ các phiền não thuộc vị lai, vậy thì (vị ấy) dứt bỏ pháp chưa được sanh ra, dứt bỏ pháp chưa được tạo lập, dứt bỏ pháp chưa được sanh lên, dứt bỏ pháp chưa được hiện khởi; (vị ấy) dứt bỏ pháp thuộc vị lai là pháp không hiện hữu. Như thế, (vị ấy) không dứt bỏ các phiền não thuộc vị lai.
Dứt bỏ các phiền não thuộc hiện tại: Nếu (vị ấy) dứt bỏ các phiền não thuộc hiện tại, vậy thì bị ái nhiễm (vị ấy) dứt bỏ tham ái, bị hư hỏng (vị ấy) dứt bỏ sân, bị mê muội (vị ấy) dứt bỏ vô minh, bị ràng buộc (vị ấy) dứt bỏ ngã mạn, bị tiêm nhiễm (vị ấy) dứt bỏ tà kiến, bị rơi vào tản mạn (vị ấy) dứt bỏ phóng dật, bị rơi vào không dứt khoát (vị ấy) dứt bỏ hoài nghi, bị rơi vào cố tật (vị ấy) dứt bỏ pháp ngủ ngầm; (như thế) các pháp đen và trắng* được kết hợp chung, hiện hữu một cách bình đẳng, sự tu tập Đạo là còn phiền não.
(Vị ấy) không dứt bỏ các phiền não thuộc quá khứ, không dứt bỏ các phiền não thuộc vị lai, không dứt bỏ các phiền não thuộc hiện tại: Nếu (vị ấy) không dứt bỏ các phiền não thuộc quá khứ, không dứt bỏ các phiền não thuộc vị lai, không dứt bỏ các phiền não thuộc hiện tại, vậy thì (phải chăng) không có sự tu tập Đạo, không có sự tác chứng Quả, không có sự dứt bỏ các phiền não, không có sự lãnh hội các pháp? Có sự tu tập Đạo, có sự tác chứng Quả, có sự dứt bỏ các phiền não, có sự lãnh hội các pháp. Như thế là (có ý nghĩa) thế nào? Giống như thân cây còn nhỏ có trái cây chưa được sanh ra, người ta có thể đốn ngã chính gốc cây ấy. Những trái cây chưa được sanh ra của cây ấy, chính vì chưa được sanh ra nên (sẽ) không được sanh ra, chính vì chưa được tạo lập nên (sẽ) không được tạo lập, chính vì chưa được sanh lên nên (sẽ) không được sanh lên, chính vì chưa được hiện hữu nên (sẽ) không được hiện hữu.
Tương tợ như thế, sự sanh lên là nhân, sự sanh lên là duyên đưa đến sự tạo lập các phiền não. Sau khi thấy được tai hại trong sự sanh lên, tâm tiến đến sự không sanh lên. Nhờ vào trạng thái của tâm ở sự không sanh lên, các phiền não nào có sự sanh lên là duyên có thể được tạo lập, các phiền não ấy chính vì chưa được sanh ra nên (sẽ) không được sanh ra, chính vì chưa được tạo lập nên (sẽ) không được tạo lập, chính vì chưa được sanh lên nên (sẽ) không được sanh lên, chính vì chưa được hiện hữu nên (sẽ) không được hiện hữu. Như vậy, do sự diệt tận của nhân có sự diệt tận của Khổ. Sự vận hành là nhân, hiện tướng là nhân, (nghiệp) tích lũy là nhân, (nghiệp) tích lũy là duyên đưa đến sự tạo lập các phiền não. Sau khi thấy được tai hại ở (nghiệp) tích lũy, tâm tiến đến sự không tích lũy (nghiệp). Nhờ vào trạng thái của tâm ở sự không tích lũy (nghiệp), các phiền não nào có (nghiệp) tích lũy là duyên có thể được tạo lập, các phiền não ấy chính vì chưa được sanh ra nên (sẽ) không được sanh ra, chính vì chưa được tạo lập nên (sẽ) không được tạo lập, chính vì chưa được sanh lên nên (sẽ) không được sanh lên, chính vì chưa được hiện hữu nên (sẽ) không được hiện hữu. Như vậy, do sự diệt tận của nhân có sự diệt tận của Khổ. Như vậy, có sự tu tập Đạo, có sự tác chứng Quả, có sự dứt bỏ các phiền não, có sự lãnh hội các pháp.
Phần Giảng về sự Lãnh Hội được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
19. Abhisamayoti. Kena abhisameti? Cittena abhisameti.
19. Regarding realization. With what does one realize? One realizes with the mind.
19. Về sự chứng ngộ. Thấu triệt bằng gì? Thấu triệt bằng tâm.
Hañci cittena abhisameti, tena hi aññāṇī abhisameti? Na aññāṇī abhisameti. Ñāṇena abhisameti.
If one realizes with the mind, then does one without knowledge realize? One without knowledge does not realize. One realizes with knowledge.
Nếu thấu triệt bằng tâm, vậy thì người không có trí tuệ cũng thấu triệt được sao? Người không có trí tuệ không thấu triệt được. Thấu triệt bằng trí tuệ.
Hañci ñāṇena abhisameti, tena hi acittena ca ñāṇena ca acittako † abhisameti? Na acittako abhisameti. Cittena ca ñāṇena ca abhisameti.
If one realizes with knowledge, then does one without a mind realize without a mind and with knowledge? One without a mind does not realize. One realizes with both mind and knowledge.
Nếu thấu triệt bằng trí tuệ, vậy thì người không có tâm thấu triệt bằng trí tuệ và không có tâm sao? Người không có tâm không thấu triệt được. Thấu triệt bằng cả tâm và trí tuệ.
Hañci cittena ca ñāṇena ca abhisameti, tena hi kāmāvacaracittena ca ñāṇena ca abhisameti? Na kāmāvacaracittena ca ñāṇena ca abhisameti.
If one realizes with both mind and knowledge, then does one realize with a sense-sphere mind and with knowledge? No, one does not realize with a sense-sphere mind and with knowledge.
Nếu thấu triệt bằng cả tâm và trí tuệ, vậy thì thấu triệt bằng tâm và trí tuệ Dục giới sao? Không thấu triệt bằng tâm và trí tuệ Dục giới.
Tena hi rūpāvacaracittena ca ñāṇena ca abhisameti? Na rūpāvacaracittena ca ñāṇena ca abhisameti.
Then does one penetrate with fine-material sphere consciousness and with knowledge? No, one does not penetrate with fine-material sphere consciousness and with knowledge.
Vậy thì thấu triệt bằng tâm và trí tuệ Sắc giới sao? Không thấu triệt bằng tâm và trí tuệ Sắc giới.
Tena hi arūpāvacaracittena ca ñāṇena ca abhisameti? Na arūpāvacaracittena ca ñāṇena ca abhisameti.
Then does one penetrate with immaterial sphere consciousness and with knowledge? No, one does not penetrate with immaterial sphere consciousness and with knowledge.
Vậy thì thấu triệt bằng tâm và trí tuệ Vô Sắc giới sao? Không thấu triệt bằng tâm và trí tuệ Vô Sắc giới.
Tena hi kammassakatacittena ca ñāṇena ca abhisameti? Na kammassakatacittena ca ñāṇena ca abhisameti.
Then does one penetrate with the consciousness of kamma as one's own property and with knowledge? No, one does not penetrate with the consciousness of kamma as one's own property and with knowledge.
Vậy thì thấu triệt bằng tâm và trí tuệ về nghiệp là của mình sao? Không thấu triệt bằng tâm và trí tuệ về nghiệp là của mình.
Tena hi saccānulomikacittena ca ñāṇena ca abhisameti? Na saccānulomikacittena ca ñāṇena ca abhisameti.
Then does one penetrate with the consciousness that conforms to the truths and with knowledge? No, one does not penetrate with the consciousness that conforms to the truths and with knowledge.
Vậy thì thấu triệt bằng tâm và trí tuệ thuận thứ chân lý sao? Không thấu triệt bằng tâm và trí tuệ thuận thứ chân lý.
Tena hi atītacittena ca ñāṇena ca abhisameti? Na atītacittena ca ñāṇena ca abhisameti.
Then does one penetrate with a past consciousness and with knowledge? No, one does not penetrate with a past consciousness and with knowledge.
Vậy thì thấu triệt bằng tâm và trí tuệ quá khứ sao? Không thấu triệt bằng tâm và trí tuệ quá khứ.
Tena hi anāgatacittena ca ñāṇena ca abhisameti? Na anāgatacittena ca ñāṇena ca abhisameti.
Then does one penetrate with a future consciousness and with knowledge? No, one does not penetrate with a future consciousness and with knowledge.
Vậy thì thấu triệt bằng tâm và trí tuệ vị lai sao? Không thấu triệt bằng tâm và trí tuệ vị lai.
Tena hi paccuppannalokiyacittena ca ñāṇena ca abhisameti? Na paccuppannalokiyacittena ca ñāṇena ca abhisameti. Lokuttaramaggakkhaṇe paccuppannacittena ca ñāṇena ca abhisameti.
Then does one penetrate with a present mundane consciousness and with knowledge? No, one does not penetrate with a present mundane consciousness and with knowledge. At the moment of the supramundane path, one penetrates with a present consciousness and with knowledge.
Vậy thì thấu triệt bằng tâm và trí tuệ hiện tại thuộc thế gian sao? Không thấu triệt bằng tâm và trí tuệ hiện tại thuộc thế gian. Trong sát-na đạo siêu thế, thấu triệt bằng tâm và trí tuệ hiện tại.
Kathaṃ lokuttaramaggakkhaṇe paccuppannacittena ca ñāṇena ca abhisameti? Lokuttaramaggakkhaṇe uppādādhipateyyaṃ cittaṃ ñāṇassa hetu paccayo ca. Taṃsampayuttaṃ nirodhagocaraṃ dassanādhipateyyaṃ ñāṇaṃ cittassa hetu paccayo ca. Taṃsampayuttaṃ ñāṇaṃ nirodhagocaraṃ. Evaṃ lokuttaramaggakkhaṇe paccuppannacittena ca ñāṇena ca abhisameti.
How, at the moment of the supramundane path, does one penetrate with a present consciousness and with knowledge? At the moment of the supramundane path, the consciousness, which has arising as its dominant factor, is a root-condition for the knowledge. The associated knowledge, which has cessation as its object and seeing as its dominant factor, is a root-condition for the consciousness. That associated knowledge has cessation as its object. Thus, at the moment of the supramundane path, one penetrates with a present consciousness and with knowledge.
Thế nào là thấu triệt bằng tâm và trí tuệ hiện tại trong sát-na đạo siêu thế? Trong sát-na đạo siêu thế, tâm có quyền năng trong sự sanh khởi là nhân duyên của trí tuệ. Trí tuệ tương ưng với tâm ấy, có sự diệt làm đối tượng, và có quyền năng trong sự thấy, là nhân duyên của tâm. Trí tuệ tương ưng với tâm ấy có sự diệt làm đối tượng. Như vậy, trong sát-na đạo siêu thế, thấu triệt bằng tâm và trí tuệ hiện tại.
20. Kiṃ nu ettakoyeva abhisamayoti? Na hi. Lokuttaramaggakkhaṇe dassanābhisamayo sammādiṭṭhi, abhiniropanābhisamayo sammāsaṅkappo, pariggahābhisamayo sammāvācā, samuṭṭhānābhisamayo sammākammanto, vodānābhisamayo sammāājīvo, paggahābhisamayo sammāvāyāmo, upaṭṭhānābhisamayo sammāsati, avikkhepābhisamayo sammāsamādhi; upaṭṭhānābhisamayo satisambojjhaṅgo, pavicayābhisamayo dhammavicayasambojjhaṅgo, paggahābhisamayo vīriyasambojjhaṅgo, pharaṇābhisamayo pītisambojjhaṅgo, upasamābhisamayo passaddhisambojjhaṅgo, avikkhepābhisamayo samādhisambojjhaṅgo, paṭisaṅkhānābhisamayo upekkhāsambojjhaṅgo; assaddhiye akampiyābhisamayo saddhābalaṃ, kosajje akampiyābhisamayo vīriyabalaṃ, pamāde akampiyābhisamayo satibalaṃ, uddhacce akampiyābhisamayo samādhibalaṃ, avijjāya akampiyābhisamayo paññābalaṃ; adhimokkhābhisamayo saddhindriyaṃ, paggahābhisamayo vīriyindriyaṃ, upaṭṭhānābhisamayo satindriyaṃ, avikkhepābhisamayo samādhindriyaṃ, dassanābhisamayo paññindriyaṃ. Ādhipateyyaṭṭhena indriyābhisamayo, akampiyaṭṭhena balābhisamayo, niyyānaṭṭhena bojjhaṅgābhisamayo, hetuṭṭhena maggābhisamayo, upaṭṭhānaṭṭhena satipaṭṭhānābhisamayo, padahaṭṭhena sammappadhānābhisamayo, ijjhanaṭṭhena iddhipādābhisamayo, tathaṭṭhena saccābhisamayo, avikkhepaṭṭhena samathābhisamayo, anupassanaṭṭhena vipassanābhisamayo, ekarasaṭṭhena samathavipassanābhisamayo, anativattanaṭṭhena yuganaddhābhisamayo, saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhiabhisamayo, avikkhepaṭṭhena visuddhiabhisamayo, dassanaṭṭhena diṭṭhivisuddhiabhisamayo, muttaṭṭhena vimokkhābhisamayo, paṭivedhaṭṭhena vijjābhisamayo, pariccāgaṭṭhena vimuttiabhisamayo, samucchedaṭṭhena khaye ñāṇaṃ abhisamayo. Chando mūlaṭṭhena abhisamayo, manasikāro samuṭṭhānaṭṭhena abhisamayo, phasso samodhānaṭṭhena abhisamayo, vedanā samosaraṇaṭṭhena abhisamayo, samādhi pamukhaṭṭhena abhisamayo, sati ādhipateyyaṭṭhena abhisamayo, paññā tatuttaraṭṭhena abhisamayo, vimutti sāraṭṭhena abhisamayo, amatogadhaṃ nibbānaṃ pariyosānaṭṭhena abhisamayo.
20. Is this all there is to penetration? No. At the moment of the supramundane path, penetration by seeing is right view; penetration by application is right intention; penetration by embracing is right speech; penetration by origination is right action; penetration by purification is right livelihood; penetration by exertion is right effort; penetration by establishment is right mindfulness; penetration by non-distraction is right concentration. Penetration by establishment is the enlightenment factor of mindfulness; penetration by investigation is the enlightenment factor of discrimination of states; penetration by exertion is the enlightenment factor of energy; penetration by pervading is the enlightenment factor of rapture; penetration by calming is the enlightenment factor of tranquility; penetration by non-distraction is the enlightenment factor of concentration; penetration by reflection is the enlightenment factor of equanimity. Penetration by unshakability in the face of lack of faith is the power of faith; penetration by unshakability in the face of laziness is the power of energy; penetration by unshakability in the face of heedlessness is the power of mindfulness; penetration by unshakability in the face of restlessness is the power of concentration; penetration by unshakability in the face of ignorance is the power of wisdom. Penetration by resolution is the faculty of faith; penetration by exertion is the faculty of energy; penetration by establishment is the faculty of mindfulness; penetration by non-distraction is the faculty of concentration; penetration by seeing is the faculty of wisdom. It is penetration of faculties in the sense of dominance; penetration of powers in the sense of unshakability; penetration of enlightenment factors in the sense of leading out; penetration of the path in the sense of cause; penetration of the foundations of mindfulness in the sense of establishment; penetration of right efforts in the sense of exertion; penetration of bases of psychic power in the sense of success; penetration of truths in the sense of reality; penetration of serenity in the sense of non-distraction; penetration of insight in the sense of contemplation; penetration of serenity and insight in the sense of single essence; penetration of the yoked pair in the sense of non-transgression; penetration of purification of virtue in the sense of restraint; penetration of purification of mind in the sense of non-distraction; penetration of purification of view in the sense of seeing; penetration of liberation in the sense of freedom; penetration of true knowledge in the sense of penetration; penetration of deliverance in the sense of relinquishment; the knowledge of destruction is penetration in the sense of eradication. Desire is penetration in the sense of root; attention is penetration in the sense of origination; contact is penetration in the sense of conjunction; feeling is penetration in the sense of convergence; concentration is penetration in the sense of being foremost; mindfulness is penetration in the sense of dominance; wisdom is penetration in the sense of superiority; deliverance is penetration in the sense of essence; Nibbāna, immersed in the deathless, is penetration in the sense of culmination.
20. Phải chăng sự chứng ngộ chỉ có chừng ấy thôi? Không phải vậy. Trong sát-na của đạo siêu thế, sự chứng ngộ bằng cách thấy là chánh kiến, sự chứng ngộ bằng cách hướng đến là chánh tư duy, sự chứng ngộ bằng cách thâu nhiếp là chánh ngữ, sự chứng ngộ bằng cách khởi lên là chánh nghiệp, sự chứng ngộ bằng cách trong sạch là chánh mạng, sự chứng ngộ bằng cách nỗ lực là chánh tinh tấn, sự chứng ngộ bằng cách hiện khởi là chánh niệm, sự chứng ngộ bằng cách không phân tán là chánh định; sự chứng ngộ bằng cách hiện khởi là niệm giác chi, sự chứng ngộ bằng cách thẩm sát là trạch pháp giác chi, sự chứng ngộ bằng cách nỗ lực là tinh tấn giác chi, sự chứng ngộ bằng cách biến mãn là hỷ giác chi, sự chứng ngộ bằng cách an tịnh là khinh an giác chi, sự chứng ngộ bằng cách không phân tán là định giác chi, sự chứng ngộ bằng cách quán xét là xả giác chi; sự chứng ngộ không lay động đối với sự không có đức tin là tín lực, sự chứng ngộ không lay động đối với sự biếng nhác là tấn lực, sự chứng ngộ không lay động đối với sự dể duôi là niệm lực, sự chứng ngộ không lay động đối với sự trạo cử là định lực, sự chứng ngộ không lay động đối với sự vô minh là tuệ lực; sự chứng ngộ bằng cách quyết định là tín quyền, sự chứng ngộ bằng cách nỗ lực là tấn quyền, sự chứng ngộ bằng cách hiện khởi là niệm quyền, sự chứng ngộ bằng cách không phân tán là định quyền, sự chứng ngộ bằng cách thấy là tuệ quyền. Sự chứng ngộ các quyền theo ý nghĩa làm chủ, sự chứng ngộ các lực theo ý nghĩa không lay động, sự chứng ngộ các giác chi theo ý nghĩa xuất ly, sự chứng ngộ đạo theo ý nghĩa là nhân, sự chứng ngộ niệm xứ theo ý nghĩa hiện khởi, sự chứng ngộ chánh cần theo ý nghĩa cố gắng, sự chứng ngộ như ý túc theo ý nghĩa thành tựu, sự chứng ngộ đế theo ý nghĩa chân thật, sự chứng ngộ chỉ theo ý nghĩa không phân tán, sự chứng ngộ quán theo ý nghĩa tùy quán, sự chứng ngộ chỉ-quán theo ý nghĩa một vị, sự chứng ngộ song hành theo ý nghĩa không vượt qua nhau, sự chứng ngộ giới thanh tịnh theo ý nghĩa phòng hộ, sự chứng ngộ tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không phân tán, sự chứng ngộ kiến thanh tịnh theo ý nghĩa thấy, sự chứng ngộ giải thoát theo ý nghĩa thoát khỏi, sự chứng ngộ minh theo ý nghĩa liễu tri, sự chứng ngộ giải thoát theo ý nghĩa từ bỏ, sự chứng ngộ tri kiến về sự đoạn tận theo ý nghĩa cắt đứt hoàn toàn. Dục theo ý nghĩa là căn bản là sự chứng ngộ, tác ý theo ý nghĩa là khởi lên là sự chứng ngộ, xúc theo ý nghĩa là hợp lại là sự chứng ngộ, thọ theo ý nghĩa là tụ hội là sự chứng ngộ, định theo ý nghĩa là đứng đầu là sự chứng ngộ, niệm theo ý nghĩa là làm chủ là sự chứng ngộ, tuệ theo ý nghĩa là vượt trội hơn là sự chứng ngộ, giải thoát theo ý nghĩa là cốt tủy là sự chứng ngộ, Niết-bàn là sự nhập vào bất tử theo ý nghĩa là cứu cánh là sự chứng ngộ.
21. Kiṃ nu ettakoyeva abhisamayoti? Na hi. Sotāpattimaggakkhaṇe dassanābhisamayo sammādiṭṭhi…pe… amatogadhaṃ nibbānaṃ pariyosānaṭṭhena abhisamayo.
21. Is this all there is to penetration? No. At the moment of the stream-entry path, penetration by seeing is right view… Nibbāna, immersed in the deathless, is penetration in the sense of culmination.
21. Phải chăng sự chứng ngộ chỉ có chừng ấy thôi? Không phải vậy. Trong sát-na của đạo Tu-đà-hoàn, sự chứng ngộ bằng cách thấy là chánh kiến… (v.v.)… Niết-bàn là sự nhập vào bất tử theo ý nghĩa là cứu cánh là sự chứng ngộ.
Kiṃ nu ettakoyeva abhisamayoti? Na hi. Sotāpattiphalakkhaṇe dassanābhisamayo sammādiṭṭhi…pe… paṭippassaddhaṭṭhena anuppāde ñāṇaṃ abhisamayo. Chando mūlaṭṭhena abhisamayo…pe… amatogadhaṃ 5 nibbānaṃ pariyosānaṭṭhena abhisamayo.
Is this all there is to penetration? No. At the moment of stream-entry fruition, penetration by seeing is right view… penetration is the knowledge of non-arising in the sense of subsiding. Desire is penetration in the sense of root… Nibbāna, immersed in the deathless, is penetration in the sense of culmination.
Phải chăng sự chứng ngộ chỉ có chừng ấy thôi? Không phải vậy. Trong sát-na của quả Tu-đà-hoàn, sự chứng ngộ bằng cách thấy là chánh kiến… (v.v.)… sự chứng ngộ tri kiến về vô sanh theo ý nghĩa là đã được an tịnh. Dục theo ý nghĩa là căn bản là sự chứng ngộ… (v.v.)… Niết-bàn là sự nhập vào bất tử theo ý nghĩa là cứu cánh là sự chứng ngộ.
Kiṃ nu ettakoyeva abhisamayoti?
Is this all there is to penetration?
Phải chăng sự chứng ngộ chỉ có chừng ấy thôi?
Na hi. Sakadāgāmimaggakkhaṇe…pe… sakadāgāmiphalakkhaṇe… anāgāmimaggakkhaṇe… anāgāmiphalakkhaṇe… arahattamaggakkhaṇe…pe… arahattaphalakkhaṇe dassanābhisamayo sammādiṭṭhi, abhiniropanābhisamayo sammāsaṅkappo…pe… paṭippassaddhaṭṭhena anuppāde ñāṇaṃ abhisamayo. Chando mūlaṭṭhena abhisamayo…pe… amatogadhaṃ nibbānaṃ pariyosānaṭṭhena abhisamayo.
No. At the moment of the once-returner path… at the moment of the once-returner fruition… at the moment of the non-returner path… at the moment of the non-returner fruition… at the moment of the arahantship path… at the moment of the arahantship fruition, penetration by seeing is right view, penetration by application is right intention… penetration is the knowledge of non-arising in the sense of subsiding. Desire is penetration in the sense of root… Nibbāna, immersed in the deathless, is penetration in the sense of culmination.
Không phải vậy. Trong sát-na của đạo Tư-đà-hàm… (v.v.)… trong sát-na của quả Tư-đà-hàm… trong sát-na của đạo A-na-hàm… trong sát-na của quả A-na-hàm… trong sát-na của đạo A-la-hán… (v.v.)… trong sát-na của quả A-la-hán, sự chứng ngộ bằng cách thấy là chánh kiến, sự chứng ngộ bằng cách hướng đến là chánh tư duy… (v.v.)… sự chứng ngộ tri kiến về vô sanh theo ý nghĩa là đã được an tịnh. Dục theo ý nghĩa là căn bản là sự chứng ngộ… (v.v.)… Niết-bàn là sự nhập vào bất tử theo ý nghĩa là cứu cánh là sự chứng ngộ.
Yvāyaṃ † kilese pajahati, atīte kilese pajahati…pe… anāgate kilese pajahati, paccuppanne kilese pajahati, atīte kilese pajahatīti. Hañci atīte kilese pajahati, tena hi khīṇaṃ khepeti, niruddhaṃ nirodheti, vigataṃ vigameti, atthaṅgataṃ atthaṅgameti, atītaṃ yaṃ na atthi taṃ pajahatīti? Na atīte kilese pajahatīti. Anāgate kilese pajahatīti. Hañci anāgate kilese pajahati, tena hi ajātaṃ pajahati, anibbattaṃ pajahati, anuppannaṃ pajahati, apātubhūtaṃ pajahati, anāgataṃ yaṃ na atthi taṃ pajahatīti? Na anāgate kilese pajahatīti. Paccuppanne kilese pajahatīti. Hañci paccuppanne kilese pajahati, tena hi ratto rāgaṃ pajahati, duṭṭho dosaṃ pajahati, mūḷho mohaṃ pajahati, vinibaddho mānaṃ pajahati, parāmaṭṭho diṭṭhiṃ pajahati,
Regarding one who abandons defilements: does he abandon past defilements, future defilements, or present defilements? If he abandons past defilements, then does he eliminate what is exhausted, cease what has ceased, make disappear what has disappeared, make set what has set—does he abandon the past, which does not exist? No, he does not abandon past defilements. If he abandons future defilements, then does he abandon what is unborn, unproduced, unarisen, unmanifested—does he abandon the future, which does not exist? No, he does not abandon future defilements. If he abandons present defilements, then does a lustful person abandon lust, a hateful person abandon hate, a deluded person abandon delusion, a fettered person abandon conceit, one who grasps wrongly abandon views,
Vị nào đoạn trừ các phiền não, vị ấy đoạn trừ các phiền não trong quá khứ… (v.v.)… đoạn trừ các phiền não trong tương lai, đoạn trừ các phiền não trong hiện tại, có phải vị ấy đoạn trừ các phiền não trong quá khứ? Nếu vị ấy đoạn trừ các phiền não trong quá khứ, thì có phải vị ấy làm cho tận diệt điều đã tận diệt, làm cho đoạn diệt điều đã đoạn diệt, làm cho tiêu tan điều đã tiêu tan, làm cho biến mất điều đã biến mất, có phải vị ấy đoạn trừ điều không có trong quá khứ? Không phải vị ấy đoạn trừ các phiền não trong quá khứ. Có phải vị ấy đoạn trừ các phiền não trong tương lai? Nếu vị ấy đoạn trừ các phiền não trong tương lai, thì có phải vị ấy đoạn trừ điều chưa sanh, đoạn trừ điều chưa được tạo ra, đoạn trừ điều chưa khởi lên, đoạn trừ điều chưa hiện rõ, có phải vị ấy đoạn trừ điều không có trong tương lai? Không phải vị ấy đoạn trừ các phiền não trong tương lai. Có phải vị ấy đoạn trừ các phiền não trong hiện tại? Nếu vị ấy đoạn trừ các phiền não trong hiện tại, thì có phải người tham ái đoạn trừ tham ái, người sân hận đoạn trừ sân hận, người si mê đoạn trừ si mê, người bị trói buộc đoạn trừ ngã mạn, người chấp thủ đoạn trừ tà kiến,
Vikkhepagato uddhaccaṃ pajahati, aniṭṭhaṅgato vicikicchaṃ pajahati, thāmagato anusayaṃ pajahati, kaṇhasukkadhammā yuganaddhā samameva vattanti, saṃkilesikā † maggabhāvanā hoti?
Does the distracted one abandon restlessness, the indecisive one abandon doubt, and the one who has attained strength abandon latent tendencies? Do dark and bright qualities, yoked together, proceed equally, and is the development of the path defiled?
người bị phân tán đoạn trừ trạo cử, người chưa đi đến quyết định đoạn trừ hoài nghi, người đã đạt đến sức mạnh đoạn trừ tùy miên, các pháp đen và trắng được song hành và diễn tiến đồng thời, sự tu tiến đạo trở thành ô nhiễm phải không?
Na hi atīte kilese pajahati, na anāgate kilese pajahati, na paccuppanne kilese pajahatīti. Hañci na atīte kilese pajahati, na anāgate…pe… na paccuppanne kilese pajahati, tena hi natthi maggabhāvanā, natthi phalasacchikiriyā, natthi kilesappahānaṃ, natthi dhammābhisamayoti? Atthi maggabhāvanā, atthi phalasacchikiriyā, atthi kilesappahānaṃ, atthi dhammābhisamayo. Yathā kathaṃ viya? Seyyathāpi taruṇo rukkho ajātaphalo. Tamenaṃ puriso mūlaṃ chindeyya. Ye tassa rukkhassa ajātaphalā, te ajātāyeva na jāyanti, anibbattāyeva na nibbattanti, anuppannāyeva na uppajjanti, apātubhūtāyeva na pātubhavanti. Evamevaṃ uppādo hetu, uppādo paccayo kilesānaṃ nibbattiyāti. Uppāde ādīnavaṃ disvā anuppāde cittaṃ pakkhandati. Anuppāde cittassa pakkhandattā ye uppādapaccayā kilesā nibbatteyyuṃ, te ajātāyeva na jāyanti, anibbattāyeva na nibbattanti, anuppannāyeva na uppajjanti, apātubhūtāyeva na pātubhavanti. Evaṃ hetunirodhā dukkhanirodho. Pavattaṃ hetu, nimittaṃ hetu, āyūhanā hetu. Āyūhanā paccayo kilesānaṃ nibbattiyāti. Āyūhane ādīnavaṃ disvā anāyūhane cittaṃ pakkhandati. Anāyūhane cittassa pakkhandattā, ye āyūhanapaccayā kilesā nibbatteyyuṃ, te ajātāyeva na jāyanti, anibbattāyeva na nibbattanti, anuppannāyeva na uppajjanti, apātubhūtāyeva na pātubhavanti. Evaṃ hetunirodhā dukkhanirodho. Evaṃ atthi maggabhāvanā, atthi phalasacchikiriyā, atthi kilesappahānaṃ, atthi dhammābhisamayoti.
One does not abandon defilements of the past, nor defilements of the future, nor defilements of the present. If one does not abandon defilements of the past, nor defilements of the future... nor defilements of the present, then is there no development of the path, no realization of the fruit, no abandoning of defilements, no penetration of the Dhamma? There is development of the path, there is realization of the fruit, there is abandoning of defilements, there is penetration of the Dhamma. How is that so? Just as a young tree that has not yet borne fruit—if a person were to cut it at the root, those fruits of that tree that have not yet arisen, being unborn, do not arise; being unproduced, are not produced; being unoriginated, do not originate; being unmanifested, do not manifest. Even so, arising is the cause, arising is the condition for the coming into being of defilements. Seeing the danger in arising, the mind inclines toward non-arising. Because the mind inclines toward non-arising, those defilements that would come into being dependent on arising, being unborn, do not arise; being unproduced, are not produced; being unoriginated, do not originate; being unmanifested, do not manifest. Thus, with the cessation of the cause comes the cessation of suffering. Continuance is the cause, the sign is the cause, striving is the cause. Striving is the condition for the coming into being of defilements. Seeing the danger in striving, the mind inclines toward non-striving. Because the mind inclines toward non-striving, those defilements that would come into being dependent on striving, being unborn, do not arise; being unproduced, are not produced; being unoriginated, do not originate; being unmanifested, do not manifest. Thus, with the cessation of the cause comes the cessation of suffering. In this way, there is development of the path, there is realization of the fruit, there is abandoning of defilements, there is penetration of the Dhamma.
Thật vậy, vị ấy không đoạn trừ các phiền não trong quá khứ, không đoạn trừ các phiền não trong tương lai, không đoạn trừ các phiền não trong hiện tại. Nếu vị ấy không đoạn trừ các phiền não trong quá khứ, không ... trong tương lai ... không đoạn trừ các phiền não trong hiện tại, vậy thì không có sự tu tập Thánh đạo, không có sự chứng ngộ quả, không có sự đoạn trừ phiền não, không có sự thông hiểu Giáo pháp phải không? Có sự tu tập Thánh đạo, có sự chứng ngộ quả, có sự đoạn trừ phiền não, có sự thông hiểu Giáo pháp. Giống như thế nào? Ví như có cây non chưa ra quả. Có người chặt đứt gốc của nó. Những quả chưa sanh của cây ấy, chúng chưa sanh ra rồi thì sẽ không sanh ra nữa, chưa phát sanh rồi thì sẽ không phát sanh nữa, chưa khởi lên rồi thì sẽ không khởi lên nữa, chưa hiện khởi rồi thì sẽ không hiện khởi nữa. Tương tự y như thế, sự sanh khởi là nhân, sự sanh khởi là duyên cho sự phát sanh của các phiền não. Do thấy được sự nguy hại trong sự sanh khởi, tâm hướng vào sự không sanh khởi. Do tâm hướng vào sự không sanh khởi, những phiền não nào có thể phát sanh do duyên là sự sanh khởi, chúng chưa sanh ra rồi thì sẽ không sanh ra nữa, chưa phát sanh rồi thì sẽ không phát sanh nữa, chưa khởi lên rồi thì sẽ không khởi lên nữa, chưa hiện khởi rồi thì sẽ không hiện khởi nữa. Như vậy, do nhân diệt nên khổ diệt. Sự tiếp diễn là nhân, tướng là nhân, sự nỗ lực là nhân. Sự nỗ lực là duyên cho sự phát sanh của các phiền não. Do thấy được sự nguy hại trong sự nỗ lực, tâm hướng vào sự không nỗ lực. Do tâm hướng vào sự không nỗ lực, những phiền não nào có thể phát sanh do duyên là sự nỗ lực, chúng chưa sanh ra rồi thì sẽ không sanh ra nữa, chưa phát sanh rồi thì sẽ không phát sanh nữa, chưa khởi lên rồi thì sẽ không khởi lên nữa, chưa hiện khởi rồi thì sẽ không hiện khởi nữa. Như vậy, do nhân diệt nên khổ diệt. Như vậy, có sự tu tập Thánh đạo, có sự chứng ngộ quả, có sự đoạn trừ phiền não, có sự thông hiểu Giáo pháp.
Abhisamayakathā niṭṭhitā.
The Discourse on Penetration is concluded.
Phần Luận Về Sự Thông Hiểu đã chấm dứt.