Bản dịch
PS 3.2 — Giảng về Thần Thông
3.2. Iddhikathā
Điều gì là thần thông? Thần thông có bao nhiêu loại? có bao nhiêu lãnh vực? có bao nhiêu cơ sở? có bao nhiêu căn bản? có bao nhiêu cội nguồn?
Điều gì là thần thông? Theo ý nghĩa thành tựu là thần thông.
Thần thông có bao nhiêu loại? Thần thông có mười loại.
Thần thông có bao nhiêu lãnh vực? Thần thông có bốn lãnh vực, có bốn cơ sở, có tám căn bản, có mười sáu cội nguồn.
Mười loại thần thông gì? Thần thông do chú nguyện, thần thông do biến hóa, thần thông do ý tạo thành, thần thông do sự can thiệp của trí, thần thông do sự can thiệp của định, thần thông thuộc về bậc Thánh, thần thông sanh lên do kết quả của nghiệp, thần thông của người có phước báu, thần thông do chú thuật, thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên ứng dụng đúng đắn tùy theo trường hợp.
Bốn lãnh vực gì của thần thông? Sơ thiền là lãnh vực sanh lên do viễn ly, nhị thiền là lãnh vực của hỷ và lạc, tam thiền là lãnh vực của xả và lạc, tứ thiền là lãnh vực của không khổ không lạc. Bốn lãnh vực này của thần thông đưa đến sự đạt được thần thông, sự thành đạt thần thông, sự thể hiện thần thông, sự biến hóa thần thông, sở trường về thần thông, sự tự tín về thần thông.
Bốn cơ sở gì của thần thông? Ở đây vị tỳ khưu tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do ước muốn và các tạo tác do nỗ lực, tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do tinh tấn và các tạo tác do nỗ lực, tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do tâm và các tạo tác do nỗ lực, tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do thẩm xét và các tạo tác do nỗ lực. Bốn cơ sở này của thần thông đưa đến sự đạt được thần thông, sự thành đạt thần thông, sự thể hiện thần thông, sự biến hóa thần thông, sở trường về thần thông, tự tín về thần thông.
Tám căn bản gì của thần thông? Nếu do ước muốn, vị tỳ khưu đạt được định, đạt được trạng thái chuyên nhất của tâm, (như vậy) ước muốn không phải là định, định không phải là ước muốn; ước muốn là điều khác, định là điều khác. Nếu do tinh tấn, vị tỳ khưu đạt được định, đạt được trạng thái chuyên nhất của tâm, (như vậy) tinh tấn không phải là định, định không phải là tinh tấn; tinh tấn là điều khác, định là điều khác. Nếu do tâm, vị tỳ khưu đạt được định, đạt được trạng thái chuyên nhất của tâm, (như vậy) tâm không phải là định, định không phải là tâm; tâm là điều khác, định là điều khác. Nếu do thẩm xét, vị tỳ khưu đạt được định, đạt được trạng thái chuyên nhất của tâm, (như vậy) thẩm xét không phải là định, định không phải là thẩm xét; thẩm xét là điều khác, định là điều khác. Tám căn bản này của thần thông đưa đến sự đạt được thần thông, sự thành đạt thần thông, sự thể hiện thần thông, sự biến hóa thần thông, sở trường về thần thông, sự tự tín về thần thông.
Mười sáu cội nguồn gì của thần thông? ‘Không bị trì trệ, tâm không động bởi biếng nhác’ là bất động. ‘Không bị hưng phấn, tâm không động bởi phóng dật’ là bất động. ‘Không quá chăm chú, tâm không động bởi tham ái’ là bất động. ‘Không xua đuổi, tâm không động bởi sân độc’ là bất động. ‘Không lệ thuộc, tâm không động bởi kiến’ là bất động. ‘Không gắn bó, tâm không động bởi ước muốn và tham ái’ là bất động. ‘Được phóng thích, tâm không động bởi ái dục’ là bất động. ‘Thoát khỏi ràng buộc, tâm không động bởi phiền não’ là bất động. ‘Được thoát khỏi chướng ngại, tâm không động bởi chướng ngại phiền não’ là bất động. ‘Đạt đến trạng thái chuyên nhất, tâm không động bởi các phiền não có bản chất khác biệt’ là bất động. ‘Được nắm giữ bởi đức tin, tâm không động bởi không có đức tin’ là bất động. ‘Được nắm giữ bởi tinh tấn, tâm không động bởi biếng nhác’ là bất động. ‘Được nắm giữ bởi niệm, tâm không động bởi buông lung’ là bất động. ‘Được nắm giữ bởi định, tâm không động bởi phóng dật’ là bất động. ‘Được nắm giữ bởi tuệ, tâm không động bởi vô minh’ là bất động. ‘Đạt đến ánh sáng, tâm không động bởi bóng tối vô minh’ là bất động. Mười sáu cội nguồn này của thần thông đưa đến sự đạt được thần thông, sự thành đạt thần thông, sự thể hiện thần thông, sự biến hóa thần thông, sở trường về thần thông, sự tự tín về thần thông.
Thần thông gì do chú nguyện? Ở đây, vị tỳ khưu kinh nghiệm thần thông nhiều thể loại: chỉ là một hóa thành nhiều, là nhiều hóa thành một, hiện ra, biến mất, đi xuyên qua vách nhà, xuyên qua tường thành, xuyên qua núi non không bị ngăn trở như là ở khoảng không, trồi lên và chìm xuống vào trong đất như là ở trong nước, đi ở trên nước mà không làm chao động như là ở trên đất, di chuyển với thế kiết già ở trên hư không cũng như loài chim có cánh, bằng bàn tay sờ đến chạm vào ngay cả mặt trăng và mặt trời (là những vật) có đại thần lực như thế có đại oai lực như thế, bằng thân vị ấy thể hiện sự tác động đến tận cõi Phạm Thiên.
Ở đây: ở quan điểm này, ở sự mong muốn này, ở khuynh hướng này, ở sự chọn lọc này, ở Pháp này, ở Luật này, ở Pháp và Luật này, ở học thuyết này, ở Phạm hạnh này, ở lời dạy này của bậc Đạo Sư; vì thế được nói rằng: “Ở đây.”
Vị tỳ khưu: vị tỳ khưu là phàm nhân hoàn thiện, hoặc là vị Hữu Học, hoặc là vị A-la-hán có pháp không thể thay đổi.
Kinh nghiệm thần thông nhiều thể loại: là kinh nghiệm thể loại thần thông có cách thể hiện khác biệt.
Chỉ là một hóa thành nhiều: Bình thường là một, hướng tâm đến nhiều, hoặc hướng tâm đến một trăm, hoặc một ngàn, hoặc một trăm ngàn. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Ta hãy là nhiều” và trở thành nhiều. Giống như đại đức Cūḷapanthaka chỉ là một hóa thành nhiều; tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt đến năng lực của ý, chỉ là một hóa thành nhiều.
Là nhiều hóa thành một: Bình thường là nhiều, hướng tâm đến một. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Ta hãy là một” và trở thành một. Giống như đại đức Cullapanthaka là nhiều hóa thành một; tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt đến năng lực của ý, là nhiều hóa thành một.
Hiện ra: là không bị ngăn che, không bị che đậy bởi bất cứ vật gì, được mở ra, được hiển hiện.
Biến mất: là bị ngăn che, bị che đậy bởi bất cứ vật gì, bị đóng lại, bị lật úp lại.
Đi xuyên qua vách nhà, xuyên qua tường thành, xuyên qua núi non không bị ngăn trở như là ở khoảng không: Là vị thành tựu sự chứng đạt đề mục hư không một cách tự nhiên. (Vị ấy) hướng tâm đến việc xuyên qua vách nhà, xuyên qua tường thành, xuyên qua núi non. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Hãy là hư không” và trở thành hư không. (Vị ấy) đi xuyên qua vách nhà, xuyên qua tường thành, xuyên qua núi non không bị ngăn trở. Giống như những người, ở trạng thái bình thường không có thần thông, ở chỗ không bị ngăn che, không bị che đậy bất cứ vật gì, đi không bị ngăn trở; tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, đi xuyên qua vách nhà, xuyên qua tường thành, xuyên qua núi non không bị ngăn trở như là ở khoảng không.
Trồi lên và chìm xuống vào trong đất như là ở trong nước: Là vị thành tựu sự chứng đạt đề mục nước một cách tự nhiên. (Vị ấy) hướng tâm đến đất. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Hãy là nước” và trở thành nước. Vị ấy trồi lên và chìm xuống vào trong đất. Giống như những người, ở trạng thái bình thường không có thần thông, trồi lên và chìm vào trong nước; tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, trồi lên và chìm xuống vào trong đất như là ở trong nước.
Đi ở trên nước mà không làm chao động như là ở trên đất: Là vị thành tựu sự chứng đạt đề mục đất một cách tự nhiên. (Vị ấy) hướng tâm đến nước. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Hãy là đất” và trở thành đất. Vị ấy đi ở trên nước mà (nước) không bị tách ra. Giống như những người, ở trạng thái bình thường không có thần thông, đi ở trên đất mà (đất) không bị tách ra; tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, đi ở trên nước mà (nước) không bị tách ra như là ở trên đất.
Di chuyển với thế kiết già ở trên hư không cũng như loài chim có cánh: Là vị thành tựu sự chứng đạt đề mục đất một cách tự nhiên. (Vị ấy) hướng tâm đến hư không. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Hãy là đất” và trở thành đất. Vị ấy đi tới lui ở trên hư không bầu trời, rồi đứng lại, ngồi xuống, rồi nằm xuống. Giống như những người, ở trạng thái bình thường không có thần thông, đi tới lui ở trên đất, rồi đứng lại, ngồi xuống, rồi nằm xuống;
tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, đi tới lui ở trên hư không bầu trời, rồi đứng lại, ngồi xuống, rồi nằm xuống cũng như loài chim có cánh.
Bằng bàn tay sờ đến chạm vào ngay cả mặt trăng và mặt trời (là những vật) có đại thần lực như thế có đại oai lực như thế: Ở đây, vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, đang ngồi hoặc đang nằm, hưóng tâm đến mặt trăng và mặt trời. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Hãy là ở trong tầm tay” và trở thành ở trong tầm tay. Vị ấy, đang ngồi hoặc đang nằm, bằng bàn tay đụng đến sờ đến chạm vào mặt trăng và mặt trời. Giống như những người, ở trạng thái bình thường không có thần thông, bằng bàn tay đụng đến sờ đến chạm vào bất cứ vật gì có hình thể ở trong tầm tay; tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, đang ngồi hoặc đang nằm, bằng bàn tay đụng đến sờ đến chạm vào mặt trăng và mặt trời.
Bằng thân vị ấy thể hiện sự tác động đến tận cõi Phạm Thiên: Nếu vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, có ý muốn đi đến cõi Phạm Thiên, dầu xa chú nguyện là gần rằng: “Hãy là gần” và trở thành gần, dầu gần chú nguyện thành xa rằng: “Hãy là xa” và trở thành xa, dầu nhiều chú nguyện thành ít rằng: “Hãy là ít” và trở thành ít, dầu ít chú nguyện thành nhiều rằng: “Hãy là nhiều” và trở thành nhiều, nhìn thấy hình dáng của vị Phạm Thiên ấy bằng thiên nhãn, nghe được tiếng của vị Phạm Thiên ấy bằng thiên nhĩ, nhận biết tâm của vị Phạm Thiên ấy bằng trí biết được tâm của người khác. Nếu vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, có ý muốn đi đến cõi Phạm Thiên bằng thân được nhìn thấy, (vị ấy) hoán chuyển tâm theo năng lực của thân, chú nguyện tâm theo năng lực của thân. Sau khi hoán chuyển tâm theo năng lực của thân, sau khi chú nguyện tâm theo năng lực của thân, sau khi nhập vào lạc tưởng và khinh tưởng, vị ấy đi đến cõi Phạm Thiên bằng thân được nhìn thấy. Nếu vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, có ý muốn đi đến cõi Phạm Thiên bằng thân không được nhìn thấy, (vị ấy) hoán chuyển thân theo năng lực của tâm, chú nguyện thân theo năng lực của tâm. Sau khi hoán chuyển thân theo năng lực của tâm, sau khi chú nguyện thân theo năng lực của tâm, sau khi nhập vào lạc tưởng và khinh tưởng, vị ấy đi đến cõi Phạm Thiên bằng thân không được nhìn thấy. Vị ấy làm ra hình thể được tạo thành bởi ý có tất cả các bộ phận lớn nhỏ và có giác quan hoàn chỉnh ở phía trước vị Phạm Thiên ấy. Nếu vị có thần thông ấy đi kinh hành, hình biến hóa (của vị ấy) cũng đi kinh hành ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy đứng lại, hình biến hóa cũng đứng lại ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy ngồi xuống, hình biến hóa cũng ngồi xuống ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy nằm, hình biến hóa cũng nằm ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy phun khói, hình biến hóa cũng phun khói ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy phát sáng, hình biến hóa cũng phát sáng ở nơi ấy.
Nếu vị có thần thông ấy thuyết Pháp, hình biến hóa cũng thuyết Pháp ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy hỏi câu hỏi, hình biến hóa cũng hỏi câu hỏi ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy trả lời khi được hỏi câu hỏi, hình biến hóa cũng trả lời khi được hỏi câu hỏi ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy đứng chung chuyện vãn, bàn luận với vị Phạm Thiên ấy, hình biến hóa cũng đứng chung chuyện vãn, bàn luận với vị Phạm Thiên ấy ở nơi ấy. Vị có thần thông ấy làm bất cứ việc gì, hình biến hóa (của vị ấy) cũng làm chính ngay việc ấy. Đây là thần thông do chú nguyện.
Thần thông do biến hóa là gì? Vị Thinh Văn của đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác Sikhī tên là Abhibhū đứng ở cõi Phạm Thiên đã dùng giọng nói thông báo đến một ngàn cõi thế giới. Vị ấy đã thuyết Pháp với thân được nhìn thấy, đã thuyết Pháp với thân không được nhìn thấy, đã thuyết Pháp với nửa phần thân dưới được nhìn thấy với nửa phần thân trên không được nhìn thấy, đã thuyết Pháp với nửa phần thân trên được nhìn thấy với nửa phần thân dưới không được nhìn thấy. Vị ấy rời bỏ hình dạng bình thường và phô bày hình dạng của thiếu niên, hoặc phô bày hình dạng của loài rồng, hoặc phô bày hình dạng của loài nhân điểu, hoặc phô bày hình dạng của loài dạ-xoa, hoặc phô bày hình dạng của vị Thiên Vương, hoặc phô bày hình dạng của vị thiên nhân, hoặc phô bày hình dạng của Phạm Thiên, hoặc phô bày hình dạng của biển cả, hoặc phô bày hình dạng của ngọn núi, hoặc phô bày hình dạng của khu rừng, hoặc phô bày hình dạng của loài sư tử, hoặc phô bày hình dạng của loài cọp, hoặc phô bày hình dạng của loài beo, hoặc phô bày hình dạng của loài voi, hoặc phô bày hình dạng của loài ngựa, hoặc phô bày hình dạng của xe kéo, hoặc phô bày hình dạng của người lính, hoặc phô bày hình dạng của đoàn quân nhiều binh chủng. Đây là thần thông do biến hóa.
Thần thông do ý tạo thành là gì? Ở đây, vị tỳ khưu từ thân này làm ra thân khác có hình thể được tạo thành bởi ý với tất cả các bộ phận lớn nhỏ và có giác quan hoàn chỉnh. Cũng giống như người đàn ông rút ra sợi rơm từ cọng cỏ muñja. Vị ấy có thể nghĩ như vậy: “Đây là cọng cỏ muñja, đây là sợi rơm. Cọng cỏ muñja là khác, sợi rơm là khác. Nhưng chính sợi rơm được rút ra từ cọng cỏ muñja.” Hoặc cũng giống như người đàn ông có thể rút ra thanh gươm từ vỏ bọc. Vị ấy có thể nghĩ như vậy: “Đây là thanh gươm, đây là vỏ bọc. Thanh gươm là khác, vỏ bọc là khác. Nhưng chính thanh gươm được rút ra từ vỏ bọc.” Hoặc cũng giống như người đàn ông có thể tuốt ra con rắn từ lớp da. Vị ấy có thể nghĩ như vậy: “Đây là con rắn, đây là lớp da. Con rắn là khác, lớp da là khác. Nhưng chính con rắn được tuốt ra từ lớp da;” tương tợ như thế, vị tỳ khưu từ thân này làm ra thân khác có hình thể được tạo thành bởi ý với tất cả các bộ phận lớn nhỏ và có giác quan hoàn chỉnh. Đây là thần thông do ý tạo thành.
Thần thông do sự can thiệp của trí là gì? ‘Do sự quán xét về vô thường, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về thường được thành tựu’ là thần thông do sự can thiệp của trí. ‘Do sự quán xét về khổ não, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về lạc … ‘Do sự quán xét về vô ngã, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về ngã … ‘Do sự quán xét về nhàm chán, ý nghĩa dứt bỏ sự vui thích … ‘Do sự quán xét về ly tham ái, ý nghĩa dứt bỏ tham ái … ‘Do sự quán xét về diệt tận, ý nghĩa dứt bỏ nhân sanh khởi … ‘Do sự quán xét về từ bỏ, ý nghĩa dứt bỏ sự nắm giữ được thành tựu’ là thần thông do sự can thiệp của trí. Thần thông của đại đức Bakkula là do sự can thiệp của trí. Thần thông của đại đức Saṅkicca là do sự can thiệp của trí. Thần thông của đại đức Bhūtapāla là do sự can thiệp của trí. Đây là thần thông do sự can thiệp của trí.
Thần thông do sự can thiệp của định là gì ‘Do sơ thiền, ý nghĩa dứt bỏ các pháp ngăn che được thành tựu’ là thần thông do sự can thiệp của định. ‘Do nhị thiền, ý nghĩa dứt bỏ tầm tứ được thành tựu’ là thần thông do sự can thiệp của định. ‘Do tam thiền, ý nghĩa dứt bỏ hỷ được thành tựu’ … ‘Do tứ thiền, ý nghĩa dứt bỏ lạc và khổ được thành tựu’ … ‘Do sự chứng đạt không vô biên xứ, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về sắc, nghĩ tưởng về bất bình, nghĩ tưởng về khác biệt được thành tựu’ … ‘Do sự chứng đạt thức vô biên xứ, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ được thành tựu’ … ‘Do sự chứng đạt vô sở hữu xứ, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ được thành tựu’ … ‘Do sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ được thành tựu’ là thần thông do sự can thiệp của định. Thần thông của đại đức Sārī-putta là do sự can thiệp của định. Thần thông của đại đức Sañjīva là do sự can thiệp của định. Thần thông của đại đức Khāṇukoṇḍañña là do sự can thiệp của định. Thần thông của nữ cư sĩ Uttarā là do sự can thiệp của định. Thần thông của nữ cư sĩ Sāmāvatī là do sự can thiệp của định. Đây là thần thông do sự can thiệp của định.
Thần thông thuộc về bậc Thánh là gì? Ở đây, vị tỳ khưu nếu ước mong rằng: “Ta có thể an trú vào vật nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm,” rồi an trú vào nơi ấy với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm; nếu ước mong rằng: “Ta có thể an trú vào vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm,” rồi an trú vào nơi ấy với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm; nếu ước mong rằng: “Ta có thể an trú vào vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm,” rồi an trú vào nơi ấy với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm; nếu ước mong rằng: “Ta có thể an trú vào vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm,” rồi an trú vào nơi ấy với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm; nếu ước mong rằng: “Về vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm, sau khi ngăn ngừa cả hai vật ấy, với trạng thái xả ta có thể an trú (vào hai vật ấy) có niệm và có sự nhận biết rõ rệt,” rồi với trạng thái xả (vị ấy) an trú vào nơi ấy, có niệm và có sự nhận biết rõ rệt.
An trú vào vật nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với sự việc không được mong muốn, hoặc là chuyên chú vào lòng từ hoặc là liên tưởng về bản thể. An trú vào vật nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm là (có ý nghĩa) như thế.
An trú vào vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với sự việc mong muốn, hoặc là chuyên chú vào bất tịnh hoặc là liên tưởng về vô thường. An trú vào vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm là (có ý nghĩa) như thế.
An trú vào vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với sự việc không mong muốn và đối với sự việc mong muốn, hoặc là chuyên chú vào lòng từ hoặc là liên tưởng về bản thể. An trú vào vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm là (có ý nghĩa) như thế.
An trú vào vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với sự việc mong muốn, hoặc là chuyên chú vào bất tịnh hoặc là liên tưởng về vô thường. An trú vào vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm là (có ý nghĩa) như thế.
Về vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm, sau khi ngăn ngừa cả hai vật ấy, với trạng thái xả an trú (vào hai vật ấy), có niệm và có sự nhận biết rõ rệt là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, vị tỳ khưu, sau khi nhìn thấy sắc bằng mắt, là không vui không buồn, với trạng thái xả an trú (vào vật ấy), có niệm và có sự nhận biết rõ rệt. Sau khi nghe thinh (âm thanh) bằng tai … Sau khi ngửi khí (mùi) bằng mũi … Sau khi nếm vị bằng lưỡi … Sau khi va chạm (cảnh) xúc bằng thân … Sau khi nhận thức pháp bằng ý, là không vui không buồn, với trạng thái xả an trú (vào vật ấy), có niệm và có sự nhận biết rõ rệt. Về vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm, sau khi ngăn ngừa cả hai vật ấy, với trạng thái xả an trú (vào hai vật ấy), có niệm và có sự nhận biết rõ rệt là (có ý nghĩa) như thế. Đây là thần thông thuộc về bậc Thánh.
Thần thông sanh lên do kết quả của nghiệp là gì? Là của tất cả các loài có cánh, là của tất cả chư thiên, là của một số thuộc nhân loại, là của một số thuộc hàng đọa xứ. Đây là thần thông sanh lên do kết quả của nghiệp.
Thần thông của người có phước báu là gì? Đức chuyển luân vương đi trên không trung cùng với đoàn quân bốn loại binh chủng thậm chí tính luôn cả những kẻ giữ ngựa chăn trâu. Thần thông của gia chủ Jotika là của người có phước báu, thần thông của gia chủ Jaṭila là của người có phước báu, thần thông của gia chủ Meṇḍaka là của người có phước báu, thần thông của gia chủ Ghosita là của người có phước báu. Đây là thần thông của người có phước báu.
Thần thông do chú thuật là gì? Sau khi nói lẩm nhẩm về chú thuật, những người rành rẽ về chú thuật đi trên không trung, phô bày voi, phô bày ngựa, phô bày xe kéo, phô bày người lính, phô bày đoàn quân nhiều binh chủng ở trên hư không bầu trời. Đây là thần thông do chú thuật.
Thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên nỗ lực đúng đắn tùy theo trường hợp là (có ý nghĩa) thế nào? ‘Do thoát ly, ý nghĩa dứt bỏ ước muốn trong các dục được thành tựu’ là thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên ứng dụng đúng đắn tùy theo trường hợp. ‘Do không sân độc, ý nghĩa dứt bỏ sân độc được thành tựu’ là thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên ứng dụng đúng đắn tùy theo trường hợp. …(như trên)… ‘Do Đạo A-la-hán, ý nghĩa dứt bỏ toàn bộ phiền não được thành tựu’ là thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên ứng dụng đúng đắn tùy theo trường hợp. Thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên ứng dụng đúng đắn tùy theo trường hợp là (có ý nghĩa) như thế. Đây là mười loại thần thông.
Phần Giảng về Thần Thông được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Kā iddhi? Kati iddhiyo? Iddhiyā kati bhūmiyo, kati pādā, kati padāni, kati mūlāni? Kā iddhīti? Ijjhanaṭṭhena iddhi. Kati iddhiyoti? Dasa iddhiyo. Iddhiyā kati bhūmiyoti? Iddhiyā catasso bhūmiyo, cattāro pādā, aṭṭha padāni, soḷasa mūlāni.
9. What is psychic power? How many psychic powers are there? For psychic power, how many grounds are there, how many bases, how many proximate causes, how many roots? What is psychic power? Psychic power is so called in the sense of accomplishment. How many psychic powers are there? There are ten psychic powers. For psychic power, how many grounds are there? For psychic power, there are four grounds, four bases, eight proximate causes, and sixteen roots.
9. Thần thông là gì? Có bao nhiêu thần thông? Thần thông có bao nhiêu nền tảng, bao nhiêu cơ sở, bao nhiêu thành phần, bao nhiêu cội rễ? Thần thông là gì? Thần thông có nghĩa là sự thành tựu. Có bao nhiêu thần thông? Có mười thần thông. Thần thông có bao nhiêu nền tảng? Thần thông có bốn nền tảng, bốn cơ sở, tám thành phần, mười sáu cội rễ.
10. Katamā dasa iddhiyo? Adhiṭṭhānā iddhi, vikubbanā iddhi, manomayā iddhi, ñāṇavipphārā iddhi, samādhivipphārā iddhi, ariyā iddhi, kammavipākajā iddhi, puññavato iddhi, vijjāmayā iddhi, tattha tattha sammā payogapaccayā † ijjhanaṭṭhena iddhi.
10. What are the ten powers? The power of determination, the power of transformation, the power of mind-made creation, the power of the pervasion of knowledge, the power of the pervasion of concentration, the noble power, the power born of the result of kamma, the power of the meritorious, the power accomplished through knowledge, and the power of accomplishment through right application in various matters.
10. Mười thần thông là những gì? Thần thông do quyết định, thần thông do biến hóa, thần thông do tâm tạo, thần thông do trí tuệ lan tỏa, thần thông do định lan tỏa, thần thông của bậc Thánh, thần thông do quả của nghiệp, thần thông của người có phước, thần thông do minh chú, và thần thông có nghĩa là sự thành tựu do nhân duyên là sự nỗ lực đúng đắn ở các nơi chốn.
Iddhiyā katamā catasso bhūmiyo? Vivekajābhūmi paṭhamaṃ jhānaṃ, pītisukhabhūmi dutiyaṃ jhānaṃ, upekkhāsukhabhūmi tatiyaṃ jhānaṃ, adukkhamasukhābhūmi catutthaṃ jhānaṃ. Iddhiyā imā catasso bhūmiyo iddhilābhāya iddhipaṭilābhāya iddhivikubbanatāya iddhivisavitāya iddhivasībhāvāya iddhivesārajjāya saṃvattantīti.
What are the four grounds of power? The first jhāna is the ground born of seclusion; the second jhāna is the ground of rapture and happiness; the third jhāna is the ground of equanimity and happiness; the fourth jhāna is the ground of neither-pain-nor-pleasure. These four grounds of power conduce to the acquisition of power, to the re-attainment of power, to the transformation of power, to the wielding of power, to mastery in power, and to confidence in power.
Bốn nền tảng của thần thông là những gì? Nền tảng sinh từ ly dục là Sơ thiền, nền tảng hỷ lạc là Nhị thiền, nền tảng xả lạc là Tam thiền, nền tảng không khổ không lạc là Tứ thiền. Bốn nền tảng này của thần thông đưa đến việc đắc được thần thông, tái đắc được thần thông, biến hóa thần thông, làm chủ thần thông, tự tại trong thần thông, và vô úy trong thần thông.
Iddhiyā katame cattāro pādā? Idha bhikkhu chandasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, cittasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, vīriyasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, vīmaṃsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti. Iddhiyā ime cattāro pādā iddhilābhāya iddhipaṭilābhāya iddhivikubbanatāya iddhivisavitāya iddhivasībhāvāya iddhivesārajjāya saṃvattantīti.
What are the four bases of power? Here, a monk develops the basis of power endowed with concentration due to desire and with volitional formations of striving. He develops the basis of power endowed with concentration due to consciousness and with volitional formations of striving. He develops the basis of power endowed with concentration due to energy and with volitional formations of striving. He develops the basis of power endowed with concentration due to investigation and with volitional formations of striving. These four bases of power conduce to the acquisition of power, to the re-attainment of power, to the transformation of power, to the wielding of power, to mastery in power, and to confidence in power.
Bốn cơ sở của thần thông là những gì? Ở đây, vị tỳ khưu tu tập thần túc thông được trang bị định do dục và các hành tinh tấn, tu tập thần túc thông được trang bị định do tâm và các hành tinh tấn, tu tập thần túc thông được trang bị định do tinh tấn và các hành tinh tấn, tu tập thần túc thông được trang bị định do thẩm sát và các hành tinh tấn. Bốn cơ sở này của thần thông đưa đến việc đắc được thần thông, tái đắc được thần thông, biến hóa thần thông, làm chủ thần thông, tự tại trong thần thông, và vô úy trong thần thông.
Iddhiyā katamāni aṭṭha padāni? Chandaṃ ce bhikkhu nissāya labhati samādhiṃ, labhati cittassa ekaggataṃ. Chando na samādhi, samādhi na chando. Añño chando, añño samādhi. Vīriyaṃ ce bhikkhu nissāya labhati samādhiṃ, labhati cittassa ekaggataṃ. Vīriyaṃ na samādhi, samādhi na vīriyaṃ. Aññaṃ vīriyaṃ, añño samādhi. Cittaṃ ce bhikkhu nissāya labhati samādhiṃ, labhati cittassa ekaggataṃ. Cittaṃ na samādhi, samādhi na cittaṃ. Aññaṃ cittaṃ, añño samādhi. Vīmaṃsaṃ ce bhikkhu nissāya labhati samādhiṃ, labhati cittassa ekaggataṃ. Vīmaṃsā na samādhi, samādhi na vīmaṃsā. Aññā vīmaṃsā, añño samādhi. Iddhiyā imāni aṭṭha padāni iddhilābhāya iddhipaṭilābhāya iddhivikubbanatāya iddhivisavitāya iddhivasībhāvāya iddhivesārajjāya saṃvattantīti.
What are the eight bases of psychic power? If a monk relies on desire, he gains concentration, he gains unification of mind. Desire is not concentration; concentration is not desire. Desire is one thing; concentration is another. If a monk relies on energy, he gains concentration, he gains unification of mind. Energy is not concentration; concentration is not energy. Energy is one thing; concentration is another. If a monk relies on mind, he gains concentration, he gains unification of mind. Mind is not concentration; concentration is not mind. Mind is one thing; concentration is another. If a monk relies on investigation, he gains concentration, he gains unification of mind. Investigation is not concentration; concentration is not investigation. Investigation is one thing; concentration is another. These eight bases of psychic power conduce to the acquisition of psychic power, to the re-attainment of psychic power, to the manifold manifestation of psychic power, to the variety of psychic power, to mastery over psychic power, and to fearlessness in psychic power.
Tám thành phần của thần thông là những gì? Nếu vị tỳ khưu nương vào dục mà đắc được định, đắc được nhất tâm. Dục không phải là định, định không phải là dục. Dục là một pháp khác, định là một pháp khác. Nếu vị tỳ khưu nương vào tinh tấn mà đắc được định, đắc được nhất tâm. Tinh tấn không phải là định, định không phải là tinh tấn. Tinh tấn là một pháp khác, định là một pháp khác. Nếu vị tỳ khưu nương vào tâm mà đắc được định, đắc được nhất tâm. Tâm không phải là định, định không phải là tâm. Tâm là một pháp khác, định là một pháp khác. Nếu vị tỳ khưu nương vào thẩm sát mà đắc được định, đắc được nhất tâm. Thẩm sát không phải là định, định không phải là thẩm sát. Thẩm sát là một pháp khác, định là một pháp khác. Tám thành phần này của thần thông đưa đến việc đắc được thần thông, tái đắc được thần thông, biến hóa thần thông, làm chủ thần thông, tự tại trong thần thông, và vô úy trong thần thông.
Iddhiyā katamāni soḷasa mūlāni? Anonataṃ † cittaṃ kosajje na iñjatīti – āneñjaṃ. Anunnataṃ † cittaṃ uddhacce na iñjatīti – āneñjaṃ. Anabhinataṃ cittaṃ rāge na iñjatīti – āneñjaṃ. Anapanataṃ cittaṃ byāpāde na iñjatīti – āneñjaṃ. Anissitaṃ cittaṃ diṭṭhiyā na iñjatīti – āneñjaṃ. Appaṭibaddhaṃ cittaṃ chandarāge na iñjatīti – āneñjaṃ. Vippamuttaṃ cittaṃ kāmarāge na iñjatīti – āneñjaṃ. Visaññuttaṃ cittaṃ kilese na iñjatīti – āneñjaṃ. Vimariyādikataṃ cittaṃ kilesamariyāde na iñjatīti – āneñjaṃ. Ekattagataṃ † cittaṃ nānattakilesehi † na iñjatīti – āneñjaṃ. Saddhāya pariggahitaṃ cittaṃ assaddhiye na iñjatīti – āneñjaṃ. Vīriyena pariggahitaṃ cittaṃ kosajje na iñjatīti – āneñjaṃ. Satiyā pariggahitaṃ cittaṃ pamāde na iñjatīti – āneñjaṃ. Samādhinā pariggahitaṃ cittaṃ uddhacce na iñjatīti – āneñjaṃ. Paññāya pariggahitaṃ cittaṃ avijjāya na iñjatīti – āneñjaṃ. Obhāsagataṃ cittaṃ avijjandhakāre na iñjatīti – āneñjaṃ. Iddhiyā imāni soḷasa mūlāni iddhilābhāya iddhipaṭilābhāya iddhivikubbanatāya iddhivisavitāya iddhivasībhāvāya iddhivesārajjāya saṃvattantīti.
What are the sixteen roots of psychic power? A mind that does not shrink does not waver in laziness; therefore, it is imperturbable. A mind that is not elated does not waver in restlessness; therefore, it is imperturbable. A mind that is not inclined does not waver in lust; therefore, it is imperturbable. A mind that is not averted does not waver in ill will; therefore, it is imperturbable. A mind that is not dependent does not waver in view; therefore, it is imperturbable. An unbound mind does not waver in sensual desire; therefore, it is imperturbable. A liberated mind does not waver in sensual lust; therefore, it is imperturbable. A dissociated mind does not waver in defilements; therefore, it is imperturbable. A mind that has transcended the limits does not waver at the limits of defilements; therefore, it is imperturbable. A one-pointed mind does not waver due to various defilements; therefore, it is imperturbable. A mind comprehended by faith does not waver in faithlessness; therefore, it is imperturbable. A mind comprehended by energy does not waver in laziness; therefore, it is imperturbable. A mind comprehended by mindfulness does not waver in heedlessness; therefore, it is imperturbable. A mind comprehended by concentration does not waver in restlessness; therefore, it is imperturbable. A mind comprehended by wisdom does not waver in ignorance; therefore, it is imperturbable. A mind that has attained luminosity does not waver in the darkness of ignorance; therefore, it is imperturbable. These sixteen roots of psychic power conduce to the gain of psychic power, to the re-attainment of psychic power, to the transformation of psychic power, to the wielding of psychic power, to mastery over psychic power, and to confidence in psychic power.
Mười sáu căn bản của thần thông là những gì? Tâm không co rút không dao động trong sự lười biếng – (gọi là) bất động. Tâm không trôi nổi không dao động trong sự trạo cử – (gọi là) bất động. Tâm không thiên về không dao động trong tham ái – (gọi là) bất động. Tâm không xa lánh không dao động trong sân hận – (gọi là) bất động. Tâm không nương tựa không dao động trong tà kiến – (gọi là) bất động. Tâm không bị trói buộc không dao động trong dục tham – (gọi là) bất động. Tâm được giải thoát không dao động trong ái dục – (gọi là) bất động. Tâm không bị dính mắc không dao động trong phiền não – (gọi là) bất động. Tâm đã được làm cho vượt khỏi giới hạn không dao động trong giới hạn của phiền não – (gọi là) bất động. Tâm đã đi đến nhất tâm không dao động bởi các phiền não khác nhau – (gọi là) bất động. Tâm được tín thọ trì không dao động trong sự vô tín – (gọi là) bất động. Tâm được tinh tấn thọ trì không dao động trong sự lười biếng – (gọi là) bất động. Tâm được niệm thọ trì không dao động trong sự phóng dật – (gọi là) bất động. Tâm được định thọ trì không dao động trong sự trạo cử – (gọi là) bất động. Tâm được tuệ thọ trì không dao động trong vô minh – (gọi là) bất động. Tâm đã đạt đến quang minh không dao động trong bóng tối vô minh – (gọi là) bất động. Mười sáu căn bản này của thần thông đưa đến sự thành tựu thần thông, sự tái thành tựu thần thông, sự biến hóa của thần thông, sự đa dạng của thần thông, sự làm chủ thần thông, sự dõng mãnh trong thần thông.
Dasaiddhiniddeso
Exposition of the Tenfold Psychic Power
Phần giải thích về mười loại thần thông
10. Katamā adhiṭṭhānā iddhi? Idha bhikkhu anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhoti – ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti; āvibhāvaṃ tirobhāvaṃ; tirokuṭṭaṃ tiropākāraṃ tiropabbataṃ asajjamāno gacchati, seyyathāpi ākāse. Pathaviyāpi ummujjanimujjaṃ karoti, seyyathāpi udake. Udakepi abhijjamāne † gacchati, seyyathāpi pathaviyaṃ. Ākāsepi pallaṅkena kamati, seyyathāpi pakkhī sakuṇo. Imepi candimasūriye evaṃmahiddhike evaṃmahānubhāve pāṇinā parāmasati parimajjati. Yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vattetīti.
10. What is the psychic power of determination? Here, a bhikkhu experiences various kinds of psychic power: being one, he becomes many; having become many, he becomes one. He makes himself visible and invisible. He goes unhindered through a wall, a rampart, and a mountain as if through space. He dives into and emerges from the earth as if in water. He walks on water without it parting, as if on earth. He travels cross-legged in the sky like a winged bird. He touches and strokes with his hand these moon and sun, so mighty and powerful. He exercises mastery with his body even as far as the Brahma world.
10. Thần thông do sự quyết định là gì? Ở đây, vị tỳ khưu trải nghiệm nhiều loại thần thông khác nhau – là một người, vị ấy trở thành nhiều người; là nhiều người, vị ấy trở thành một người; vị ấy thực hiện sự hiện ra, sự biến mất; đi xuyên qua vách, qua tường, qua núi không bị trở ngại, như đi trong hư không. Vị ấy cũng thực hiện sự trồi lên và lặn xuống trong đất liền, như ở trong nước. Vị ấy cũng đi trên nước không bị chìm, như đi trên đất liền. Vị ấy cũng đi trong hư không trong tư thế ngồi kiết-già, như con chim có cánh. Vị ấy chạm đến và vuốt ve mặt trăng và mặt trời này, vốn có đại thần thông và đại oai lực như vậy, bằng tay của mình. Vị ấy cũng tác động đến thân thể cho đến cõi Phạm thiên.
Idhāti imissā diṭṭhiyā imissā khantiyā imissā ruciyā imasmiṃ ādāye imasmiṃ dhamme imasmiṃ vinaye imasmiṃ dhammavinaye imasmiṃ pāvacane imasmiṃ brahmacariye imasmiṃ satthusāsane. Tena vuccati – ‘‘idhā’’ti. Bhikkhūti puthujjanakalyāṇako vā hoti bhikkhu sekho vā arahā vā akuppadhammo. Anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhotīti nānappakāraṃ iddhividhaṃ paccanubhoti. Ekopi hutvā bahudhā hotīti pakatiyā eko bahukaṃ āvajjati, sataṃ vā sahassaṃ vā satasahassaṃ vā āvajjati. Āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti – ‘‘bahulo homī’’ti †. Bahulo hoti. Yathāyasmā cūḷapanthako † ekopi hutvā bahudhā hoti, evamevaṃ so iddhimā cetovasippatto ekopi hutvā bahudhā hoti. Bahudhāpi hutvā eko hotīti pakatiyā bahuko ekaṃ āvajjati; āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti – ‘‘eko homī’’ti. Eko hoti. Yathāyasmā cūḷapanthako bahudhāpi hutvā eko hoti, evamevaṃ so iddhimā cetovasippatto bahudhāpi hutvā eko hoti.
Herein refers to: this view, this liking, this inclination, this adherence, this Dhamma, this Vinaya, this Dhamma and Vinaya, this teaching, this holy life, this Teacher’s Dispensation. Therefore it is said: ‘Herein.’ ‘A bhikkhu’ refers to a bhikkhu who is a virtuous worldling, or a trainee, or an arahant of unshakeable nature. ‘He experiences various kinds of psychic power’ means he experiences manifold kinds of psychic power. ‘Being one, he becomes many’ means that, being naturally one, he adverts to many; he adverts to a hundred, or a thousand, or a hundred thousand. Having adverted, he determines with knowledge: ‘May I become many!’ He becomes many. Just as the Venerable Cūḷapanthaka, being one, became many, so too that one with psychic power who has attained mastery of mind, being one, becomes many. ‘Having become many, he becomes one’ means that, being naturally many, he adverts to one. Having adverted, he determines with knowledge: ‘May I become one!’ He becomes one. Just as the Venerable Cūḷapanthaka, having become many, became one, so too that one with psychic power who has attained mastery of mind, having become many, becomes one.
‘Ở đây’ có nghĩa là: trong quan kiến này, trong sự kham nhẫn này, trong sở thích này, trong sự chấp thủ này, trong Pháp này, trong Luật này, trong Pháp và Luật này, trong lời dạy này, trong phạm hạnh này, trong giáo pháp của bậc Đạo Sư này. Do đó được nói là: ‘ở đây’. ‘Vị tỳ khưu’ có nghĩa là: vị tỳ khưu là thiện phàm phu, hoặc là bậc hữu học, hoặc là bậc A-la-hán có pháp bất động. ‘Vị ấy trải nghiệm nhiều loại thần thông khác nhau’ có nghĩa là vị ấy trải nghiệm các loại thần thông đa dạng. ‘Là một người, vị ấy trở thành nhiều người’ có nghĩa là: theo lẽ thường, một người hướng tâm đến nhiều người, hướng tâm đến một trăm, hoặc một ngàn, hoặc một trăm ngàn. Sau khi hướng tâm, vị ấy quyết định bằng trí tuệ rằng: ‘Mong tôi trở thành nhiều người’. Vị ấy trở thành nhiều người. Giống như Tôn giả Cūḷapanthaka là một người đã trở thành nhiều người, cũng vậy, vị ấy là người có thần thông, đã đạt đến sự làm chủ tâm, là một người trở thành nhiều người. ‘Là nhiều người, vị ấy trở thành một người’ có nghĩa là: theo lẽ thường, nhiều người hướng tâm đến một người; sau khi hướng tâm, vị ấy quyết định bằng trí tuệ rằng: ‘Mong tôi trở thành một người’. Vị ấy trở thành một người. Giống như Tôn giả Cūḷapanthaka là nhiều người đã trở thành một người, cũng vậy, vị ấy là người có thần thông, đã đạt đến sự làm chủ tâm, là nhiều người trở thành một người.
11. Āvibhāvanti kenaci anāvaṭaṃ hoti appaṭicchannaṃ vivaṭaṃ pākaṭaṃ. Tirobhāvanti kenaci āvaṭaṃ hoti paṭicchannaṃ pihitaṃ paṭikujjitaṃ. Tirokuṭṭaṃ tiropākāraṃ tiropabbataṃ asajjamāno gacchati, seyyathāpi ākāseti pakatiyā ākāsakasiṇasamāpattiyā lābhī hoti. Tirokuṭṭaṃ tiropākāraṃ tiropabbataṃ āvajjati. Āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti – ‘‘ākāso hotū’’ti. Ākāso hoti. Tirokuṭṭaṃ tiropākāraṃ tiropabbataṃ asajjamāno gacchati. Yathā manussā pakatiyā aniddhimanto kenaci anāvaṭe aparikkhitte asajjamānā gacchanti, evamevaṃ so iddhimā cetovasippatto tirokuṭṭaṃ tiropākāraṃ tiropabbataṃ asajjamāno gacchati, seyyathāpi ākāse.
11. ‘Manifestation’ means it is unobstructed by anything, uncovered, unconcealed, open, evident. ‘Disappearance’ means it is obstructed by something, covered, shut, and overturned. ‘He goes unhindered through walls, ramparts, and mountains as if through space’ means that naturally he is one who has gained the attainment of the space kasiṇa. He adverts to walls, ramparts, and mountains. Having adverted, he determines with knowledge: ‘Let there be space!’ There is space. He goes unhindered through walls, ramparts, and mountains. Just as ordinary people without psychic power naturally go unhindered in any open, unenclosed space, so too this possessor of psychic power, one who has attained mastery of mind, goes unhindered through walls, ramparts, and mountains, just as if through space.
11. ‘Sự hiện ra’ có nghĩa là không bị che đậy bởi bất cứ thứ gì, không bị che khuất, được mở ra, rõ ràng. ‘Sự biến mất’ có nghĩa là bị che đậy bởi một thứ gì đó, bị che khuất, bị đóng lại, bị úp xuống. ‘Đi xuyên qua vách, qua tường, qua núi không bị trở ngại, như đi trong hư không’ có nghĩa là: theo lẽ thường, vị ấy là người đã chứng đắc thiền định biến xứ hư không. Vị ấy hướng tâm đến vách, tường, núi. Sau khi hướng tâm, vị ấy quyết định bằng trí tuệ rằng: ‘Mong nó trở thành hư không’. Nó trở thành hư không. Vị ấy đi xuyên qua vách, qua tường, qua núi không bị trở ngại. Giống như những người thường không có thần thông đi lại không bị trở ngại ở nơi không bị che đậy, không bị rào cản bởi bất cứ thứ gì, cũng vậy, vị ấy là người có thần thông, đã đạt đến sự làm chủ tâm, đi xuyên qua vách, qua tường, qua núi không bị trở ngại, như đi trong hư không.
Pathaviyāpi ummujjanimujjaṃ karoti, seyyathāpi udaketi pakatiyā āpokasiṇasamāpattiyā lābhī hoti. Pathaviṃ āvajjati. Āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti – ‘‘udakaṃ hotū’’ti. Udakaṃ hoti. So pathaviyā ummujjanimujjaṃ karoti. Yathā manussā pakatiyā aniddhimanto udake ummujjanimujjaṃ karonti, evamevaṃ so iddhimā cetovasippatto pathaviyā ummujjanimujjaṃ karoti, seyyathāpi udake.
‘He dives into and emerges from the earth as if in water’ means that naturally he is one who has gained the attainment of the water kasiṇa. He adverts to the earth. Having adverted, he determines with knowledge: ‘Let it be water!’ It becomes water. He dives into and emerges from the earth. Just as ordinary people without psychic power dive into and emerge from water, so too this possessor of psychic power, one who has attained mastery of mind, dives into and emerges from the earth, just as if it were water.
‘Vị ấy cũng thực hiện sự trồi lên và lặn xuống trong đất liền, như ở trong nước’ có nghĩa là: theo lẽ thường, vị ấy là người đã chứng đắc thiền định biến xứ nước. Vị ấy hướng tâm đến đất. Sau khi hướng tâm, vị ấy quyết định bằng trí tuệ rằng: ‘Mong nó trở thành nước’. Nó trở thành nước. Vị ấy thực hiện sự trồi lên và lặn xuống trong đất. Giống như những người thường không có thần thông thực hiện sự trồi lên và lặn xuống trong nước, cũng vậy, vị ấy là người có thần thông, đã đạt đến sự làm chủ tâm, thực hiện sự trồi lên và lặn xuống trong đất, như ở trong nước.
Udakepi abhijjamāne gacchati, seyyathāpi pathaviyanti pakatiyā pathavīkasiṇasamāpattiyā lābhī hoti. Udakaṃ āvajjati. Āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti – ‘‘pathavī hotū’’ti. Pathavī hoti. So abhijjamāne udake gacchati. Yathā manussā pakatiyā aniddhimanto abhijjamānāya pathaviyā gacchanti, evamevaṃ so iddhimā cetovasippatto abhijjamāne udake gacchati, seyyathāpi pathaviyaṃ.
‘He walks on water without sinking as if on earth’ means that naturally he is one who has gained the attainment of the earth kasiṇa. He adverts to the water. Having adverted, he determines with knowledge: ‘Let it be earth!’ It becomes earth. He walks on the water without sinking. Just as ordinary people without psychic power walk on unbroken earth, so too this possessor of psychic power, one who has attained mastery of mind, walks on the water without sinking, as if it were earth.
‘Vị ấy cũng đi trên nước không bị chìm, như đi trên đất liền’ có nghĩa là: theo lẽ thường, vị ấy là người đã chứng đắc thiền định biến xứ đất. Vị ấy hướng tâm đến nước. Sau khi hướng tâm, vị ấy quyết định bằng trí tuệ rằng: ‘Mong nó trở thành đất’. Nó trở thành đất. Vị ấy đi trên nước không bị chìm. Giống như những người thường không có thần thông đi trên đất không bị chìm, cũng vậy, vị ấy là người có thần thông, đã đạt đến sự làm chủ tâm, đi trên nước không bị chìm, như đi trên đất liền.
Ākāsepi pallaṅkena kamati, seyyathāpi pakkhī sakuṇoti pakatiyā pathavīkasiṇasamāpattiyā lābhī hoti. Ākāsaṃ āvajjati. Āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti – ‘‘pathavī hotū’’ti. Pathavī hoti. So ākāse antalikkhe caṅkamatipi tiṭṭhatipi nisīdatipi seyyampi kappeti. Yathā manussā pakatiyā aniddhimanto pathaviyā caṅkamantipi tiṭṭhantipi nisīdantipi seyyampi kappenti, evamevaṃ so iddhimā cetovasippatto ākāse antalikkhe caṅkamatipi tiṭṭhatipi nisīdatipi seyyampi kappeti, seyyathāpi pakkhī sakuṇo.
‘He walks in space cross-legged like a winged bird’ means that by nature he is one who has gained the attainment of the earth kasiṇa. He adverts to space. Having adverted, he determines with knowledge: ‘Let it be earth!’ It becomes earth. He walks, stands, sits, and lies down in space, in the air. Just as ordinary people without psychic power walk, stand, sit, and lie down on the earth, so too this possessor of psychic power, one who has attained mastery of mind, walks, stands, sits, and lies down in space, in the air, just like a winged bird.
Cũng đi kinh hành trong hư không bằng thế ngồi kiết-già, giống như loài chim có cánh, nghĩa là: Vị ấy thông thường là người đã chứng đắc thiền định biến xứ đất. Vị ấy hướng tâm đến hư không. Sau khi hướng tâm, vị ấy dùng trí tuệ chú nguyện rằng: ‘Hãy trở thành đất.’ Nó trở thành đất. Vị ấy cũng đi kinh hành, cũng đứng, cũng ngồi, cũng nằm trong hư không, trong khoảng không. Giống như những người không có thần thông thông thường cũng đi kinh hành, cũng đứng, cũng ngồi, cũng nằm trên mặt đất, cũng giống như thế, vị ấy là người có thần thông, đã đạt đến sự thuần thục về tâm, cũng đi kinh hành, cũng đứng, cũng ngồi, cũng nằm trong hư không, trong khoảng không, giống như loài chim có cánh.
12. Imepi candimasūriye evaṃmahiddhike evaṃmahānubhāve pāṇinā parāmasati parimajjatīti idha so iddhimā cetovasippatto nisinnako vā nipannako vā candimasūriye āvajjati. Āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti – ‘‘hatthapāse hotū’’ti. Hatthapāse hoti. So nisinnako vā nipannako vā candimasūriye pāṇinā āmasati parāmasati parimajjati. Yathā manussā pakatiyā aniddhimanto kiñcideva rūpagataṃ hatthapāse āmasanti parāmasanti parimajjanti, evamevaṃ so iddhimā cetovasippatto nisinnako vā nipannako vā candimasūriye pāṇinā āmasati parāmasati parimajjati.
12. ‘Even these moon and sun, so mighty and powerful, he touches, strokes, and caresses with his hand’ means that herein this possessor of psychic power, one who has attained mastery of mind, whether sitting or lying down, adverts to the moon and sun. Having adverted, he determines with knowledge: ‘May they be within reach!’ They come within reach. Whether sitting or lying down, he touches, strokes, and caresses the moon and sun with his hand. Just as ordinary people without psychic power touch, stroke, and caress some material object within reach, so too this possessor of psychic power, one who has attained mastery of mind, whether sitting or lying down, touches, strokes, and caresses the moon and sun with his hand.
12. Cả mặt trăng và mặt trời này, có đại thần lực như vậy, có đại oai lực như vậy, vị ấy cũng sờ, chạm, xoa bóp bằng tay, nghĩa là: Ở đây, vị ấy là người có thần thông, đã đạt đến sự thuần thục về tâm, hoặc đang ngồi hoặc đang nằm, hướng tâm đến mặt trăng và mặt trời. Sau khi hướng tâm, vị ấy dùng trí tuệ chú nguyện rằng: ‘Hãy ở trong tầm tay.’ Nó ở trong tầm tay. Vị ấy, hoặc đang ngồi hoặc đang nằm, sờ, chạm, xoa bóp mặt trăng và mặt trời bằng tay. Giống như những người không có thần thông thông thường sờ, chạm, xoa bóp bất cứ vật thể nào trong tầm tay, cũng giống như thế, vị ấy là người có thần thông, đã đạt đến sự thuần thục về tâm, hoặc đang ngồi hoặc đang nằm, sờ, chạm, xoa bóp mặt trăng và mặt trời bằng tay.
Yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vattetīti sace so iddhimā cetovasippatto brahmalokaṃ gantukāmo hoti, dūrepi santike adhiṭṭhāti – ‘‘santike hotū’’ti. Santike hoti. Santikepi dūre adhiṭṭhāti – ‘‘dūre hotū’’ti. Dūre hoti. Bahukampi thokaṃ adhiṭṭhāti – ‘‘thokaṃ hotū’’ti. Thokaṃ hoti. Thokampi bahukaṃ adhiṭṭhāti – ‘‘bahukaṃ hotū’’ti. Bahukaṃ hoti. Dibbena cakkhunā tassa brahmuno rūpaṃ passati. Dibbāya sotadhātuyā tassa brahmuno saddaṃ suṇāti. Cetopariyañāṇena tassa brahmuno cittaṃ pajānāti. Sace so iddhimā cetovasippatto dissamānena kāyena brahmalokaṃ gantukāmo hoti, kāyavasena cittaṃ pariṇāmeti, kāyavasena cittaṃ adhiṭṭhāti. Kāyavasena cittaṃ pariṇāmetvā, kāyavasena cittaṃ adhiṭṭhahitvā, sukhasaññañca lahusaññañca okkamitvā dissamānena kāyena brahmalokaṃ gacchati. Sace so iddhimā cetovasippatto adissamānena kāyena brahmalokaṃ gantukāmo hoti, cittavasena kāyaṃ pariṇāmeti, cittavasena kāyaṃ adhiṭṭhāti. Cittavasena kāyaṃ pariṇāmetvā, cittavasena kāyaṃ adhiṭṭhahitvā sukhasaññañca lahusaññañca okkamitvā adissamānena kāyena brahmalokaṃ gacchati. So tassa brahmuno purato rūpiṃ † abhinimmināti manomayaṃ sabbaṅgapaccaṅgiṃ † ahīnindriyaṃ. Sace so iddhimā caṅkamati, nimmitopi tattha caṅkamati. Sace so iddhimā tiṭṭhati, nimmitopi tattha tiṭṭhati. Sace so iddhimā nisīdati, nimmitopi tattha nisīdati. Sace so iddhimā seyyaṃ kappeti, nimmitopi tattha seyyaṃ kappeti. Sace so iddhimā dhūmāyati, nimmitopi tattha dhūmāyati. Sace so iddhimā pajjalati, nimmitopi tattha pajjalati. Sace so iddhimā dhammaṃ bhāsati, nimmitopi tattha dhammaṃ bhāsati. Sace so iddhimā pañhaṃ pucchati, nimmitopi tattha pañhaṃ pucchati. Sace so iddhimā pañhaṃ puṭṭho visajjeti, nimmitopi tattha pañhaṃ puṭṭho visajjeti. Sace so iddhimā tena brahmunā saddhiṃ santiṭṭhati sallapati sākacchaṃ samāpajjati, nimmitopi tattha tena brahmunā saddhiṃ santiṭṭhati sallapati sākacchaṃ samāpajjati. Yaññadeva so iddhimā karoti, taṃ tadeva hi so nimmito karotīti – ayaṃ adhiṭṭhānā iddhi.
‘He wields bodily mastery even as far as the Brahma world’ means that if this possessor of psychic power, one who has attained mastery of mind, wishes to go to the Brahma world, he determines what is far as near: ‘Let it be near!’ It becomes near. He determines what is near as far: ‘Let it be far!’ It becomes far. He determines what is much as little: ‘Let it be little!’ It becomes little. He determines what is little as much: ‘Let it be much!’ It becomes much. With the divine eye he sees the form of that Brahma. With the divine ear element he hears the sound of that Brahma. With the knowledge of penetration of minds he understands the mind of that Brahma. If this possessor of psychic power, one who has attained mastery of mind, wishes to go to the Brahma world with a visible body, he transforms the mind by means of the body, he determines the mind by means of the body. Having transformed the mind by means of the body, having determined the mind by means of the body, having entered upon the perception of ease and lightness, he goes to the Brahma world with a visible body. If this possessor of psychic power, one who has attained mastery of mind, wishes to go to the Brahma world with an invisible body, he transforms the body by means of the mind, he determines the body by means of the mind. Having transformed the body by means of the mind, having determined the body by means of the mind, having entered upon the perception of ease and lightness, he goes to the Brahma world with an invisible body. He creates a mind-made form in front of that Brahma, complete in all its limbs and features, with unimpaired faculties. If this possessor of psychic power walks, the created one also walks there. If this possessor of psychic power stands, the created one also stands there. If this possessor of psychic power sits, the created one also sits there. If this possessor of psychic power lies down, the created one also lies down there. If this possessor of psychic power emits smoke, the created one also emits smoke there. If this possessor of psychic power blazes up, the created one also blazes up there. If this possessor of psychic power teaches the Dhamma, the created one also teaches the Dhamma there. If this possessor of psychic power asks a question, the created one also asks a question there. If this possessor of psychic power answers a question when asked, the created one also answers a question there when asked. If this possessor of psychic power stands together with that Brahma, converses, and engages in discussion, the created one also stands together with that Brahma there, converses, and engages in discussion. Whatever this possessor of psychic power does, that very thing the created one does—this is the psychic power of determination.
Làm cho thân thể có quyền năng cho đến cõi Phạm thiên, nghĩa là: Nếu vị ấy là người có thần thông, đã đạt đến sự thuần thục về tâm, muốn đi đến cõi Phạm thiên, vị ấy chú nguyện nơi xa rằng: ‘Hãy trở thành gần.’ Nó trở thành gần. Vị ấy chú nguyện nơi gần rằng: ‘Hãy trở thành xa.’ Nó trở thành xa. Vị ấy chú nguyện cái nhiều rằng: ‘Hãy trở thành ít.’ Nó trở thành ít. Vị ấy chú nguyện cái ít rằng: ‘Hãy trở thành nhiều.’ Nó trở thành nhiều. Vị ấy thấy hình sắc của Phạm thiên ấy bằng thiên nhãn. Vị ấy nghe âm thanh của Phạm thiên ấy bằng thiên nhĩ giới. Vị ấy biết rõ tâm của Phạm thiên ấy bằng tha tâm thông. Nếu vị ấy là người có thần thông, đã đạt đến sự thuần thục về tâm, muốn đi đến cõi Phạm thiên với thân hữu hình, vị ấy làm cho tâm thuận theo thân, chú nguyện tâm theo thân. Sau khi làm cho tâm thuận theo thân, sau khi chú nguyện tâm theo thân, sau khi đi vào lạc tưởng và khinh tưởng, vị ấy đi đến cõi Phạm thiên với thân hữu hình. Nếu vị ấy là người có thần thông, đã đạt đến sự thuần thục về tâm, muốn đi đến cõi Phạm thiên với thân vô hình, vị ấy làm cho thân thuận theo tâm, chú nguyện thân theo tâm. Sau khi làm cho thân thuận theo tâm, sau khi chú nguyện thân theo tâm, sau khi đi vào lạc tưởng và khinh tưởng, vị ấy đi đến cõi Phạm thiên với thân vô hình. Vị ấy hóa hiện ra trước mặt Phạm thiên ấy một sắc thân do ý tạo thành, có đầy đủ tất cả các chi phần lớn nhỏ, các căn không bị khiếm khuyết. Nếu vị có thần thông ấy đi kinh hành, thân hóa hiện cũng đi kinh hành ở đó. Nếu vị có thần thông ấy đứng, thân hóa hiện cũng đứng ở đó. Nếu vị có thần thông ấy ngồi, thân hóa hiện cũng ngồi ở đó. Nếu vị có thần thông ấy nằm, thân hóa hiện cũng nằm ở đó. Nếu vị có thần thông ấy tỏa khói, thân hóa hiện cũng tỏa khói ở đó. Nếu vị có thần thông ấy bốc cháy, thân hóa hiện cũng bốc cháy ở đó. Nếu vị có thần thông ấy thuyết Pháp, thân hóa hiện cũng thuyết Pháp ở đó. Nếu vị có thần thông ấy hỏi câu hỏi, thân hóa hiện cũng hỏi câu hỏi ở đó. Nếu vị có thần thông ấy được hỏi và trả lời câu hỏi, thân hóa hiện cũng được hỏi và trả lời câu hỏi ở đó. Nếu vị có thần thông ấy cùng đứng, cùng nói chuyện, cùng tham luận với Phạm thiên ấy, thân hóa hiện cũng cùng đứng, cùng nói chuyện, cùng tham luận với Phạm thiên ấy ở đó. Bất cứ điều gì vị có thần thông ấy làm, thân hóa hiện ấy cũng làm đúng như vậy. Đây là Thần thông do chú nguyện.
13. Katamā vikubbanā iddhi? Sikhissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa abhibhū nāma sāvako brahmaloke ṭhito sahassilokadhātuṃ † sarena viññāpesi. So dissamānenapi kāyena dhammaṃ desesi; adissamānenapi kāyena dhammaṃ desesi; dissamānenapi heṭṭhimena upaḍḍhakāyena adissamānenapi uparimena upaḍḍhakāyena dhammaṃ desesi. Dissamānenapi uparimena upaḍḍhakāyena, adissamānenapi heṭṭhimena upaḍḍhakāyena dhammaṃ desesi. So pakativaṇṇaṃ vijahitvā kumārakavaṇṇaṃ vā dasseti, nāgavaṇṇaṃ vā dasseti, supaṇṇavaṇṇaṃ vā dasseti, yakkhavaṇṇaṃ vā dasseti, indavaṇṇaṃ vā † dasseti, devavaṇṇaṃ vā dasseti, brahmavaṇṇaṃ vā dasseti, samuddavaṇṇaṃ vā dasseti, pabbatavaṇṇaṃ vā dasseti, vanavaṇṇaṃ vā dasseti, sīhavaṇṇaṃ vā dasseti, byagghavaṇṇaṃ vā dasseti, dīpivaṇṇaṃ vā dasseti, hatthimpi dasseti, assampi dasseti, rathampi dasseti, pattimpi dasseti, vividhampi senābyūhaṃ dassetīti – ayaṃ vikubbanā iddhi.
13. What is the power of transformation? A disciple of the Blessed One Sikhī, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, named Abhibhū, while standing in the Brahmā world, made his voice known throughout the thousandfold world-system. He taught the Dhamma while his body was visible, and he taught the Dhamma while his body was invisible. He taught the Dhamma while the lower half of his body was visible and the upper half of his body was invisible; and he taught the Dhamma while the upper half of his body was visible and the lower half of his body was invisible. Abandoning his natural appearance, he displayed the appearance of a young boy, a nāga, a garuḍa, a yakkha, Indra, a deva, a Brahmā, the ocean, a mountain, a forest, a lion, a tiger, or a leopard; he also displayed an elephant, a horse, a chariot, an infantry soldier, or various military formations—this is the power of transformation.
13. Thế nào là Thần thông biến hóa? Vị đệ tử tên là Abhibhū của Đức Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khi đang đứng ở cõi Phạm thiên đã làm cho một ngàn thế giới biết đến bằng âm thanh của mình. Vị ấy đã thuyết Pháp với thân hữu hình; đã thuyết Pháp với thân vô hình; đã thuyết Pháp với nửa thân dưới hữu hình và nửa thân trên vô hình. Vị ấy đã thuyết Pháp với nửa thân trên hữu hình và nửa thân dưới vô hình. Vị ấy, sau khi từ bỏ hình dạng tự nhiên, cũng hiện ra hình dạng của một cậu bé, cũng hiện ra hình dạng của loài nāga, cũng hiện ra hình dạng của loài supaṇṇa, cũng hiện ra hình dạng của loài dạ-xoa, cũng hiện ra hình dạng của vua trời Đế-thích, cũng hiện ra hình dạng của chư thiên, cũng hiện ra hình dạng của Phạm thiên, cũng hiện ra hình dạng của biển cả, cũng hiện ra hình dạng của núi non, cũng hiện ra hình dạng của rừng rậm, cũng hiện ra hình dạng của sư tử, cũng hiện ra hình dạng của cọp, cũng hiện ra hình dạng của báo, cũng hiện ra voi, cũng hiện ra ngựa, cũng hiện ra xe, cũng hiện ra bộ binh, cũng hiện ra các loại binh trận khác nhau. Đây là Thần thông biến hóa.
14. Katamā manomayā iddhi? Idha bhikkhu imamhā kāyā aññaṃ kāyaṃ abhinimmināti rūpiṃ manomayaṃ sabbaṅgapaccaṅgiṃ ahīnindriyaṃ. Seyyathāpi puriso muñjamhā īsikaṃ pavāheyya. Tassa evamassa – ‘‘ayaṃ muñjo, ayaṃ īsikā. Añño muñjo, aññā īsikā. Muñjamhā tveva īsikā pavāḷhā’’ti. Seyyathā vā pana puriso asiṃ kosiyā pavāheyya. Tassa evamassa – ‘‘ayaṃ asi, ayaṃ kosi. Añño asi, aññā kosi. Kosiyā tveva asi pavāḷho’’ti. Seyyathā vā pana puriso ahiṃ karaṇḍā uddhareyya. Tassa evamassa – ‘‘ayaṃ ahi, ayaṃ karaṇḍo. Añño ahi, añño karaṇḍo. Karaṇḍā tveva ahi ubbhato’’ti. Evamevaṃ bhikkhu imamhā kāyā aññaṃ kāyaṃ abhinimmināti rūpiṃ manomayaṃ sabbaṅgapaccaṅgiṃ ahīnindriyaṃ. Ayaṃ manomayā iddhi.
14. What is the mind-made power? Here, a monk creates from this body another body—one with form, mind-made, complete with all its major and minor limbs, and with unimpaired faculties. Just as a man might draw a reed from muñja grass, it would occur to him: ‘This is the muñja grass, this is the reed. The muñja grass is one thing, the reed another; it is from the muñja grass that the reed has been drawn out.’ Or as a man might draw a sword from its scabbard, it would occur to him: ‘This is the sword, this is the scabbard. The sword is one thing, the scabbard another; it is from the scabbard that the sword has been drawn out.’ Or as a man might pull a snake from its basket, it would occur to him: ‘This is the snake, this is the basket. The snake is one thing, the basket another; it is from the basket that the snake has been pulled out.’ In the same way, a monk creates from this body another body—one with form, mind-made, complete with all its major and minor limbs, and with unimpaired faculties. This is the mind-made power.
14. Thế nào là thần thông do tâm tạo? Ở đây, vị tỳ khưu từ thân này hóa hiện ra thân khác có sắc, do tâm tạo, có đầy đủ tất cả các phần lớn nhỏ, không thiếu sót các căn. Ví như người đàn ông rút lõi cây ra khỏi cây muñja. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Đây là cây muñja, đây là lõi cây. Cây muñja là khác, lõi cây là khác. Lõi cây được rút ra chính là từ cây muñja.’ Hoặc ví như người đàn ông rút thanh gươm ra khỏi vỏ. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Đây là thanh gươm, đây là vỏ gươm. Thanh gươm là khác, vỏ gươm là khác. Thanh gươm được rút ra chính là từ vỏ gươm.’ Hoặc ví như người đàn ông lôi con rắn ra khỏi giỏ. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Đây là con rắn, đây là cái giỏ. Con rắn là khác, cái giỏ là khác. Con rắn được lôi ra chính là từ cái giỏ.’ Cũng tương tự như thế, vị tỳ khưu từ thân này hóa hiện ra thân khác có sắc, do tâm tạo, có đầy đủ tất cả các phần lớn nhỏ, không thiếu sót các căn. Đây là thần thông do tâm tạo.
15. Katamā ñāṇavipphārā iddhi? Aniccānupassanā niccasaññāya pahānaṭṭho ijjhatīti – ñāṇavipphārā iddhi. Dukkhānupassanā sukhasaññāya… anattānupassanā attasaññāya… nibbidānupassanāya nandiyā… virāgānupassanāya rāgassa… nirodhānupassanāya samudayassa… paṭinissaggānupassanāya ādānassa pahānaṭṭho ijjhatīti – ñāṇavipphārā iddhi. Āyasmato bākulassa ñāṇavipphārā iddhi, āyasmato saṃkiccassa ñāṇavipphārā iddhi, āyasmato bhūtapālassa ñāṇavipphārā iddhi. Ayaṃ ñāṇavipphārā iddhi.
15. What is the power of the diffusion of knowledge? By the contemplation of impermanence, the abandoning of the perception of permanence is accomplished; this is the power of the diffusion of knowledge. By the contemplation of suffering, the abandoning of the perception of pleasure is accomplished. By the contemplation of not-self, the abandoning of the perception of self is accomplished. By the contemplation of disenchantment, the abandoning of delight is accomplished. By the contemplation of dispassion, the abandoning of lust is accomplished. By the contemplation of cessation, the abandoning of the origin is accomplished. By the contemplation of relinquishment, the abandoning of grasping is accomplished; this is the power of the diffusion of knowledge. The Venerable Bākula possessed the power of the diffusion of knowledge, the Venerable Saṃkicca possessed the power of the diffusion of knowledge, and the Venerable Bhūtapāla possessed the power of the diffusion of knowledge. This is the power of the diffusion of knowledge.
15. Thế nào là thần thông do trí tuệ biến mãn? Do sự quán niệm về vô thường, ý nghĩa của việc từ bỏ tưởng về thường được thành tựu, nên gọi là thần thông do trí tuệ biến mãn. Do sự quán niệm về khổ, (ý nghĩa của việc từ bỏ) tưởng về lạc... do sự quán niệm về vô ngã, (ý nghĩa của việc từ bỏ) tưởng về ngã... do sự quán niệm về sự nhàm chán, (ý nghĩa của việc từ bỏ) sự hoan hỷ... do sự quán niệm về sự ly tham, (ý nghĩa của việc từ bỏ) lòng tham... do sự quán niệm về sự đoạn diệt, (ý nghĩa của việc từ bỏ) sự tập khởi... do sự quán niệm về sự xả ly, ý nghĩa của việc từ bỏ sự chấp thủ được thành tựu, nên gọi là thần thông do trí tuệ biến mãn. Trưởng lão Bākula có thần thông do trí tuệ biến mãn, Trưởng lão Saṃkicca có thần thông do trí tuệ biến mãn, Trưởng lão Bhūtapāla có thần thông do trí tuệ biến mãn. Đây là thần thông do trí tuệ biến mãn.
16. Katamā samādhivipphārā iddhi? Paṭhamena jhānena nīvaraṇānaṃ pahānaṭṭho ijjhatīti – samādhivipphārā iddhi. Dutiyena jhānena vitakkavicārānaṃ pahānaṭṭho ijjhatīti – samādhivipphārā iddhi. Tatiyena jhānena pītiyā pahānaṭṭho ijjhatīti…pe… catutthena jhānena sukhadukkhānaṃ pahānaṭṭho ijjhatīti…pe… ākāsānañcāyatanasamāpattiyā rūpasaññāya paṭighasaññāya nānattasaññāya pahānaṭṭho ijjhatīti…pe… viññāṇañcāyatanasamāpattiyā ākāsānañcāyatanasaññāya pahānaṭṭho ijjhatīti…pe… ākiñcaññāyatanasamāpattiyā viññāṇañcāyatanasaññāya pahānaṭṭho ijjhatīti…pe… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā ākiñcaññāyatanasaññāya pahānaṭṭho ijjhatīti – samādhivipphārā iddhi. Āyasmato sāriputtassa samādhivipphārā iddhi, āyasmato sañjīvassa samādhivipphārā iddhi, āyasmato khāṇukoṇḍaññassa samādhivipphārā iddhi, uttarāya upāsikāya samādhivipphārā iddhi, sāmāvatiyā upāsikāya samādhivipphārā iddhi. Ayaṃ samādhivipphārā iddhi.
16. What is the power of concentration’s expansion? By the first jhāna, the aim of abandoning the hindrances is accomplished—this is the power of concentration’s expansion. By the second jhāna, the aim of abandoning thought and examination is accomplished—this is the power of concentration’s expansion. By the third jhāna, the aim of abandoning rapture is accomplished... and so on... by the fourth jhāna, the aim of abandoning pleasure and pain is accomplished... and so on... by the attainment of the base of infinite space, the aim of abandoning perceptions of form, resistance, and diversity is accomplished... and so on... by the attainment of the base of infinite consciousness, the aim of abandoning the perception of the base of infinite space is accomplished... and so on... by the attainment of the base of nothingness, the aim of abandoning the perception of the base of infinite consciousness is accomplished... and so on... by the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception, the aim of abandoning the perception of the base of nothingness is accomplished—this is the power of concentration’s expansion. The Venerable Sāriputta has the power of concentration’s expansion, the Venerable Sañjīva has the power of concentration’s expansion, the Venerable Khāṇukoṇḍañña has the power of concentration’s expansion, the laywoman Uttarā has the power of concentration’s expansion, the laywoman Sāmāvatī has the power of concentration’s expansion. This is the power of concentration’s expansion.
16. Thế nào là thần thông do định biến mãn? Do thiền thứ nhất, ý nghĩa của việc từ bỏ các triền cái được thành tựu, nên gọi là thần thông do định biến mãn. Do thiền thứ hai, ý nghĩa của việc từ bỏ tầm và tứ được thành tựu, nên gọi là thần thông do định biến mãn. Do thiền thứ ba, ý nghĩa của việc từ bỏ hỷ được thành tựu... Do thiền thứ tư, ý nghĩa của việc từ bỏ lạc và khổ được thành tựu... Do sự chứng đắc Không Vô Biên Xứ, ý nghĩa của việc từ bỏ sắc tưởng, đối ngại tưởng, và các tưởng về sự đa dạng được thành tựu... Do sự chứng đắc Thức Vô Biên Xứ, ý nghĩa của việc từ bỏ tưởng về Không Vô Biên Xứ được thành tựu... Do sự chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ, ý nghĩa của việc từ bỏ tưởng về Thức Vô Biên Xứ được thành tựu... Do sự chứng đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, ý nghĩa của việc từ bỏ tưởng về Vô Sở Hữu Xứ được thành tựu, nên gọi là thần thông do định biến mãn. Trưởng lão Sāriputta có thần thông do định biến mãn, Trưởng lão Sañjīva có thần thông do định biến mãn, Trưởng lão Khāṇukoṇḍañña có thần thông do định biến mãn, nữ cận sự Uttarā có thần thông do định biến mãn, nữ cận sự Sāmāvatī có thần thông do định biến mãn. Đây là thần thông do định biến mãn.
17. Katamā ariyā iddhi? Idha bhikkhu † sace ākaṅkhati – ‘‘paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyya’’nti, appaṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati – ‘‘appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyya’’nti, paṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati – ‘‘paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyya’’nti, appaṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati – ‘‘appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyya’’nti, paṭikūlasaññī tattha viharati. Sace ākaṅkhati – ‘‘paṭikūle ca appaṭikūle ca tadubhayaṃ abhinivajjetvā upekkhako vihareyyaṃ sato sampajāno’’ti, upekkhako tattha viharati sato sampajāno.
17. What is noble power? Here, a bhikkhu, if he wishes, 'May I dwell perceiving the unrepulsive in the repulsive,' he dwells there perceiving the unrepulsive. If he wishes, 'May I dwell perceiving the repulsive in the unrepulsive,' he dwells there perceiving the repulsive. If he wishes, 'May I dwell perceiving the unrepulsive in both the repulsive and the unrepulsive,' he dwells there perceiving the unrepulsive. If he wishes, 'May I dwell perceiving the repulsive in both the unrepulsive and the repulsive,' he dwells there perceiving the repulsive. If he wishes, 'Having avoided both the repulsive and the unrepulsive, may I dwell equanimous, mindful, and clearly comprehending,' he dwells there equanimous, mindful, and clearly comprehending.
17. Thế nào là thần thông của bậc Thánh? Ở đây, nếu vị tỳ khưu mong muốn: ‘Ta sẽ an trú với tưởng không đáng ghê tởm đối với điều đáng ghê tởm,’ vị ấy an trú với tưởng không đáng ghê tởm ở nơi ấy. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Ta sẽ an trú với tưởng đáng ghê tởm đối với điều không đáng ghê tởm,’ vị ấy an trú với tưởng đáng ghê tởm ở nơi ấy. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Ta sẽ an trú với tưởng không đáng ghê tởm đối với cả điều đáng ghê tởm và điều không đáng ghê tởm,’ vị ấy an trú với tưởng không đáng ghê tởm ở nơi ấy. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Ta sẽ an trú với tưởng đáng ghê tởm đối với cả điều không đáng ghê tởm và điều đáng ghê tởm,’ vị ấy an trú với tưởng đáng ghê tởm ở nơi ấy. Nếu vị ấy mong muốn: ‘Ta sẽ tránh xa cả hai điều ấy, là điều đáng ghê tởm và điều không đáng ghê tởm, và sẽ an trú với tâm xả, chánh niệm, tỉnh giác,’ vị ấy an trú với tâm xả, chánh niệm, tỉnh giác ở nơi ấy.
Kathaṃ paṭikūle appaṭikūlasaññī viharati? Aniṭṭhasmiṃ vatthusmiṃ mettāya vā pharati, dhātuto vā upasaṃharati. Evaṃ paṭikūle appaṭikūlasaññī viharati.
How does one dwell perceiving the unrepulsive in the repulsive? One pervades a disagreeable object with loving-kindness, or one considers it in terms of elements. Thus, one dwells perceiving the unrepulsive in the repulsive.
Làm thế nào vị ấy an trú với tưởng không đáng ghê tởm đối với điều đáng ghê tởm? Vị ấy biến mãn tâm từ đến đối tượng không đáng ưa thích, hoặc quán xét theo các yếu tố. Như vậy, vị ấy an trú với tưởng không đáng ghê tởm đối với điều đáng ghê tởm.
Kathaṃ appaṭikūle paṭikūlasaññī viharati? Iṭṭhasmiṃ vatthusmiṃ asubhāya vā pharati, aniccato vā upasaṃharati. Evaṃ appaṭikūle paṭikūlasaññī viharati.
How does one dwell perceiving the repulsive in the unrepulsive? One pervades an agreeable object with foulness, or reflects on it in terms of impermanence. Thus, one dwells perceiving the repulsive in the unrepulsive.
Làm thế nào vị ấy an trú với tưởng đáng ghê tởm đối với điều không đáng ghê tởm? Vị ấy biến mãn sự bất tịnh đến đối tượng đáng ưa thích, hoặc quán xét theo tính vô thường. Như vậy, vị ấy an trú với tưởng đáng ghê tởm đối với điều không đáng ghê tởm.
Kathaṃ paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī viharati? Aniṭṭhasmiñca iṭṭhasmiñca vatthusmiṃ mettāya vā pharati, dhātuto vā upasaṃharati. Evaṃ paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī viharati.
How does one dwell perceiving the unrepulsive in both the repulsive and the unrepulsive? One pervades disagreeable and agreeable objects with loving-kindness, or one considers them in terms of their elements. Thus, one dwells perceiving the unrepulsive in both the repulsive and the unrepulsive.
Làm thế nào vị ấy an trú với tưởng không đáng ghê tởm đối với cả điều đáng ghê tởm và điều không đáng ghê tởm? Vị ấy biến mãn tâm từ đến đối tượng không đáng ưa thích và đáng ưa thích, hoặc quán xét theo các yếu tố. Như vậy, vị ấy an trú với tưởng không đáng ghê tởm đối với cả điều đáng ghê tởm và điều không đáng ghê tởm.
Kathaṃ appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī viharati? Iṭṭhasmiñca aniṭṭhasmiñca vatthusmiṃ asubhāya vā pharati, aniccato vā upasaṃharati. Evaṃ appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī viharati.
How does one dwell perceiving the repulsive in both the unrepulsive and the repulsive? In an agreeable and a disagreeable object, one pervades it with foulness or reflects on it in terms of impermanence. Thus, one dwells perceiving the repulsive in both the unrepulsive and the repulsive.
Làm thế nào vị ấy an trú với tưởng đáng ghê tởm đối với cả điều không đáng ghê tởm và điều đáng ghê tởm? Vị ấy biến mãn sự bất tịnh đến đối tượng đáng ưa thích và không đáng ưa thích, hoặc quán xét theo tính vô thường. Như vậy, vị ấy an trú với tưởng đáng ghê tởm đối với cả điều không đáng ghê tởm và điều đáng ghê tởm.
Kathaṃ paṭikūle ca appaṭikūle ca tadubhayaṃ abhinivajjetvā upekkhako viharati sato sampajāno? Idha bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno. Sotena saddaṃ sutvā…pe… ghānena gandhaṃ ghāyitvā… jivhāya rasaṃ sāyitvā… kāyena phoṭṭhabbaṃ phusitvā… manasā dhammaṃ viññāya neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno. Evaṃ paṭikūle ca appaṭikūle ca tadubhayaṃ abhinivajjetvā upekkhako viharati sato sampajāno. Ayaṃ ariyā iddhi.
How, having avoided both the repulsive and the unrepulsive, does one dwell equanimous, mindful, and clearly comprehending? Here, a bhikkhu, having seen a form with the eye, is neither pleased nor displeased; he dwells equanimous, mindful, and clearly comprehending. Having heard a sound with the ear… having smelled an odor with the nose… having tasted a flavor with the tongue… having touched a tangible object with the body… having cognized a mental object with the mind, he is neither pleased nor displeased; he dwells equanimous, mindful, and clearly comprehending. Thus, having avoided both the repulsive and the unrepulsive, one dwells equanimous, mindful, and clearly comprehending. This is the noble psychic power.
Làm thế nào vị ấy tránh xa cả hai điều ấy, là điều đáng ghê tởm và điều không đáng ghê tởm, và an trú với tâm xả, chánh niệm, tỉnh giác? Ở đây, vị tỳ khưu sau khi thấy sắc bằng mắt, không hoan hỷ cũng không ưu phiền, an trú với tâm xả, chánh niệm, tỉnh giác. Sau khi nghe tiếng bằng tai... sau khi ngửi hương bằng mũi... sau khi nếm vị bằng lưỡi... sau khi cảm nhận xúc chạm bằng thân... sau khi biết pháp bằng ý, không hoan hỷ cũng không ưu phiền, an trú với tâm xả, chánh niệm, tỉnh giác. Như vậy, vị ấy tránh xa cả hai điều ấy, là điều đáng ghê tởm và điều không đáng ghê tởm, và an trú với tâm xả, chánh niệm, tỉnh giác. Đây là thần thông của bậc Thánh.
18. Katamā kammavipākajā iddhi? Sabbesaṃ pakkhīnaṃ, sabbesaṃ devānaṃ, ekaccānaṃ manussānaṃ, ekaccānaṃ vinipātikānaṃ. Ayaṃ kammavipākajā iddhi.
18. What is the psychic power born of karmic result? It is that of all birds, all devas, some humans, and some beings in a state of downfall. This is the psychic power born of karmic result.
18. Thế nào là thần thông do quả của nghiệp? (Thần thông) của tất cả các loài chim, của tất cả các vị trời, của một số loài người, của một số chúng sanh trong cõi đọa xứ. Đây là thần thông do quả của nghiệp.
Katamā puññavato iddhi? Rājā cakkavattī † vehāsaṃ gacchati saddhiṃ caturaṅginiyā senāya, antamaso assabandhagopurise † upādāya. Jotikassa gahapatissa puññavato iddhi, jaṭilassa gahapatissa puññavato iddhi, meṇḍakassa gahapatissa puññavato iddhi, ghositassa gahapatissa puññavato iddhi, pañcannaṃ mahāpuññānaṃ puññavato iddhi. Ayaṃ puññavato iddhi.
What is the power of the meritorious? A wheel-turning monarch travels through the sky with his fourfold army, including even the horse-grooms and cowherds. The householder Jotika has the power of the meritorious, the householder Jaṭila has the power of the meritorious, the householder Meṇḍaka has the power of the meritorious, the householder Ghosita has the power of the meritorious, and the five greatly meritorious ones have the power of the meritorious. This is the power of the meritorious.
Thế nào là thần thông của người có phước? Vua Chuyển Luân đi trên hư không cùng với bốn binh chủng, tối thiểu là kể cả những người chăn ngựa. Thần thông của gia chủ Jotika là thần thông của người có phước, thần thông của gia chủ Jaṭila là thần thông của người có phước, thần thông của gia chủ Meṇḍaka là thần thông của người có phước, thần thông của gia chủ Ghosita là thần thông của người có phước, thần thông của năm vị đại phước là thần thông của người có phước. Đây là thần thông của người có phước.
Katamā vijjāmayā iddhi? Vijjādharā vijjaṃ parijappetvā vehāsaṃ gacchanti, ākāse antalikkhe hatthimpi dassenti, assampi dassenti, rathampi dassenti, pattimpi dassenti, vividhampi senābyūhaṃ dassenti. Ayaṃ vijjāmayā iddhi.
What is the power accomplished by knowledge? Holders of knowledge, having recited spells, travel through the sky. In the sky, in space, they display elephants, they display horses, they display chariots, they display foot-soldiers, and they display various military formations. This is the power accomplished by knowledge.
Thế nào là thần thông do minh chú? Các vị trì chú sau khi trì tụng minh chú liền đi trên hư không, ở trên hư không giữa khoảng không liền biểu hiện cả voi, biểu hiện cả ngựa, biểu hiện cả xe, biểu hiện cả bộ binh, biểu hiện cả các loại binh trận khác nhau. Đây là thần thông do minh chú.
Kathaṃ tattha tattha sammā payogapaccayā ijjhanaṭṭhena iddhi? Nekkhammena kāmacchandassa pahānaṭṭho ijjhatīti – tattha tattha sammā payogapaccayā ijjhanaṭṭhena iddhi. Abyāpādena byāpādassa pahānaṭṭho ijjhatīti – tattha tattha sammā payogapaccayā ijjhanaṭṭhena iddhi…pe… arahattamaggena sabbakilesānaṃ pahānaṭṭho ijjhatīti – tattha tattha sammā payogapaccayā ijjhanaṭṭhena iddhi. Evaṃ tattha tattha sammā payogapaccayā ijjhanaṭṭhena iddhi. Imā dasa iddhiyo.
How is there power in the sense of accomplishment due to the cause of right effort in various instances? Because the abandoning of sensual desire is accomplished through renunciation, there is power in the sense of accomplishment due to the cause of right effort in various instances. Because the abandoning of ill-will is accomplished through non-ill-will, there is power in the sense of accomplishment due to the cause of right effort in various instances... because the abandoning of all defilements is accomplished through the path of Arahantship, there is power in the sense of accomplishment due to the cause of right effort in various instances. Thus, in various instances, there is power in the sense of accomplishment due to the cause of right effort. These are the ten powers.
Thế nào là thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên là sự nỗ lực đúng đắn ở trong từng trường hợp? Do sự xuất ly, ý nghĩa đoạn trừ dục tham được thành tựu – (đây là) thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên là sự nỗ lực đúng đắn ở trong từng trường hợp. Do tâm vô sân, ý nghĩa đoạn trừ sân hận được thành tựu – (đây là) thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên là sự nỗ lực đúng đắn ở trong từng trường hợp... v.v... Do A-la-hán đạo, ý nghĩa đoạn trừ tất cả phiền não được thành tựu – (đây là) thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên là sự nỗ lực đúng đắn ở trong từng trường hợp. Như vậy, (đây là) thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên là sự nỗ lực đúng đắn ở trong từng trường hợp. Đây là mười loại thần thông.
Iddhikathā niṭṭhitā.
The discourse on power is concluded.
Phần luận về thần thông đã kết thúc.