Bản dịch
PS 3.1 — Giảng về Tuệ
3.1. Mahāpaññākathā
Sự quán xét về vô thường được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về khổ não được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về vô ngã được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ?
Sự quán xét về vô thường được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về khổ não được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ nhàm chán được tròn đủ. Sự quán xét về vô ngã được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vĩ đại được tròn đủ. Sự quán xét về nhàm chán được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ sắc bén được tròn đủ. Sự quán xét về ly tham ái được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ rộng lớn được tròn đủ. Sự quán xét về diệt tận được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ thâm sâu được tròn đủ. Sự quán xét về từ bỏ được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vô song được tròn đủ. Bảy tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến bản tánh sáng suốt được tròn đủ. Tám tuệ* này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ phổ thông được tròn đủ. Chín tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vi tiếu được tròn đủ.
Tuệ vi tiếu là sự phân tích về phép biện giải. Từ việc xác định ý nghĩa bởi tuệ ấy, sự phân tích về ý nghĩa là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định pháp, sự phân tích về pháp là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định ngôn từ, sự phân tích về ngôn từ là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định phép biện giải, sự phân tích về phép biện giải là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.
Sự quán xét về vô thường ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ?
Sự quán xét về vô thường ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vô song được tròn đủ. Bảy tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến bản tánh sáng suốt được tròn đủ. Tám tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ phổ thông được tròn đủ. Chín tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vi tiếu được tròn đủ.
Tuệ vi tiếu là sự phân tích về phép biện giải. Từ việc xác định ý nghĩa bởi tuệ ấy, sự phân tích về ý nghĩa là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định pháp, sự phân tích về pháp là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định ngôn từ, sự phân tích về ngôn từ là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định phép biện giải, sự phân tích về phép biện giải là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.
Sự quán xét về vô thường ở thọ … ở tưởng … ở các hành … ở thức … ở mắt … ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về vô thường ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vô song được tròn đủ. Bảy tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến bản tánh sáng suốt được tròn đủ. Tám tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ phổ thông được tròn đủ. Chín tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vi tiếu được tròn đủ.
Tuệ vi tiếu là sự phân tích về phép biện giải. Từ việc xác định ý nghĩa bởi tuệ ấy, sự phân tích về ý nghĩa là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định pháp, sự phân tích về pháp là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định ngôn từ, sự phân tích về ngôn từ là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định phép biện giải, sự phân tích về phép biện giải là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.
Sự quán xét về vô thường ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về vô thường ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về khổ não ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về khổ não ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về vô ngã ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về vô ngã ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về nhàm chán ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về nhàm chán ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về ly tham ái ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về ly tham ái ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ?
Sự quán xét về diệt tận ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về diệt tận ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về từ bỏ ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về từ bỏ ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ?
Sự quán xét về vô thường ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về vô thường ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về khổ não ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ nhàm chán được tròn đủ. Sự quán xét về khổ não ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về vô ngã ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vĩ đại được tròn đủ. Sự quán xét về vô ngã ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về nhàm chán ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ sắc bén được tròn đủ. Sự quán xét về nhàm chán ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về ly tham ái ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ rộng lớn được tròn đủ. Sự quán xét về ly tham ái ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về diệt tận ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ thâm sâu được tròn đủ. Sự quán xét về diệt tận ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về từ bỏ ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vô song được tròn đủ. Sự quán xét về từ bỏ ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Bảy tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến bản tánh sáng suốt được tròn đủ. Tám tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ phổ thông được tròn đủ. Chín tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vi tiếu được tròn đủ.
Tuệ vi tiếu là sự phân tích về phép biện giải. Từ việc xác định ý nghĩa bởi tuệ ấy, sự phân tích về ý nghĩa là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định pháp, sự phân tích về pháp là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định ngôn từ, sự phân tích về ngôn từ là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định phép biện giải, sự phân tích về phép biện giải là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.
Sự quán xét về vô thường ở thọ … ở tưởng … ở các hành … ở thức … ở mắt … ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về vô thường ở lão tử thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về từ bỏ ở lão tử thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ?
Sự quán xét về vô thường ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về vô thường ở lão tử thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. …(nt)… Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.
Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự tác chứng Quả Nhập Lưu. Bốn là gì? Thân cận bậc thiện nhân, lắng nghe Chánh Pháp, tác ý đúng đường lối, thực hành đúng theo ý nghĩa của Pháp. Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự tác chứng Quả Nhập Lưu.
Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự tác chứng Quả Nhất Lai. … đưa đến sự tác chứng Quả Bất Lai. … đưa đến sự tác chứng Quả A-la-hán. Bốn là gì? Thân cận bậc thiện nhân, lắng nghe Chánh Pháp, tác ý đúng đường lối, thực hành đúng theo ý nghĩa của Pháp. Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn đưa đến sự tác chứng Quả A-la-hán.
Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự thành đạt về tuệ …(như trên)… đưa đến sự tăng trưởng của tuệ …(như trên)… đưa đến sự tiến triển của tuệ …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ vĩ đại …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ phổ thông …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ rộng lớn …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ thâm sâu …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ vô song …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ bao la …(như trên)… đưa đến sự dồi dào của tuệ …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ nhạy bén …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ nhẹ nhàng …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ vi tiếu …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ đổng tốc …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ sắc bén …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ thông suốt. Bốn là gì? Thân cận bậc thiện nhân, lắng nghe Chánh Pháp, tác ý đúng đường lối, thực hành đúng theo ý nghĩa của Pháp. Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn đưa đến sự thành đạt về tuệ …(như trên)… đưa đến sự tăng trưởng của tuệ …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ thông suốt.
Đưa đến sự thành đạt về tuệ: Sự thành đạt về tuệ là gì? Là sự đạt được, sự thành đạt, sự đạt đến, sự thành tựu, sự chạm đến, sự tác chứng, sự hoàn thành của bốn trí về Đạo, của bốn trí về Quả, của bốn trí phân tích, của sáu thắng trí, của bảy mươi ba trí,* của bảy mươi bảy trí.* ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến sự thành đạt về tuệ;’ đây là sự thành đạt về tuệ.
Đưa đến sự tăng trưởng của tuệ: Sự tăng trưởng của tuệ gì? Tuệ của 7 vị Hữu Học và của phàm nhân hoàn thiện tăng trưởng, tuệ của vị A-la-hán tăng trưởng. ‘Các sự tăng trưởng đã được tăng trưởng đưa đến sự tăng trưởng của tuệ;’ đây là sự tăng trưởng của tuệ.
Đưa đến sự tiến triển của tuệ: Sự tiến triển của tuệ gì? Tuệ của bảy vị Hữu Học và của vị phàm nhân hoàn thiện đi đến sự tiến triển, tuệ của vị A-la-hán đã đi đến sự tiến triển. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến sự tiến triển của tuệ;’ đây là sự tiến triển của tuệ.
Đưa đến trạng thái tuệ vĩ đại: Tuệ vĩ đại là gì? ‘Nắm giữ các ý nghĩa vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các pháp vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các ngôn từ vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các phép biện giải vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các giới uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các định uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các tuệ uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các giải thoát uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các giải thoát-tri-kiến uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các sự hợp lý và không hợp lý vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các sự an trú và chứng đạt vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các chân lý cao thượng vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các sự thiết lập niệm vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các chánh cần vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các nền tảng thần thông vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các quyền vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các lực vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các giác chi vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các Thánh Đạo vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các Quả vị Sa-môn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các thắng trí vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ vĩ đại;’ đây là tuệ vĩ đại.
Đưa đến trạng thái tuệ phổ thông: Tuệ phổ thông là gì? ‘Trí vận hành về các uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các giới phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các xứ phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các sự sanh khởi tùy thuận phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các trường hợp không đạt được không tánh phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các ý nghĩa phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các pháp phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông.
‘Trí vận hành về các ngôn từ phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các phép biện giải phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các giới uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các định uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các tuệ uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các giải thoát uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các giải thoát-tri-kiến uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các sự hợp lý và không hợp lý phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các sự an trú và chứng đạt phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các chân lý cao thượng phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các sự thiết lập niệm phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các chánh cần phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các nền tảng thần thông phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các quyền phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các lực phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các giác chi phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các Thánh Đạo phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các Quả vị Sa-môn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các thắng trí phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vượt qua các pháp phổ biến đến phàm nhân rồi vận hành về Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối’ là tuệ phổ thông. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ phổ thông;’ đây là tuệ phổ thông.
Đưa đến trạng thái tuệ rộng lớn: Tuệ rộng lớn là gì? ‘Nắm giữ các ý nghĩa rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các pháp rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các ngôn từ rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các phép biện giải rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các giới uẩn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các định uẩn nghĩa rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các tuệ uẩn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các giải thoát uẩn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các giải thoát-tri-kiến uẩn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các sự hợp lý và không hợp lý rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các sự an trú và chứng đạt rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các chân lý cao thượng rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các sự thiết lập niệm rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các chánh cần rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các nền tảng thần thông rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các quyền rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các lực rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các giác chi rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các Thánh Đạo rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các Quả vị Sa-môn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các thắng trí rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ rộng lớn;’ đây là tuệ rộng lớn.
Đưa đến trạng thái tuệ thâm sâu: Tuệ thâm sâu là gì? ‘Trí vận hành về các uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giới thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các xứ thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các sự sanh khởi tùy thuận thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các trường hợp không đạt được không tánh thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các ý nghĩa thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các pháp thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các ngôn từ thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các phép biện giải thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giới uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các định uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các tuệ uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giải thoát uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giải thoát-tri-kiến uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các sự hợp lý và không hợp lý thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các sự an trú và chứng đạt thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các chân lý cao thượng thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các sự thiết lập niệm thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các chánh cần thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các nền tảng thần thông thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các quyền thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các lực thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giác chi thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các Thánh Đạo thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các Quả vị Sa-môn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các thắng trí thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vượt qua các pháp phổ biến đến phàm nhân rồi vận hành về Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối’ là tuệ thâm sâu. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ thâm sâu;’ đây là tuệ thâm sâu.
Đưa đến trạng thái tuệ vô song: Tuệ vô song là gì? Cá nhân nào, do xác định ý nghĩa có sự phân tích về ý nghĩa được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ, do xác định pháp có sự phân tích về pháp được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ, do xác định ngôn từ có sự phân tích về ngôn từ được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ, do xác định phép biện giải có sự phân tích về phép biện giải được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ, đối với vị ấy không ai có thể vượt trội về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và về phép biện giải. ‘Và vị ấy là không thể bị vượt trội bởi những người khác’ là tuệ vô song.
Tuệ của phàm nhân hoàn thiện so với tuệ của hạng thứ tám (Đạo Nhập Lưu) là xa vời, là xa vời rõ rệt, là xa vời vô cùng rõ rệt, là không gần, là không kề cận; so với phàm nhân hoàn thiện, hạng thứ tám là có tuệ vô song. Tuệ của hạng thứ tám so với tuệ của vị Nhập Lưu là xa vời, là xa vời rõ rệt, là xa vời vô cùng rõ rệt, là không gần, là không kề cận; so với hạng thứ tám, vị Nhập Lưu là có tuệ vô song.
Tuệ của vị Nhập Lưu so với tuệ của vị Nhất Lai là xa vời, là xa vời rõ rệt, là xa vời vô cùng rõ rệt, là không gần, là không kề cận; so với vị Nhập Lưu, vị Nhất Lai là có tuệ vô song. Tuệ của vị Nhất Lai so với tuệ của vị Bất Lai là xa vời, là xa vời rõ rệt, là xa vời vô cùng rõ rệt, là không gần, là không kề cận; so với vị Nhất Lai, vị Bất Lai là có tuệ vô song. Tuệ của vị Bất Lai so với tuệ của vị A-la-hán là xa vời, là xa vời rõ rệt, là xa vời vô cùng rõ rệt, là không gần, là không kề cận; so với vị Bất Lai, vị A-la-hán là có tuệ vô song. Tuệ của vị A-la-hán so với tuệ của vị Phật Độc Giác là xa vời, là xa vời rõ rệt, là xa vời vô cùng rõ rệt, là không gần, là không kề cận; so với vị A-la-hán, vị Phật Độc Giác là có tuệ vô song; so với vị Phật Độc Giác và thế gian luôn cả chư Thiên, đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác là có tuệ vô song tối thắng. Là vị thiện xảo về các loại tuệ, có trí đã được phân hạng, có sự phân tích đã được đắc chứng, đã đạt đến bốn sự tự tín, là vị rành rẽ về mười lực, là bậc Nhân Ngưu, là bậc Nhân Sư, là người như loài rồng, là người có dòng dõi cao quý, là người cất đi gánh nặng, là vị có trí vô biên, có oai lực vô biên, có danh vọng vô biên, giàu có (về trí tuệ), có tài sản (trí tuệ) lớn lao, có của cải (trí tuệ), là vị lãnh đạo, vị hướng đạo, vị dẫn dắt, vị giúp cho nhận biết, vị giúp cho suy nghiệm, vị giúp cho quan sát, vị tạo niềm tin.
Bởi vì Ngài là đức Thế Tôn, là vị làm sanh lên đạo lộ chưa được sanh lên, là vị làm sanh khởi đạo lộ chưa được sanh khởi, là vị tuyên thuyết về đạo lộ chưa được tuyên thuyết, là vị biết về đạo lộ, là vị hiểu rõ về đạo lộ, là vị thông thạo về đạo lộ, hơn nữa hiện nay các Thinh Văn của Ngài là những người đi theo đạo lộ rồi an trú, là những người tiếp nối.
Bởi vì Ngài là đức Thế Tôn, là vị biết điều đã được biết, thấy điều đã được thấy, là mắt, là trí, là Pháp, là đấng Brahma, là vị nói ra, là vị nói lên, là vị đem lại ý nghĩa, là vị ban phát Bất Tử, là đấng Pháp Chủ, là đức Như Lai. Đối với đức Thế Tôn ấy, không gì là không được biết, không được thấy, không được hiểu, không được tác chứng, không được chạm đến bởi tuệ. Tính luôn cả quá khứ hiện tại vị lai, tất cả các pháp với mọi biểu hiện đều nổi bật ở trí của đức Phật Thế Tôn. Bất cứ điều gì được gọi là cần được biết, tất cả các điều ấy đều được biết. Ý nghĩa thuộc về bản thân, hoặc ý nghĩa thuộc về người khác, hoặc ý nghĩa thuộc về cả hai, hoặc ý nghĩa trong thời hiện tại, hoặc ý nghĩa liên quan đến thời vị lai, hoặc ý nghĩa hời hợt, hoặc ý nghĩa thâm sâu, hoặc ý nghĩa khó hiểu, hoặc ý nghĩa được che đậy, hoặc ý nghĩa cần được biết, hoặc ý nghĩa đã được kết luận, hoặc ý nghĩa không sai trái, hoặc ý nghĩa không ô nhiễm, hoặc ý nghĩa thuần khiết, hoặc ý nghĩa tuyệt đối, tất cả các điều ấy đều xoay chuyển ở bên trong trí của đức Phật. Tất cả các nghiệp về thân đều được xoay chuyển thuận theo trí của đức Phật Thế Tôn. Tất cả các nghiệp về khẩu đều được xoay chuyển thuận theo trí của đức Phật Thế Tôn. Tất cả các nghiệp về ý đều được xoay chuyển thuận theo trí của đức Phật Thế Tôn.
Trí của đức Phật Thế Tôn về thời điểm đã qua là không bị chướng ngại. Trí của đức Phật Thế Tôn về thời điểm chưa đến là không bị chướng ngại. Trí của đức Phật Thế Tôn về thời điểm hiện tại là không bị chướng ngại. Điều cần được biết là đến đâu, trí (của Ngài) là đến thế ấy; trí (của Ngài) là đến đâu, điều cần được biết là đến thế ấy. Trí (của Ngài) có cùng ranh giới với điều cần được biết, điều cần được biết có cùng ranh giới với trí (của Ngài). Sau khi vượt qua điều cần được biết, trí (của Ngài) không vận hành, không có hiện tượng của điều cần được biết vượt qua trí (của Ngài); các pháp ấy có tình trạng cùng chung ranh giới lẫn nhau. Giống như hai phần của chiếc hộp được gắn liền khít khao, phần hộp ở bên dưới không vượt quá phần bên trên, phần hộp ở bên trên không vượt qua phần bên dưới; chúng có tình trạng cùng chung ranh giới lẫn nhau. Tương tợ y như thế, điều cần được biết và trí của đức Phật Thế Tôn có tình trạng cùng chung ranh giới lẫn nhau. Điều cần được biết là đến đâu, trí (của Ngài) là đến thế ấy; trí (của Ngài) là đến đâu, điều cần được biết là đến thế ấy. Trí (của Ngài) có cùng ranh giới với điều cần được biết, điều cần được biết có cùng ranh giới với trí (của Ngài). Sau khi vượt qua điều cần được biết, trí (của Ngài) không vận hành, không có hiện tượng của điều cần được biết vượt qua trí (của Ngài); các pháp ấy có tình trạng cùng chung ranh giới lẫn nhau. Trí của đức Phật Thế Tôn vận hành ở tất cả các pháp.
Đối với đức Phật Thế Tôn, tất cả các pháp được gắn liền với sự hướng tâm, được gắn liền với sự mong muốn, được gắn liền với tác ý, được gắn liền với sự sanh lên của tâm. Trí của đức Phật Thế Tôn vận hành ở tất cả chúng sanh. Đức Phật biết thiên kiến, biết xu hướng ngủ ngầm, biết tánh hạnh, biết khuynh hướng của tất cả chúng sanh. Ngài nhận biết những chúng sanh có tầm nhìn bị vấy bụi ít và có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều, có giác quan sắc sảo và có giác quan cùn lụt, có tánh khí tốt và có tánh khí tồi, có thể hiểu được một cách nhanh chóng và có thể hiểu được một cách khó khăn, có khả năng và không có khả năng. Thế gian tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người xoay chuyển ở bên trong trí của đức Phật. Giống như bất cứ loài cá và rùa nào, thậm chí tính luôn loại cá ông cá voi, đều xoay chuyển ở giữa biển cả bao la. Tương tợ như vậy, thế gian tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người xoay chuyển ở bên trong trí của đức Phật. Giống như bất cứ loài có cánh nào, thậm chí tính luôn cả Kim-sỉ-điểu thuộc loại Venateyya, đều xoay chuyển ở khoảng không gian của bầu trời. Tương tợ y như thế, ngay cả những vị là tương đương với Sārīputta về tuệ, những vị ấy cũng chỉ xoay chuyển trong phạm vi trí của đức Phật.
Trí của đức Phật xâm nhập, chiếm cứ, và ngự trị tuệ của chư thiên và nhân loại. Ngay cả các vị thông thái dòng Sát-đế-lỵ, các vị thông thái dòng Bà-la-môn, các vị gia chủ thông thái, các vị Sa-môn thông thái, khôn ngoan, biết đến các giáo thuyết của những người khác như là (mũi tên) xuyên qua sợi tóc, nghĩ rằng họ là những người đi đến đập đổ những khuynh hướng tà kiến nhờ vào tuệ đã đạt được. Những người ấy liên tục chuẩn bị câu hỏi rồi đi đến gặp đức Như Lai và chất vấn. Những câu hỏi khó hiểu và che đậy ấy, khi được giảng giải được trả lời bởi đức Thế Tôn, trở thành những sự việc rõ ràng. Và những người ấy trở thành những người hỗ trợ đối với đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn vô cùng rạng rỡ ở tại nơi ấy, tức là về ‘Tuệ.’ Ngài là tối thắng và có tuệ vô song. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ vô song;’ đây là tuệ vô song.
Đưa đến trạng thái tuệ bao la: Tuệ bao la là gì? ‘Chế ngự tham ái’ là tuệ bao la. ‘Đã được chế ngự’ là tuệ bao la. ‘Chế ngự sân’ là tuệ bao la. ‘Đã được chế ngự’ là tuệ bao la. ‘Chế ngự si’ là tuệ bao la. ‘Đã được chế ngự’ là tuệ bao la. ‘Chế ngự sự giận dữ’ … sự căm hận … sự gièm pha … sự hà hiếp … sự ganh tỵ … sự bỏn xẻn … sự xảo trá … sự đạo đức giả … sự bướng bỉnh … sự cống cao … sự ngã mạn … sự cao ngạo … sự kiêu căng … sự buông lung … toàn bộ phiền não … tất cả các ác hạnh … tất cả các hành … ‘Chế ngự tất cả nghiệp dẫn đến hữu’ là tuệ bao la. ‘Đã được chế ngự’ là tuệ bao la.
‘Tham ái là kẻ thù. Tuệ nghiền nát kẻ thù ấy’ là tuệ bao la. ‘Sân là kẻ thù. Tuệ nghiền nát kẻ thù ấy’ là tuệ bao la. ‘Si là kẻ thù. Tuệ nghiền nát kẻ thù ấy’ là tuệ bao la. ‘Sự giận dữ … Sự căm hận … Sự gièm pha … Sự hà hiếp … Sự ganh tỵ … Sự bỏn xẻn … Sự xảo trá … Sự đạo đức giả … Sự bướng bỉnh … Sự cống cao … Sự ngã mạn … Sự cao ngạo … Sự kiêu căng … Sự buông lung … Toàn bộ phiền não … Tất cả các ác hạnh … Tất cả các hành … ‘Tất cả nghiệp dẫn đến hữu là kẻ thù. Tuệ nghiền nát kẻ thù ấy’ là tuệ bao la. Quả đất được gọi là bao la. ‘Đức Phật hội đủ về tuệ ấy có tính rộng lớn tương tợ như quả đất,’ như thế là tuệ bao la. Hơn nữa, điều này là sự đặt tên cho tuệ. ‘Bao la, mẫn tiệp, liên quan đến lãnh đạo’ là tuệ bao la. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ bao la;’ đây là tuệ bao la.
Đưa đến sự dồi dào của tuệ: Sự dồi dào của tuệ là gi? Ở đây, có người chú trọng về tuệ, thực hành về tuệ, có thiên hướng về tuệ, có khuynh hướng về tuệ, có tuệ là ngọn cờ, có tuệ là biểu hiệu, có tuệ là pháp chủ đạo, có nhiều tìm hiểu, nhiều suy xét, nhiều xem xét, nhiều quan sát, có sự việc để quan sát, an trú vào sự việc rõ ràng, thực hành tuệ ấy, chú trọng tuệ ấy, dồi dào tuệ ấy, thuận theo tuệ ấy, xuôi theo tuệ ấy, nghiêng theo tuệ ấy, khuynh hướng về tuệ ấy, có tuệ ấy là chủ đạo. Ví như người chú trọng về đồ chúng được gọi là ‘Người có nhiều đồ chúng;’ người chú trọng về y được gọi là ‘Người có nhiều y;’ người chú trọng về bình bát được gọi là ‘Người có nhiều bình bát;’ người chú trọng về sàng tọa được gọi là ‘Người có nhiều sàng tọa;’
tương tợ như thế, có người chú trọng về tuệ, thực hành về tuệ, có thiên hướng về tuệ, có khuynh hướng về tuệ, có tuệ là ngọn cờ, có tuệ là biểu hiệu, có tuệ là pháp chủ đạo, có nhiều tìm hiểu, nhiều suy xét, nhiều xem xét, nhiều quan sát, có sự việc để quan sát, an trú vào sự việc rõ ràng, thực hành tuệ ấy, chú trọng tuệ ấy, dồi dào tuệ ấy, thuận theo tuệ ấy, xuôi theo tuệ ấy, nghiêng theo tuệ ấy, khuynh hướng về tuệ ấy, có tuệ ấy là chủ đạo. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến sự dồi dào của tuệ;’ đây là sự dồi dào của tuệ.
Đưa đến trạng thái tuệ nhạy bén: Tuệ nhạy bén là gì? ‘Làm tròn đủ các giới vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ việc thu thúc các quyền vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ sự tri túc về vật thực vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ sự gắn bó với tỉnh thức vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ giới uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ định uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ tuệ uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ giải thoát uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ giải thoát-tri-kiến uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Thấu triệt các sự hợp lý và không hợp lý vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ sự an trú và chứng đạt vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Thấu triệt các chân lý cao thượng vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các sự thiết lập niệm vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các chánh cần vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các nền tảng thần thông vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các quyền vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các lực vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các giác chi vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập Thánh Đạo vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tác chứng các Quả vị Sa-môn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Thấu triệt các thắng trí vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tác chứng Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ nhạy bén;’ đây là tuệ nhạy bén.
Đưa đến trạng thái tuệ nhẹ nhàng: Tuệ nhẹ nhàng là gì? ‘Làm tròn đủ các giới vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tròn đủ sự thu thúc các quyền vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tròn đủ sự tri túc về vật thực vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tròn đủ sự gắn bó với tỉnh thức vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tròn đủ giới uẩn … định uẩn … tuệ uẩn … giải thoát uẩn … giải thoát-tri-kiến uẩn vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Thấu triệt các sự hợp lý và không hợp lý vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tròn đủ sự an trú và chứng đạt vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Thấu triệt các chân lý cao thượng vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các sự thiết lập niệm vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các chánh cần vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các nền tảng của thần thông vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các quyền vô cùng nhẹ
nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các lực vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các giác chi vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập Thánh Đạo vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tác chứng các Quả vị Sa-môn vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Thấu triệt các thắng trí vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tác chứng Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ nhẹ nhàng;’ đây là tuệ nhẹ nhàng.
Đưa đến trạng thái tuệ vi tiếu: Tuệ vi tiếu là gì? Ở đây có người: ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan làm tròn đủ các giới’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan làm tròn đủ sự thu thúc các quyền’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan làm tròn đủ sự tri túc về vật thực’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan làm tròn đủ sự gắn bó với tỉnh thức’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan làm tròn đủ giới uẩn’ … định uẩn … tuệ uẩn … giải thoát uẩn … giải thoát-tri-kiến uẩn … thấu triệt các sự hợp lý và không hợp lý … làm tròn đủ sự an trú và chứng đạt … thấu triệt các chân lý cao thượng … tu tập các sự thiết lập niệm … tu tập các chánh cần … tu tập các nền tảng thần thông … tu tập các quyền … tu tập các lực … tu tập các giác chi … tu tập Thánh Đạo … tác chứng các Quả vị Sa-môn’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan thấu triệt các thắng trí’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan tác chứng Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối’ là tuệ vi tiếu. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ vi tiếu;’ đây là tuệ vi tiếu.
Đưa đến trạng thái tuệ đổng tốc: Tuệ đổng tốc là gì? Bất cứ sắc nào thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai, nội phần hoặc ngoại phần, thô hoặc tế, thấp kém hoặc cao quý, là ở xa hoặc ở gần, về toàn bộ sắc ấy ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô thường’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là khổ não’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô ngã’ là tuệ đổng tốc. Bất cứ thọ nào …(như trên)… Bất cứ tưỏng nào …(như trên)… Bất cứ các hành nào …(như trên)… Bất cứ thức nào thuộc quá khứ, hiện tại, hoặc vị lai, nội phần hoặc ngoại phần, thô hoặc tế, thấp kém hoặc cao quý, là ở xa hoặc gần, về toàn bộ thức ấy ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô thường’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là khổ não’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô ngã’ là tuệ đổng tốc. Mắt …(như trên)… Lão tử thuộc quá khứ, hiện tại, hoặc vị lai, ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô thường’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là khổ não’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô ngã’ là tuệ đổng tốc.
Sau khi cân nhắc, xác định, phân biệt, làm rõ rệt rằng: ‘Sắc thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường theo ý nghĩa đoạn tận, là khổ não theo ý nghĩa kinh hãi, là vô ngã theo ý nghĩa không có cốt lỏi,’ ‘trực nhận một cách mau lẹ về sự diệt tận sắc là Niết Bàn’ là tuệ đổng tốc. Sau khi cân nhắc, xác định, phân biệt, làm rõ rệt rằng: ‘Thọ … Tưởng … Các hành … Thức … Mắt … Lão tử thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường theo ý nghĩa đoạn tận, là khổ não theo ý nghĩa kinh hãi, là vô ngã theo ý nghĩa không có cốt lỏi,’ ‘trực nhận một cách mau lẹ về sự diệt tận lão tử là Niết Bàn’ là tuệ đổng tốc.
Sau khi cân nhắc, xác định, phân biệt, làm rõ rệt rằng: ‘Sắc thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp đoạn tận, là pháp biến hoại, là pháp ly tham ái, là pháp diệt tận,’ ‘trực nhận một cách mau lẹ về sự diệt tận sắc là Niết Bàn’ là tuệ đổng tốc. Sau khi cân nhắc, xác định, phân biệt, làm rõ rệt rằng: ‘Thọ … Tưởng … Các hành … Thức … Mắt … Lão tử thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp đoạn tận, là pháp biến hoại, là pháp ly tham ái, là pháp diệt tận,’ ‘trực nhận một cách mau lẹ về sự diệt tận lão tử là Niết Bàn’ là tuệ đổng tốc. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ đổng tốc’ là tuệ đổng tốc.
Đưa đến trạng thái tuệ sắc bén: Tuệ sắc bén là gì? ‘Cắt đứt các phiền não một cách mau lẹ’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu dục tầm đã sanh lên’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu sân độc tầm đã sanh lên’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu hãm hại tầm đã sanh lên …(như trên)… các pháp ác bất thiện đã sanh lên’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu tham ái đã sanh lên’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu sân đã sanh lên … si đã sanh lên … sự giận dữ đã sanh lên … sự căm hận đã sanh lên … sự gièm pha … sự hà hiếp … sự ganh tỵ … sự bỏn xẻn … sự xảo trá … sự đạo đức giả … sự bướng bỉnh … sự cống cao … sự ngã mạn … sự cao ngạo … sự kiêu căng … sự buông lung … toàn bộ phiền não … tất cả các ác hạnh … tất cả các hành … tất cả nghiệp dẫn đến hữu’ là tuệ sắc bén. ‘Ở một chỗ ngồi, bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị Sa-môn, bốn phân tích, sáu thắng trí là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ’ là tuệ sắc bén. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ sắc bén’ là tuệ sắc bén.
Đưa đến trạng thái tuệ thông suốt: Tuệ thông suốt là gì? Ở đây, có người có nhiều kinh hoảng về tất cả các hành, có nhiều sợ sệt, có nhiều bất mãn, có nhiều không hứng thú, có nhiều không hứng khởi, tỏ vẻ không hứng thú ở tất cả các hành. ‘Thông suốt, khám phá
tham uẩn chưa được thông suốt trước đây, chưa được khám phá trước đây’ là tuệ thông suốt. ‘Thông suốt, khám phá sân uẩn chưa được thông suốt trước đây, chưa được khám phá trước đây’ là tuệ thông suốt. ‘Thông suốt, khám phá si uẩn chưa được thông suốt trước đây, chưa được khám phá trước đây’ là tuệ thông suốt. ‘Thông suốt, khám phá sự giận dữ … sự căm hận … sự gièm pha … sự hà hiếp … sự ganh tỵ … sự bỏn xẻn … sự xảo trá … sự đạo đức giả … sự bướng bỉnh … sự cống cao … sự ngã mạn … sự cao ngạo … sự kiêu căng … sự buông lung … toàn bộ phiền não … tất cả các ác hạnh … tất cả các hành … tất cả nghiệp dẫn đến hữu chưa được thông suốt trước đây, chưa được khám phá trước đây’ là tuệ thông suốt. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ thông suốt’ là tuệ thông suốt. Đây là 16 tuệ. Cá nhân hội đủ 16 tuệ này đạt đến (tuệ) phân tích.
Có hai hạng người đạt được phân tích: một hạng đã thực tập trước đây, một hạng đã không thực tập trước đây. Người nào đã thực tập trước đây, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây: một hạng đã nghe nhiều, một hạng đã không nghe nhiều. Người nào nghe nhiều, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều: một hạng có nhiều sự thuyết giảng, một hạng không có nhiều sự thuyết giảng. Người nào có nhiều sự thuyết giảng, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng: một hạng đã nương tựa vào vị thầy, một hạng đã không nương tựa vào vị thầy. Người nào đã nương tựa vào vị thầy, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đã nương tựa vào vị thầy: một hạng có nhiều sự an trú,* một hạng không có nhiều sự an trú. Người nào có nhiều sự an trú, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đã nương tựa vào vị thầy, cả hai đều có nhiều sự an trú: một hạng có nhiều sự quán xét lại, một hạng không có nhiều sự quán xét lại. Người nào có nhiều sự quán xét lại, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đã nương tựa vào vị thầy, cả hai đều có nhiều sự an trú, cả hai đều có nhiều sự quán xét lại: một hạng đạt được sự phân tích của bậc Hữu Học, một hạng đạt được sự phân tích của bậc Vô Học. Người nào đạt được sự phân tích của bậc Vô Học, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đã nương tựa vào vị thầy, cả hai đều có nhiều sự an trú, cả hai đều có nhiều sự quán xét lại, cả hai đều đã đạt được sự phân tích của bậc Vô Học: một hạng đạt được sự toàn hảo của vị Thinh Văn, một hạng không đạt được sự toàn hảo của vị Thinh Văn. Người nào đạt được sự toàn hảo của vị Thinh Văn, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đã nương tựa vào vị thầy, cả hai đều có nhiều sự an trú, cả hai đều có nhiều sự quán xét lại, cả hai đều đã đạt được sự phân tích của bậc Vô Học: một hạng đạt được sự toàn hảo của vị Thinh Văn, một hạng là vị Độc Giác Phật. Người nào là vị Độc Giác Phật, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Tính luôn vị Độc Giác Phật và thế gian có cả chư thiên, đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác là tối thắng, đã đạt đến sự phân tích, là thiện xảo về các loại tuệ, có trí đã được phân hạng, có sự phân tích đã được đắc chứng, đã đạt đến bốn sự tự tín, là vị rành rẽ về mười lực, là bậc Nhân Ngưu, là bậc Nhân Sư …(như trên)… Ngay cả các vị thông thái dòng Sát-đế-lỵ, các vị thông thái dòng Bà-la-môn, các vị gia chủ thông thái, các vị Sa-môn thông thái, khôn ngoan, biết đến các giáo thuyết của những người khác như là (mũi tên) xuyên qua sợi tóc, nghĩ rằng họ là những người đi đến đập đổ những khuynh hướng tà kiến nhờ vào tuệ đã đạt được. Những người ấy liên tục chuẩn bị câu hỏi rồi đi đến gặp đức Như Lai và chất vấn. Những câu hỏi khó hiểu và che đậy ấy, khi được giảng giải được trả lời bởi đức Thế Tôn, trở thành những sự việc rõ ràng. Và những người ấy trở thành những người hỗ trợ đối với đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn vô cùng rạng rỡ ở tại nơi ấy, tức là về ‘Tuệ.’ Ngài đã đạt đến sự phân tích và là vị tối thắng.
Phần Giảng về Tuệ được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Dukkhānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Anattānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti…pe… paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti?
1. When the contemplation of impermanence is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? When the contemplation of suffering is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? When the contemplation of non-self is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? … When the contemplation of relinquishment is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill?
1. Quán vô thường được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn trí tuệ nào? Quán khổ được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn trí tuệ nào? Quán vô ngã được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn trí tuệ nào? ... cho đến ... Quán từ bỏ được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn trí tuệ nào?
Aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṃ paripūreti. Dukkhānupassanā bhāvitā bahulīkatā nibbedhikapaññaṃ paripūreti. Anattānupassanā bhāvitā bahulīkatā mahāpaññaṃ paripūreti. Nibbidānupassanā bhāvitā bahulīkatā tikkhapaññaṃ paripūreti. Virāgānupassanā bhāvitā bahulīkatā vipulapaññaṃ paripūreti. Nirodhānupassanā bhāvitā bahulīkatā gambhīrapaññaṃ paripūreti. Paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā asāmantapaññaṃ † paripūreti. Imā satta paññā bhāvitā bahulīkatā paṇḍiccaṃ paripūrenti. Imā aṭṭha paññā bhāvitā bahulīkatā puthupaññaṃ paripūrenti. Imā nava paññā bhāvitā bahulīkatā hāsapaññaṃ paripūrenti.
The contemplation of impermanence, when developed and cultivated, fulfills swift wisdom. The contemplation of suffering, when developed and cultivated, fulfills penetrating wisdom. The contemplation of non-self, when developed and cultivated, fulfills great wisdom. The contemplation of disenchantment, when developed and cultivated, fulfills keen wisdom. The contemplation of fading away, when developed and cultivated, fulfills expansive wisdom. The contemplation of cessation, when developed and cultivated, fulfills profound wisdom. The contemplation of relinquishment, when developed and cultivated, fulfills matchless wisdom. These seven wisdoms, when developed and cultivated, fulfill erudition. These eight wisdoms, when developed and cultivated, fulfill broad wisdom. These nine wisdoms, when developed and cultivated, fulfill joyous wisdom.
Quán vô thường được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn trí tuệ nhanh nhạy. Quán khổ được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn trí tuệ thể nhập. Quán vô ngã được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn đại trí tuệ. Quán yếm ly được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn trí tuệ sắc bén. Quán ly tham được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn trí tuệ quảng bác. Quán đoạn diệt được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn trí tuệ sâu sắc. Quán từ bỏ được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn trí tuệ không giới hạn. Bảy loại trí tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn sự thông thái. Tám loại trí tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn trí tuệ rộng lớn. Chín loại trí tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn trí tuệ hoan hỷ.
Hāsapaññā paṭibhānapaṭisambhidā. Tassā atthavavatthānato atthapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya. Dhammavavatthānato dhammapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya. Niruttivavatthānato niruttipaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya. Paṭibhānavavatthānato paṭibhānapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya. Tassimā catasso paṭisambhidāyo adhigatā honti sacchikatā phassitā paññāya.
Joyous wisdom is the analytical insight of ready wit. Through the discernment of meaning, the analytical insight of meaning is attained, realized, and touched by wisdom. Through the discernment of the Dhamma, the analytical insight of the Dhamma is attained, realized, and touched by wisdom. Through the discernment of language, the analytical insight of language is attained, realized, and touched by wisdom. Through the discernment of ready wit, the analytical insight of ready wit is attained, realized, and touched by wisdom. For that person, these four analytical insights are attained, realized, and touched by wisdom.
Trí tuệ hoan hỷ là biện tài vô ngại giải. Do việc xác định được ý nghĩa, nghĩa vô ngại giải được vị ấy đạt được, được chứng ngộ, được tiếp xúc bằng trí tuệ. Do việc xác định được pháp, pháp vô ngại giải được vị ấy đạt được, được chứng ngộ, được tiếp xúc bằng trí tuệ. Do việc xác định được ngữ, ngữ vô ngại giải được vị ấy đạt được, được chứng ngộ, được tiếp xúc bằng trí tuệ. Do việc xác định được biện tài, biện tài vô ngại giải được vị ấy đạt được, được chứng ngộ, được tiếp xúc bằng trí tuệ. Đối với vị ấy, bốn pháp vô ngại giải này được đạt được, được chứng ngộ, được tiếp xúc bằng trí tuệ.
Rūpe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti…pe… rūpe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Rūpe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṃ paripūreti…pe… rūpe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā asāmantapaññaṃ paripūreti. Imā satta paññā bhāvitā bahulīkatā paṇḍiccaṃ paripūrenti. Imā aṭṭha paññā bhāvitā bahulīkatā puthupaññaṃ paripūrenti. Imā nava paññā bhāvitā bahulīkatā hāsapaññaṃ paripūrenti.
The contemplation of impermanence in form, when developed and cultivated, fulfills what wisdom? ... The contemplation of relinquishment in form, when developed and cultivated, fulfills what wisdom? The contemplation of impermanence in form, when developed and cultivated, fulfills swift wisdom ... the contemplation of relinquishment in form, when developed and cultivated, fulfills matchless wisdom. These seven wisdoms, when developed and cultivated, fulfill erudition. These eight wisdoms, when developed and cultivated, fulfill broad wisdom. These nine wisdoms, when developed and cultivated, fulfill joyous wisdom.
Khi quán vô thường nơi sắc được tu tập, được thực hành nhiều, nó làm viên mãn trí tuệ nào? ... cho đến ... Khi quán từ bỏ nơi sắc được tu tập, được thực hành nhiều, nó làm viên mãn trí tuệ nào? Khi quán vô thường nơi sắc được tu tập, được thực hành nhiều, nó làm viên mãn trí tuệ nhanh nhạy... cho đến ... Khi quán từ bỏ nơi sắc được tu tập, được thực hành nhiều, nó làm viên mãn trí tuệ không giới hạn. Bảy loại trí tuệ này khi được tu tập, được thực hành nhiều, sẽ làm viên mãn sự thông thái. Tám loại trí tuệ này khi được tu tập, được thực hành nhiều, sẽ làm viên mãn trí tuệ dồi dào. Chín loại trí tuệ này khi được tu tập, được thực hành nhiều, sẽ làm viên mãn trí tuệ hoan hỷ.
Hāsapaññā paṭibhānapaṭisambhidā. Tassā atthavavatthānato atthapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya. Dhammavavatthānato dhammapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya. Niruttivavatthānato niruttipaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya. Paṭibhānavavatthānato paṭibhānapaṭisambhidā adhigatā hoti, sacchikatā phassitā paññāya. Tassimā catasso paṭisambhidāyo adhigatā honti sacchikatā phassitā paññāya.
Joyous wisdom is the analytical insight of ready wit. Through the determination of meaning, the analytical insight of meaning is attained, realized, and touched by wisdom. Through the determination of phenomena, the analytical insight of phenomena is attained, realized, and touched by wisdom. Through the determination of language, the analytical insight of language is attained, realized, and touched by wisdom. Through the determination of ready wit, the analytical insight of ready wit is attained, realized, and touched by wisdom. For him, these four analytical insights are attained, realized, and touched by wisdom.
Trí tuệ hoan hỷ là Biện tài vô ngại giải. Do sự phân định được ý nghĩa, Nghĩa vô ngại giải được đạt đến, được chứng ngộ, được xúc chạm bằng trí tuệ. Do sự phân định được các pháp, Pháp vô ngại giải được đạt đến, được chứng ngộ, được xúc chạm bằng trí tuệ. Do sự phân định được ngôn từ, Từ vô ngại giải được đạt đến, được chứng ngộ, được xúc chạm bằng trí tuệ. Do sự phân định được biện tài, Biện tài vô ngại giải được đạt đến, được chứng ngộ, được xúc chạm bằng trí tuệ. Đối với vị ấy, bốn vô ngại giải này được đạt đến, được chứng ngộ, được xúc chạm bằng trí tuệ.
Vedanāya…pe… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe… cakkhusmiṃ…pe… jarāmaraṇe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti…pe… jarāmaraṇe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Jarāmaraṇe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṃ paripūreti…pe… jarāmaraṇe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā asāmantapaññaṃ paripūreti. Imā satta paññā bhāvitā bahulīkatā paṇḍiccaṃ paripūrenti. Imā aṭṭha paññā bhāvitā bahulīkatā puthupaññaṃ paripūrenti. Imā nava paññā bhāvitā bahulīkatā hāsapaññaṃ paripūrenti.
In feeling... in perception... in formations... in consciousness... in the eye... in aging and death, the contemplation of impermanence, when developed and cultivated, fulfills what wisdom? ... In aging and death, the contemplation of relinquishment, when developed and cultivated, fulfills what wisdom? The contemplation of impermanence in aging and death, when developed and cultivated, fulfills swift wisdom... the contemplation of relinquishment in aging and death, when developed and cultivated, fulfills matchless wisdom. These seven wisdoms, when developed and cultivated, fulfill erudition. These eight wisdoms, when developed and cultivated, fulfill broad wisdom. These nine wisdoms, when developed and cultivated, fulfill joyous wisdom.
Đối với thọ... cho đến... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức... đối với mắt... cho đến... đối với già-chết, quán vô thường được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn trí tuệ nào? ... cho đến ... đối với già-chết, quán từ bỏ được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn trí tuệ nào? Đối với già-chết, quán vô thường được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn trí tuệ nhanh nhạy. ... cho đến ... đối với già-chết, quán từ bỏ được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn trí tuệ không giới hạn. Bảy loại trí tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn sự thông thái. Tám loại trí tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn trí tuệ rộng lớn. Chín loại trí tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn sẽ làm viên mãn trí tuệ hoan hỷ.
Hāsapaññā paṭibhānapaṭisambhidā. Tassā atthavavatthānato atthapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya. Dhammavavatthānato dhammapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya. Niruttivavatthānato niruttipaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya. Paṭibhānavavatthānato paṭibhānapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya. Tassimā catasso paṭisambhidāyo adhigatā honti sacchikatā phassitā paññāya.
Joyous wisdom is the analytical insight of ready wit. Of that, through the discernment of meaning, the analytical insight of meaning is attained, realized, and touched by wisdom. Through the discernment of phenomena, the analytical insight of phenomena is attained, realized, and touched by wisdom. Through the discernment of language, the analytical insight of language is attained, realized, and touched by wisdom. Through the discernment of ready wit, the analytical insight of ready wit is attained, realized, and touched by wisdom. For that person, these four analytical insights are attained, realized, and touched by wisdom.
Tuệ hoan hỷ là Biện tài vô ngại giải. Do sự xác định về ý nghĩa của pháp ấy nên Nghĩa vô ngại giải được chứng đắc, được chứng ngộ, được tiếp xúc bởi trí tuệ. Do sự xác định về pháp nên Pháp vô ngại giải được chứng đắc, được chứng ngộ, được tiếp xúc bởi trí tuệ. Do sự xác định về từ ngữ nên Từ vô ngại giải được chứng đắc, được chứng ngộ, được tiếp xúc bởi trí tuệ. Do sự xác định về biện tài nên Biện tài vô ngại giải được chứng đắc, được chứng ngộ, được tiếp xúc bởi trí tuệ. Bốn pháp vô ngại giải này được vị ấy chứng đắc, được chứng ngộ, được tiếp xúc bởi trí tuệ.
2. Rūpe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Atītānāgatapaccuppanne rūpe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Rūpe dukkhānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Atītānāgatapaccuppanne rūpe dukkhānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Rūpe anattānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Atītānāgatapaccuppanne rūpe anattānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Rūpe nibbidānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Atītānāgatapaccuppanne rūpe nibbidānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Rūpe virāgānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Atītānāgatapaccuppanne rūpe virāgānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Rūpe nirodhānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Atītānāgatapaccuppanne rūpe nirodhānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Rūpe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Atītānāgatapaccuppanne rūpe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti?
2. When the contemplation of impermanence in form is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? When the contemplation of impermanence in past, future, and present form is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? When the contemplation of suffering in form is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? When the contemplation of suffering in past, future, and present form is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? When the contemplation of non-self in form is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? When the contemplation of non-self in past, future, and present form is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? When the contemplation of disenchantment in form is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? When the contemplation of disenchantment in past, future, and present form is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? When the contemplation of dispassion in form is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? When the contemplation of dispassion in past, future, and present form is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? When the contemplation of cessation in form is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? When the contemplation of cessation in past, future, and present form is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? When the contemplation of relinquishment in form is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? When the contemplation of relinquishment in past, future, and present form is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill?
2. Sự tùy quán vô thường ở sắc, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn loại tuệ nào? Sự tùy quán vô thường ở sắc thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn loại tuệ nào? Sự tùy quán khổ ở sắc, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn loại tuệ nào? Sự tùy quán khổ ở sắc thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn loại tuệ nào? Sự tùy quán vô ngã ở sắc, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn loại tuệ nào? Sự tùy quán vô ngã ở sắc thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn loại tuệ nào? Sự tùy quán về sự nhàm chán ở sắc, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn loại tuệ nào? Sự tùy quán về sự nhàm chán ở sắc thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn loại tuệ nào? Sự tùy quán về sự ly tham ở sắc, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn loại tuệ nào? Sự tùy quán về sự ly tham ở sắc thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn loại tuệ nào? Sự tùy quán về sự đoạn diệt ở sắc, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn loại tuệ nào? Sự tùy quán về sự đoạn diệt ở sắc thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn loại tuệ nào? Sự tùy quán về sự từ bỏ ở sắc, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn loại tuệ nào? Sự tùy quán về sự từ bỏ ở sắc thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn loại tuệ nào?
Rūpe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṃ paripūreti. Atītānāgatapaccuppanne rūpe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṃ paripūreti. Rūpe dukkhānupassanā bhāvitā bahulīkatā nibbedhikapaññaṃ paripūreti. Atītānāgatapaccuppanne rūpe dukkhānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṃ paripūreti. Rūpe anattānupassanā bhāvitā bahulīkatā mahāpaññaṃ paripūreti. Atītānāgatapaccuppanne rūpe anattānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṃ paripūreti. Rūpe nibbidānupassanā bhāvitā bahulīkatā tikkhapaññaṃ paripūreti. Atītānāgatapaccuppanne rūpe nibbidānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṃ paripūreti. Rūpe virāgānupassanā bhāvitā bahulīkatā vipulapaññaṃ paripūreti. Atītānāgatapaccuppanne rūpe virāgānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṃ paripūreti. Rūpe nirodhānupassanā bhāvitā bahulīkatā gambhīrapaññaṃ paripūreti. Atītānāgatapaccuppanne rūpe nirodhānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṃ paripūreti. Rūpe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā asāmantapaññaṃ paripūreti. Atītānāgatapaccuppanne rūpe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṃ paripūreti. Imā satta paññā bhāvitā bahulīkatā paṇḍiccaṃ paripūrenti. Imā aṭṭha paññā bhāvitā bahulīkatā puthupaññaṃ paripūrenti. Imā nava paññā bhāvitā bahulīkatā hāsapaññaṃ paripūrenti.
The contemplation of impermanence in form, when developed and cultivated, fulfills swift wisdom. The contemplation of impermanence in past, future, and present form, when developed and cultivated, fulfills swift wisdom. The contemplation of suffering in form, when developed and cultivated, fulfills penetrating wisdom. The contemplation of suffering in past, future, and present form, when developed and cultivated, fulfills swift wisdom. The contemplation of non-self in form, when developed and cultivated, fulfills great wisdom. The contemplation of non-self in past, future, and present form, when developed and cultivated, fulfills swift wisdom. The contemplation of disenchantment in form, when developed and cultivated, fulfills keen wisdom. The contemplation of disenchantment in past, future, and present form, when developed and cultivated, fulfills swift wisdom. The contemplation of dispassion in form, when developed and cultivated, fulfills expansive wisdom. The contemplation of dispassion in past, future, and present form, when developed and cultivated, fulfills swift wisdom. The contemplation of cessation in form, when developed and cultivated, fulfills profound wisdom. The contemplation of cessation in past, future, and present form, when developed and cultivated, fulfills swift wisdom. The contemplation of relinquishment in form, when developed and cultivated, fulfills matchless wisdom. The contemplation of relinquishment in past, future, and present form, when developed and cultivated, fulfills swift wisdom. These seven wisdoms, when developed and cultivated, fulfill erudition. These eight wisdoms, when developed and cultivated, fulfill broad wisdom. These nine wisdoms, when developed and cultivated, fulfill joyous wisdom.
Sự tùy quán vô thường ở sắc, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn tuệ tốc hành. Sự tùy quán vô thường ở sắc thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn tuệ tốc hành. Sự tùy quán khổ ở sắc, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn tuệ thể nhập. Sự tùy quán khổ ở sắc thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn tuệ tốc hành. Sự tùy quán vô ngã ở sắc, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn đại tuệ. Sự tùy quán vô ngã ở sắc thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn tuệ tốc hành. Sự tùy quán về sự nhàm chán ở sắc, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn tuệ sắc bén. Sự tùy quán về sự nhàm chán ở sắc thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn tuệ tốc hành. Sự tùy quán về sự ly tham ở sắc, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn tuệ rộng lớn. Sự tùy quán về sự ly tham ở sắc thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn tuệ tốc hành. Sự tùy quán về sự đoạn diệt ở sắc, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn tuệ sâu sắc. Sự tùy quán về sự đoạn diệt ở sắc thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn tuệ tốc hành. Sự tùy quán về sự từ bỏ ở sắc, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn tuệ không giới hạn. Sự tùy quán về sự từ bỏ ở sắc thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại, được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn tuệ tốc hành. Bảy loại tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn sự thông thái. Tám loại tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn tuệ rộng khắp. Chín loại tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn tuệ hoan hỷ.
Hāsapaññā paṭibhānapaṭisambhidā. Tassā atthavavatthānato atthapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya. Dhammavavatthānato dhammapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya. Niruttivavatthānato niruttipaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya. Paṭibhānavavatthānato paṭibhānapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya. Tassimā catasso paṭisambhidāyo adhigatā honti sacchikatā phassitā paññāya.
Joyful wisdom is the analytical knowledge of ready wit. Through the analysis of meaning, the analytical knowledge of meaning is attained, realized, and touched by wisdom. Through the analysis of the Dhamma, the analytical knowledge of the Dhamma is attained, realized, and touched by wisdom. Through the analysis of etymology, the analytical knowledge of etymology is attained, realized, and touched by wisdom. Through the analysis of ready wit, the analytical knowledge of ready wit is attained, realized, and touched by wisdom. For him, these four analytical knowledges are attained, realized, and touched by wisdom.
Tuệ hoan hỷ là Biện tài vô ngại giải. Do sự xác định về ý nghĩa của pháp ấy nên Nghĩa vô ngại giải được chứng đắc, được chứng ngộ, được tiếp xúc bởi trí tuệ. Do sự xác định về pháp nên Pháp vô ngại giải được chứng đắc, được chứng ngộ, được tiếp xúc bởi trí tuệ. Do sự xác định về từ ngữ nên Từ vô ngại giải được chứng đắc, được chứng ngộ, được tiếp xúc bởi trí tuệ. Do sự xác định về biện tài nên Biện tài vô ngại giải được chứng đắc, được chứng ngộ, được tiếp xúc bởi trí tuệ. Bốn pháp vô ngại giải này được vị ấy chứng đắc, được chứng ngộ, được tiếp xúc bởi trí tuệ.
Vedanāya…pe… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe… cakkhusmiṃ…pe… jarāmaraṇe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Atītānāgatapaccuppanne jarāmaraṇe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti…pe… jarāmaraṇe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Atītānāgatapaccuppanne jarāmaraṇe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṃ paññaṃ paripūreti? Jarāmaraṇe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṃ paripūreti. Atītānāgatapaccuppanne jarāmaraṇe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṃ paripūreti…pe… tassimā catasso paṭisambhidāyo adhigatā honti sacchikatā phassitā paññāya.
In feeling... and so on... in perception... in formations... in consciousness... in the eye... and so on... When the contemplation of impermanence in aging and death is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? When the contemplation of impermanence in past, future, and present aging and death is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? ...and so on... When the contemplation of relinquishment in aging and death is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? When the contemplation of relinquishment in past, future, and present aging and death is developed and cultivated, what wisdom does it fulfill? When the contemplation of impermanence in aging and death is developed and cultivated, it fulfills swift wisdom. When the contemplation of impermanence in past, future, and present aging and death is developed and cultivated, it fulfills swift wisdom... and so on... For him, these four analytical knowledges are attained, realized, and touched by wisdom.
Ở thọ... đến... ở tưởng... ở các hành... ở thức... ở mắt... đến... ở sự già và chết, sự tùy quán vô thường được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn loại tuệ nào? Ở sự già và chết thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại, sự tùy quán vô thường được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn loại tuệ nào? ... đến... Ở sự già và chết, sự tùy quán về sự từ bỏ được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn loại tuệ nào? Ở sự già và chết thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại, sự tùy quán về sự từ bỏ được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn loại tuệ nào? Ở sự già và chết, sự tùy quán vô thường được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn tuệ tốc hành. Ở sự già và chết thuộc quá khứ, vị lai, và hiện tại, sự tùy quán vô thường được tu tập, được làm cho sung mãn, làm cho viên mãn tuệ tốc hành. ... đến... Bốn pháp vô ngại giải này được vị ấy chứng đắc, được chứng ngộ, được tiếp xúc bởi trí tuệ.
3. ‘‘Cattārome, bhikkhave †, dhammā bhāvitā bahulīkatā sotāpattiphalasacchikiriyāya saṃvattanti. Katame cattāro? Sappurisasaṃsevo, saddhammassavanaṃ, yonisomanasikāro, dhammānudhammapaṭipatti – ime kho, bhikkhave, cattāro dhammā bhāvitā bahulīkatā sotāpattiphalasacchikiriyāya saṃvattanti.
3. Monks, these four things, when developed and cultivated, lead to the realization of the fruit of stream-entry. What four? Association with good people, listening to the true Dhamma, wise attention, and practice in accordance with the Dhamma. These four things, monks, when developed and cultivated, lead to the realization of the fruit of stream-entry.
3. Này các Tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự Lưu. Bốn pháp nào? Thân cận bậc chân nhân, nghe diệu pháp, như lý tác ý, thực hành pháp tùy pháp – Này các Tỳ khưu, chính bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự Lưu.
‘‘Cattārome, bhikkhave, dhammā bhāvitā bahulīkatā sakadāgāmiphalasacchikiriyāya saṃvattanti…pe… anāgāmiphalasacchikiriyāya saṃvattanti…pe… arahattaphalasacchikiriyāya saṃvattanti. Katame cattāro? Sappurisasaṃsevo, saddhammassavanaṃ, yonisomanasikāro, dhammānudhammapaṭipatti – ime kho, bhikkhave, cattāro dhammā bhāvitā bahulīkatā arahattamaggaphalasacchikiriyāya saṃvattanti.
O monks, these four things, when developed and cultivated, conduce to the realization of the fruit of once-returning... conduce to the realization of the fruit of non-returning... conduce to the realization of the fruit of arahantship. What are the four? Association with good persons, listening to the true Dhamma, wise attention, and practice in accordance with the Dhamma. Indeed, O monks, these four things, when developed and cultivated, conduce to the realization of the path and fruit of arahantship.
Này các Tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Nhất Lai... (vân vân)... đưa đến sự chứng ngộ quả Bất Lai... (vân vân)... đưa đến sự chứng ngộ quả A-la-hán. Bốn pháp nào? Thân cận bậc chân nhân, nghe diệu pháp, như lý tác ý, thực hành pháp tùy pháp – Này các Tỳ khưu, chính bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ đạo và quả A-la-hán.
‘‘Cattārome, bhikkhave, dhammā bhāvitā bahulīkatā paññāpaṭilābhāya saṃvattanti…pe… paññābuddhiyā saṃvattanti, paññāvepullāya saṃvattanti, mahāpaññatāya saṃvattanti, puthupaññatāya saṃvattanti, vipulapaññatāya saṃvattanti, gambhīrapaññatāya saṃvattanti, asāmantapaññatāya † saṃvattanti, bhūripaññatāya saṃvattanti, paññābāhullāya saṃvattanti, sīghapaññatāya saṃvattanti, lahupaññatāya saṃvattanti, hāsapaññatāya saṃvattanti, javanapaññatāya saṃvattanti, tikkhapaññatāya saṃvattanti, nibbedhikapaññatāya saṃvattanti. Katame cattāro? Sappurisasaṃsevo, saddhammassavanaṃ, yonisomanasikāro, dhammānudhammapaṭipatti – ime kho, bhikkhave, cattāro dhammā bhāvitā bahulīkatā paññāpaṭilābhāya saṃvattanti, paññābuddhiyā saṃvattanti…pe… nibbedhikapaññatāya saṃvattanti’’.
O monks, these four things, when developed and cultivated, conduce to the acquisition of wisdom... conduce to the growth of wisdom, to the expansion of wisdom, to great wisdom, to broad wisdom, to extensive wisdom, to profound wisdom, to unequalled wisdom, to vast wisdom, to an abundance of wisdom, to swiftness of wisdom, to quickness of wisdom, to joyful wisdom, to speedy wisdom, to sharp wisdom, to penetrating wisdom. What are the four? Association with good persons, listening to the true Dhamma, wise attention, and practice in accordance with the Dhamma. Indeed, O monks, these four things, when developed and cultivated, conduce to the acquisition of wisdom, to the growth of wisdom... to penetrating wisdom.
Này các Tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng đắc trí tuệ... (vân vân)... đưa đến sự tăng trưởng trí tuệ, đưa đến sự quảng đại trí tuệ, đưa đến việc có trí tuệ lớn, đưa đến việc có trí tuệ nhiều, đưa đến việc có trí tuệ rộng lớn, đưa đến việc có trí tuệ sâu sắc, đưa đến việc có trí tuệ không gần, đưa đến việc có trí tuệ như đất, đưa đến việc có trí tuệ dồi dào, đưa đến việc có trí tuệ nhanh chóng, đưa đến việc có trí tuệ mau lẹ, đưa đến việc có trí tuệ hoan hỷ, đưa đến việc có trí tuệ tốc hành, đưa đến việc có trí tuệ sắc bén, đưa đến việc có trí tuệ xuyên thấu. Bốn pháp nào? Thân cận bậc chân nhân, nghe diệu pháp, như lý tác ý, thực hành pháp tùy pháp – Này các Tỳ khưu, chính bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng đắc trí tuệ, đưa đến sự tăng trưởng trí tuệ... (vân vân)... đưa đến việc có trí tuệ xuyên thấu.
1. Soḷasapaññāniddeso
1. Exposition of the Sixteen Wisdoms
1. Phần giải thích về mười sáu loại trí tuệ.
4. Paññāpaṭilābhāya saṃvattantīti katamo paññāpaṭilābho? Catunnaṃ maggañāṇānaṃ, catunnaṃ phalañāṇānaṃ, catunnaṃ paṭisambhidāñāṇānaṃ, channaṃ abhiññāñāṇānaṃ, tesattatīnaṃ ñāṇānaṃ, sattasattatīnaṃ ñāṇānaṃ lābho paṭilābho patti sampatti phassanā † sacchikiriyā upasampadā. Paññāpaṭilābhāya saṃvattantīti – ayaṃ paññā paṭilābho.
4. Regarding the words, 'conduce to the acquisition of wisdom,' what is the acquisition of wisdom? It is the gain, obtaining, attainment, full attainment, contact, realization, and accomplishment of the four path-knowledges, the four fruition-knowledges, the four analytical knowledges, the six supernormal knowledges, the seventy-three knowledges, and the seventy-seven knowledges. 'Conduce to the acquisition of wisdom'—this is the acquisition of wisdom.
4. Trong câu 'đưa đến sự chứng đắc trí tuệ', thế nào là sự chứng đắc trí tuệ? Đó là sự được, sự lại được, sự đạt đến, sự đạt đến trọn vẹn, sự tiếp xúc, sự chứng ngộ, sự thành tựu đối với bốn đạo tuệ, bốn quả tuệ, bốn vô ngại giải tuệ, sáu thắng trí, bảy mươi ba loại tuệ. Trong câu 'đưa đến sự chứng đắc trí tuệ' – đây là sự chứng đắc trí tuệ.
Paññābuddhiyā saṃvattantīti katamā paññābuddhi? Sattannañca sekkhānaṃ puthujjanakalyāṇakassa ca paññā vaḍḍhati, arahato paññā vaḍḍhati. Vaḍḍhitavaḍḍhanā paññābuddhiyā saṃvattantīti – ayaṃ paññābuddhi.
"They lead to the growth of wisdom"—what is the growth of wisdom? The wisdom of the seven trainees and the virtuous worldling grows. The wisdom of the Arahant grows. It is the increasing of what has been increased. In the phrase 'they lead to the growth of wisdom'—this is the growth of wisdom.
Trong câu 'đưa đến sự tăng trưởng trí tuệ', thế nào là sự tăng trưởng trí tuệ? Trí tuệ của bảy bậc hữu học và của thiện phàm phu được tăng trưởng, trí tuệ của bậc A-la-hán được tăng trưởng. Sự tăng trưởng của cái đã được tăng trưởng. Trong câu 'đưa đến sự tăng trưởng trí tuệ' – đây là sự tăng trưởng trí tuệ.
Paññāvepullāya saṃvattantīti katamaṃ paññāvepullaṃ? Sattannaṃ sekkhānaṃ puthujjanakalyāṇakassa ca paññāvepullaṃ gacchati. Arahato paññā vepullagatā paññāvepullāya saṃvattantīti – idaṃ paññāvepullaṃ.
"They lead to the abundance of wisdom"—what is the abundance of wisdom? The wisdom of the seven trainees and the virtuous worldling reaches abundance. The wisdom of the Arahant has reached abundance. "They lead to the abundance of wisdom"—this is the abundance of wisdom.
Trong câu 'đưa đến sự quảng đại trí tuệ', thế nào là sự quảng đại trí tuệ? Trí tuệ của bảy bậc hữu học và của thiện phàm phu đi đến sự quảng đại. Trí tuệ của bậc A-la-hán đã đạt đến sự quảng đại. Trong câu 'đưa đến sự quảng đại trí tuệ' – đây là sự quảng đại trí tuệ.
Mahāpaññatāya saṃvattantīti katamā mahāpaññā? Mahante atthe pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahante dhamme pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahantā niruttiyo pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahantāni paṭibhānāni pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahante sīlakkhandhe pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahante samādhikkhandhe pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahante paññākkhandhe pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahante vimuttikkhandhe pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahante vimuttiñāṇadassanakkhandhe pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahantāni ṭhānāṭṭhānāni pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahantā vihārasamāpattiyo pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahantāni ariyasaccāni pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahante satipaṭṭhāne pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahante sammappadhāne pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahante iddhipāde pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahantāni indriyāni pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahantāni balāni pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahante bojjhaṅge pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahantaṃ ariyamaggaṃ † pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahantāni sāmaññaphalāni pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahantā abhiññāyo † pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahantaṃ paramatthaṃ nibbānaṃ pariggaṇhātīti – mahāpaññā. Mahāpaññatāya saṃvattantīti – ayaṃ mahāpaññā.
Regarding the statement, 'they conduce to the state of great wisdom,' what is great wisdom? It comprehends great meanings—this is great wisdom. It comprehends great principles—this is great wisdom. It comprehends great etymologies—this is great wisdom. It comprehends great ready wits—this is great wisdom. It comprehends the great aggregates of virtue—this is great wisdom. It comprehends the great aggregates of concentration—this is great wisdom. It comprehends the great aggregates of wisdom—this is great wisdom. It comprehends the great aggregates of liberation—this is great wisdom. It comprehends the great aggregates of the knowledge and vision of liberation—this is great wisdom. It comprehends great possibilities and impossibilities—this is great wisdom. It comprehends great dwelling attainments—this is great wisdom. It comprehends the great noble truths—this is great wisdom. It comprehends the great foundations of mindfulness—this is great wisdom. It comprehends the great right exertions—this is great wisdom. It comprehends the great bases of spiritual power—this is great wisdom. It comprehends the great faculties—this is great wisdom. It comprehends the great powers—this is great wisdom. It comprehends the great enlightenment factors—this is great wisdom. It comprehends the great noble path—this is great wisdom. It comprehends the great fruits of recluseship—this is great wisdom. It comprehends the great direct knowledges—this is great wisdom. It comprehends the great ultimate reality, Nibbāna—this is great wisdom. Regarding 'they conduce to the state of great wisdom'—this is great wisdom.
Trong câu 'đưa đến việc có trí tuệ lớn', thế nào là trí tuệ lớn? Nắm giữ các ý nghĩa vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ các pháp vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ các ngữ nguyên vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ các biện tài vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ các giới uẩn vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ các định uẩn vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ các tuệ uẩn vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ các giải thoát uẩn vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ các giải thoát tri kiến uẩn vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ các xứ và phi xứ vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ các thiền trú và thiền chứng vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ các Thánh đế vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ các niệm xứ vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ các chánh cần vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ các thần túc vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ các căn vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ các lực vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ các giác chi vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ Thánh đạo vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ các quả Sa-môn vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ các thắng trí vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Nắm giữ Níp-bàn, pháp tối thượng vĩ đại – nên gọi là trí tuệ lớn. Trong câu 'đưa đến việc có trí tuệ lớn' – đây là trí tuệ lớn.
Puthupaññatāya saṃvattantīti katamā puthupaññā? Puthunānākhandhesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānādhātūsu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāāyatanesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāpaṭiccasamuppādesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāsuññatamanupalabbhesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāatthesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānādhammesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāniruttīsu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāpaṭibhānesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāsīlakkhandhesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāsamādhikkhandhesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāpaññākkhandhesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāvimuttikkhandhesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāvimuttiñāṇadassanakkhandhesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāṭhānāṭṭhānesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāvihārasamāpattīsu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāariyasaccesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāsatipaṭṭhānesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāsammappadhānesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāiddhipādesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāindriyesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānābalesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānābojjhaṅgesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāariyamaggesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāsāmaññaphalesu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthunānāabhiññāsu ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthujjanasādhāraṇe dhamme atikkamma † paramatthe nibbāne ñāṇaṃ pavattatīti – puthupaññā. Puthupaññatāya saṃvattantīti – ayaṃ puthupaññā.
Regarding the statement, 'They conduce to the state of broad wisdom,' what is broad wisdom? Knowledge that occurs with regard to the various aggregates—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various elements—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various sense bases—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various dependent originations—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various emptinesses of non-apprehension—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various meanings—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various dhammas—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various expressions—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various instances of ready-wittedness—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various aggregates of virtue—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various aggregates of concentration—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various aggregates of wisdom—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various aggregates of liberation—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various aggregates of knowledge and vision of liberation—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various possibilities and impossibilities—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various abidings and meditative attainments—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various Noble Truths—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various foundations of mindfulness—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various right exertions—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various bases of spiritual power—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various faculties—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various powers—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various enlightenment factors—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various Noble Paths—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various fruits of recluseship—this is broad wisdom. Knowledge that occurs with regard to the various higher knowledges—this is broad wisdom. Knowledge that occurs, having transcended the states common to ordinary people, in the ultimate meaning, Nibbāna—this is broad wisdom. Regarding the statement, 'They conduce to the state of broad wisdom'—this is broad wisdom.
Trong câu ‘dẫn đến trạng thái có trí tuệ riêng biệt,’ trí tuệ riêng biệt là gì? Trí tuệ khởi lên trong các uẩn khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các giới khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các xứ khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các pháp duyên khởi khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các pháp tánh không khác nhau không thể nắm bắt được – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các nghĩa khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các pháp khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các ngữ nguyên khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các biện tài khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các giới uẩn khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các định uẩn khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các tuệ uẩn khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các giải thoát uẩn khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các giải thoát tri kiến uẩn khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các xứ và phi xứ khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các sự an trú và chứng đắc khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các Thánh đế khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các niệm xứ khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các chánh cần khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các thần túc khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các căn khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các lực khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các giác chi khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các Thánh đạo khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các quả Sa-môn khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong các thắng trí khác nhau – (đó là) trí tuệ riêng biệt. Trí tuệ khởi lên trong Niết-bàn, là pháp tối thượng, sau khi đã vượt qua các pháp thông thường của phàm phu – (đó là) trí tuệ riêng biệt. (Các pháp ấy) dẫn đến trạng thái có trí tuệ riêng biệt – đây là trí tuệ riêng biệt.
Vipulapaññatāya saṃvattantīti katamā vipulapaññā? Vipule atthe pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipule dhamme pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipulā niruttiyo pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipulāni paṭibhānāni pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipule sīlakkhandhe pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipule samādhikkhandhe pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipule paññākkhandhe pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipule vimuttikkhandhe pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipule vimuttiñāṇadassanakkhandhe pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipulāni ṭhānāṭṭhānāni pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipulā vihārasamāpattiyo pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipulāni ariyasaccāni pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipule satipaṭṭhāne pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipule sammappadhāne pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipule iddhipāde pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipulāni indriyāni pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipulāni balāni pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipule bojjhaṅge pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipule ariyamagge pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipulāni sāmaññaphalāni pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipulā abhiññāyo pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipulaṃ paramatthaṃ nibbānaṃ pariggaṇhātīti – vipulapaññā. Vipulapaññatāya saṃvattantīti – ayaṃ vipulapaññā.
In the phrase 'They conduce to the state of vast wisdom,' what is vast wisdom? Because it comprehends vast meanings, it is vast wisdom. Because it comprehends vast phenomena, it is vast wisdom. Because it comprehends vast expressions, it is vast wisdom. Because it comprehends vast instances of ready-wittedness, it is vast wisdom. Because it comprehends the vast aggregates of virtue, it is vast wisdom. Because it comprehends the vast aggregates of concentration, it is vast wisdom. Because it comprehends the vast aggregates of wisdom, it is vast wisdom. Because it comprehends the vast aggregates of liberation, it is vast wisdom. Because it comprehends the vast aggregates of the knowledge and vision of liberation, it is vast wisdom. Because it comprehends the vast possibilities and impossibilities, it is vast wisdom. Because it comprehends the vast abidings and meditative attainments, it is vast wisdom. Because it comprehends the vast Noble Truths, it is vast wisdom. Because it comprehends the vast foundations of mindfulness, it is vast wisdom. Because it comprehends the vast right exertions, it is vast wisdom. Because it comprehends the vast bases of spiritual power, it is vast wisdom. Because it comprehends the vast faculties, it is vast wisdom. Because it comprehends the vast powers, it is vast wisdom. Because it comprehends the vast enlightenment factors, it is vast wisdom. Because it comprehends the vast Noble Path, it is vast wisdom. Because it comprehends the vast fruits of recluseship, it is vast wisdom. Because it comprehends the vast higher knowledges, it is vast wisdom. Because it comprehends the vast ultimate reality, Nibbāna, it is vast wisdom. Regarding the phrase 'They conduce to the state of vast wisdom'—this is vast wisdom.
Trong câu ‘dẫn đến trạng thái có trí tuệ rộng lớn,’ trí tuệ rộng lớn là gì? (Trí tuệ) nắm bắt được các nghĩa rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được các pháp rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được các ngữ nguyên rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được các biện tài rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được các giới uẩn rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được các định uẩn rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được các tuệ uẩn rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được các giải thoát uẩn rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được các giải thoát tri kiến uẩn rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được các xứ và phi xứ rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được các sự an trú và chứng đắc rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được các Thánh đế rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được các niệm xứ rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được các chánh cần rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được các thần túc rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được các căn rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được các lực rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được các giác chi rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được Thánh đạo rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được các quả Sa-môn rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được các thắng trí rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Trí tuệ) nắm bắt được Niết-bàn, là pháp tối thượng rộng lớn – (đó là) trí tuệ rộng lớn. (Các pháp ấy) dẫn đến trạng thái có trí tuệ rộng lớn – đây là trí tuệ rộng lớn.
Gambhīrapaññatāya saṃvattantīti katamā gambhīrapaññā? Gambhīresu khandhesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīrāsu dhātūsu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu āyatanesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu paṭiccasamuppādesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu suññatamanupalabbhesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu atthesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu dhammesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīrāsu niruttīsu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu paṭibhānesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu sīlakkhandhesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu samādhikkhandhesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu paññākkhandhesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu vimuttikkhandhesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu vimuttiñāṇadassanakkhandhesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu ṭhānāṭṭhānesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīrāsu vihārasamāpattīsu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu ariyasaccesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu satipaṭṭhānesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu sammappadhānesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu iddhipādesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu indriyesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu balesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu bojjhaṅgesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu ariyamaggesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīresu sāmaññaphalesu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīrāsu abhiññāsu ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīre paramatthe nibbāne ñāṇaṃ pavattatīti – gambhīrapaññā. Gambhīrapaññatāya saṃvattantīti – ayaṃ gambhīrapaññā.
When it is said, 'they conduce to the state of profound wisdom,' what is this profound wisdom? Knowledge that occurs with regard to the profound aggregates—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound elements—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound sense bases—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound dependent originations—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound, unapprehendable emptinesses—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound results—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound causes—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound expressions—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound instances of ready-wittedness—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound aggregates of virtue—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound aggregates of concentration—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound aggregates of wisdom—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound aggregates of liberation—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound aggregates of the knowledge and vision of liberation—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound possible and impossible—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound abidings and meditative attainments—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound Noble Truths—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound right exertions—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound bases of spiritual power—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound faculties—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound powers—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound enlightenment factors—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound Noble Path—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound fruits of recluseship—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound higher knowledges—this is profound wisdom. Knowledge that occurs with regard to the profound ultimate reality, Nibbāna—this is profound wisdom. They conduce to the state of profound wisdom—this is profound wisdom.
Thế nào là trí tuệ thâm sâu trong câu ‘chúng dẫn đến trạng thái có trí tuệ thâm sâu’? Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các uẩn thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các giới thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các xứ thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các pháp Duyên khởi thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các pháp tánh không không thể nắm bắt thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các ý nghĩa thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các pháp thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các từ ngữ thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các biện tài thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các giới uẩn thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các định uẩn thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các tuệ uẩn thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các giải thoát uẩn thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các giải thoát tri kiến uẩn thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các xứ và phi xứ thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các thiền chứng và đẳng nhập thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các Thánh đế thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các niệm xứ thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các chánh cần thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các như ý túc thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các căn thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các lực thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các giác chi thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các Thánh đạo thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các quả Sa-môn thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong các thắng trí thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Trí tuệ là sự hiểu biết sanh khởi trong pháp siêu thế là Niết-bàn thâm sâu – đó là trí tuệ thâm sâu. Đây là trí tuệ thâm sâu trong câu ‘chúng dẫn đến trạng thái có trí tuệ thâm sâu’.
Asāmantapaññatāya saṃvattantīti katamā asāmantapaññā? Yassa puggalassa atthavavatthānato atthapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya, dhammavavatthānato dhammapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya, niruttivavatthānato niruttipaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya, paṭibhānavavatthānato paṭibhānapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya, tassa atthe ca dhamme ca niruttiyā ca paṭibhāne ca na añño koci sakkoti abhisambhavituṃ. Anabhisambhavanīyo ca so aññehīti – asāmantapañño.
Herein, in the phrase 'it conduces to the state of unapproachable wisdom,' what is unapproachable wisdom? It is when a person, through the defining of meaning, has attained, realized, and touched with wisdom the analytical knowledge of meaning; through the defining of the Dhamma, has attained, realized, and touched with wisdom the analytical knowledge of the Dhamma; through the defining of language, has attained, realized, and touched with wisdom the analytical knowledge of language; and through the defining of perspicuity, has attained, realized, and touched with wisdom the analytical knowledge of perspicuity. No other whatsoever is able to surpass that person in meaning, in the Dhamma, in language, or in perspicuity. And he is unsurpassable by others. Thus, he is one of unapproachable wisdom.
Thế nào là trí tuệ vô biên trong câu ‘chúng dẫn đến trạng thái có trí tuệ vô biên’? Vị nào, do sự phân định về ý nghĩa, đã chứng đắc, đã thực chứng, đã tiếp xúc bằng trí tuệ đối với Vô ngại giải về ý nghĩa; do sự phân định về pháp, đã chứng đắc, đã thực chứng, đã tiếp xúc bằng trí tuệ đối với Vô ngại giải về pháp; do sự phân định về từ ngữ, đã chứng đắc, đã thực chứng, đã tiếp xúc bằng trí tuệ đối với Vô ngại giải về từ ngữ; do sự phân định về biện tài, đã chứng đắc, đã thực chứng, đã tiếp xúc bằng trí tuệ đối với Vô ngại giải về biện tài; đối với vị ấy, không một ai khác có thể vượt qua về ý nghĩa, về pháp, về từ ngữ, và về biện tài. Và vị ấy không thể bị những người khác vượt qua – đó là người có trí tuệ vô biên.
Puthujjanakalyāṇakassa paññā aṭṭhamakassa paññāya dūre vidūre suvidūre na santike na sāmantā. Puthujjanakalyāṇakaṃ upādāya aṭṭhamako asāmantapañño. Aṭṭhamakassa paññā sotāpannassa paññāya dūre vidūre suvidūre na santike na sāmantā. Aṭṭhamakaṃ upādāya sotāpanno asāmantapañño. Sotāpannassa paññā sakadāgāmissa paññāya dūre vidūre suvidūre na santike na sāmantā. Sotāpannaṃ upādāya sakadāgāmi asāmantapañño. Sakadāgāmissa paññā anāgāmissa paññāya dūre vidūre suvidūre na santike na sāmantā. Sakadāgāmiṃ upādāya anāgāmī asāmantapañño. Anāgāmissa paññā arahato paññāya dūre vidūre suvidūre na santike na sāmantā. Anāgāmiṃ upādāya arahā asāmantapañño. Arahato paññā paccekasambuddhassa † paññāya dūre vidūre suvidūre na santike na sāmantā. Arahantaṃ upādāya paccekabuddho asāmantapañño. Paccekabuddhañca sadevakañca lokaṃ upādāya tathāgato arahaṃ sammāsambuddho aggo asāmantapañño.
The wisdom of a virtuous ordinary person is far, very far, exceedingly far from the wisdom of the eighth person, not near, not close. With reference to the virtuous ordinary person, the eighth person is one of unapproachable wisdom. The wisdom of the eighth person is far, very far, exceedingly far from the wisdom of a stream-enterer, not near, not close. With reference to the eighth person, the stream-enterer is one of unapproachable wisdom. The wisdom of a stream-enterer is far, very far, exceedingly far from the wisdom of a once-returner, not near, not close. With reference to the stream-enterer, the once-returner is one of unapproachable wisdom. The wisdom of a once-returner is far, very far, exceedingly far from the wisdom of a non-returner, not near, not close. With reference to the once-returner, the non-returner is one of unapproachable wisdom. The wisdom of a non-returner is far, very far, exceedingly far from the wisdom of an Arahant, not near, not close. With reference to the non-returner, the Arahant is one of unapproachable wisdom. The wisdom of an Arahant is far, very far, exceedingly far from the wisdom of a Paccekabuddha, not near, not close. With reference to the Arahant, the Paccekabuddha is one of unapproachable wisdom. With reference to the Paccekabuddha and the world with its gods, the Tathāgata, the Arahant, the Perfectly Self-Enlightened One is supreme, one of unapproachable wisdom.
Trí tuệ của bậc thiện phàm phu thì xa, rất xa, cực kỳ xa, không gần, không kề cận với trí tuệ của bậc thứ tám. So với bậc thiện phàm phu, bậc thứ tám là người có trí tuệ vô biên. Trí tuệ của bậc thứ tám thì xa, rất xa, cực kỳ xa, không gần, không kề cận với trí tuệ của bậc Dự Lưu. So với bậc thứ tám, bậc Dự Lưu là người có trí tuệ vô biên. Trí tuệ của bậc Dự Lưu thì xa, rất xa, cực kỳ xa, không gần, không kề cận với trí tuệ của bậc Nhất Lai. So với bậc Dự Lưu, bậc Nhất Lai là người có trí tuệ vô biên. Trí tuệ của bậc Nhất Lai thì xa, rất xa, cực kỳ xa, không gần, không kề cận với trí tuệ của bậc Bất Lai. So với bậc Nhất Lai, bậc Bất Lai là người có trí tuệ vô biên. Trí tuệ của bậc Bất Lai thì xa, rất xa, cực kỳ xa, không gần, không kề cận với trí tuệ của bậc A-la-hán. So với bậc Bất Lai, bậc A-la-hán là người có trí tuệ vô biên. Trí tuệ của bậc A-la-hán thì xa, rất xa, cực kỳ xa, không gần, không kề cận với trí tuệ của vị Phật Độc Giác. So với bậc A-la-hán, vị Phật Độc Giác là người có trí tuệ vô biên. So với vị Phật Độc Giác và thế gian cùng với chư Thiên, đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là bậc tối thượng, có trí tuệ vô biên.
5. Paññāpabhedakusalo pabhinnañāṇo adhigatappaṭisambhido catuvesārajjappatto dasabaladhārī purisāsabho purisasīho purisanāgo purisājañño purisadhorayho anantañāṇo anantatejo anantayaso aḍḍho mahaddhano dhanavā netā vinetā anunetā paññāpetā nijjhāpetā pekkhetā pasādetā. So hi bhagavā anuppannassa maggassa uppādetā, asañjātassa maggassa sañjanetā †, anakkhātassa maggassa akkhātā, maggaññū maggavidū maggakovido maggānugāmī † ca panassa etarahi sāvakā viharanti pacchā samannāgatā.
5. Skilled in the distinctions of wisdom, possessing discriminating knowledge, having attained the analytical knowledges, having reached the four kinds of confidence, a possessor of the ten powers; the bull among men, the lion among men, the great elephant among men, the thoroughbred among men, the bearer of the burden among men; of boundless knowledge, boundless splendor, boundless glory; rich, of great wealth, and wealthy; a guide, a trainer, one who persuades, one who makes known, one who causes reflection, one who causes to behold, one who inspires confidence. Indeed, that Blessed One is the producer of the unarisen path, the generator of the unproduced path, the declarer of the undeclared path; the knower of the path, the discoverer of the path, and the one skilled in the path. And now his disciples dwell following the path, having become endowed with it afterwards.
5. Ngài thiện xảo trong các loại trí tuệ, có trí tuệ phân tích, đã chứng đắc các vô ngại giải, đã đạt đến bốn sự vô sở úy, là người mang mười lực, là bậc nhân ngưu, là bậc nhân sư, là bậc nhân tượng, là bậc nhân tuấn mã, là bậc nhân năng tải, có trí tuệ vô lượng, có uy lực vô lượng, có danh tiếng vô lượng, là bậc phú quý, là bậc đại phú, là bậc có tài sản, là người dẫn dắt, là người huấn luyện, là người khuyên giải, là người làm cho biết rõ, là người làm cho thẩm sát, là người làm cho quán xét, là người làm cho hoan hỷ. Và chính Đức Thế Tôn là người làm cho sanh khởi con đường chưa từng sanh khởi, là người làm cho phát sanh con đường chưa từng phát sanh, là người tuyên thuyết con đường chưa từng được tuyên thuyết, là người biết con đường, là người thông suốt con đường, là người thiện xảo về con đường. Và hiện nay, các vị đệ tử của Ngài sống đi theo con đường, về sau được thành tựu.
So hi bhagavā jānaṃ jānāti, passaṃ passati, cakkhubhūto ñāṇabhūto dhammabhūto brahmabhūto vattā pavattā atthassa ninnetā amatassa dātā dhammassāmī tathāgato. Natthi tassa bhagavato aññātaṃ adiṭṭhaṃ aviditaṃ asacchikataṃ aphassitaṃ paññāya. Atītaṃ anāgataṃ paccuppannaṃ † upādāya sabbe dhammā sabbākārena buddhassa bhagavato ñāṇamukhe āpāthaṃ āgacchanti. Yaṃ kiñci neyyaṃ nāma atthi taṃ sabbaṃ jānitabbaṃ †. Attattho vā parattho vā ubhayattho vā diṭṭhadhammiko vā attho samparāyiko vā attho uttāno vā attho gambhīro vā attho gūḷho vā attho paṭicchanno vā attho neyyo vā attho nīto vā attho anavajjo vā attho nikkileso vā attho vodāno vā attho paramattho vā attho, sabbaṃ taṃ antobuddhañāṇe parivattati.
Indeed, that Blessed One knows what is to be known and sees what is to be seen. He has become the eye, has become knowledge, has become the Dhamma, has become the holy one. He is the speaker, the proclaimer, the elucidator of meaning, the giver of the Deathless, the lord of the Dhamma, the Tathāgata. There is nothing for that Blessed One that is unknown, unseen, unperceived, unrealized, or untouched by wisdom. All phenomena of the past, future, and present, in all their aspects, come into the range of the knowledge of the Buddha, the Blessed One. Whatever is knowable, all that is to be known—whether it is one’s own benefit, the benefit of others, or the benefit of both; a benefit in this life or a benefit in the next life; a manifest benefit or a profound benefit; a hidden benefit or a concealed benefit; a benefit requiring interpretation or a benefit of explicit meaning; a blameless benefit or an undefiled benefit; a purified benefit or an ultimate benefit—all of it revolves within the Buddha’s knowledge.
Vị Thế Tôn ấy biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, là vị có mắt, là vị có trí, là vị có Pháp, là vị Phạm thiên, là vị thuyết giảng, là vị tuyên bố, là vị dẫn dắt ý nghĩa, là vị ban cho sự bất tử, là bậc Pháp vương, là bậc Như Lai. Đối với vị Thế Tôn ấy, không có điều gì không được biết, không được thấy, không được liễu tri, không được chứng ngộ, không được tiếp xúc bằng trí tuệ. Bao gồm quá khứ, vị lai, và hiện tại, tất cả các pháp theo mọi phương diện đều đi vào phạm vi trí tuệ của đức Phật, đấng Thế Tôn. Bất cứ điều gì được gọi là đối tượng cần biết, tất cả những điều ấy đều cần phải được biết. Hoặc là lợi ích cho bản thân, hoặc là lợi ích cho người khác, hoặc là lợi ích cho cả hai; hoặc là lợi ích trong hiện tại, hoặc là lợi ích trong tương lai; hoặc là lợi ích hiển nhiên, hoặc là lợi ích sâu xa; hoặc là lợi ích bí mật, hoặc là lợi ích được che giấu; hoặc là lợi ích cần được dẫn dắt, hoặc là lợi ích trực tiếp; hoặc là lợi ích không có lỗi lầm, hoặc là lợi ích không có phiền não, hoặc là lợi ích trong sạch, hoặc là lợi ích tối thượng; tất cả những điều ấy đều vận hành bên trong trí tuệ của đức Phật.
Sabbaṃ kāyakammaṃ buddhassa bhagavato ñāṇānuparivatti. Sabbaṃ vacīkammaṃ buddhassa bhagavato ñāṇānuparivatti. Sabbaṃ manokammaṃ buddhassa bhagavato ñāṇānuparivatti. Atīte buddhassa bhagavato appaṭihataṃ ñāṇaṃ. Anāgate buddhassa bhagavato appaṭihataṃ ñāṇaṃ. Paccuppanne buddhassa bhagavato appaṭihataṃ ñāṇaṃ. Yāvatakaṃ neyyaṃ tāvatakaṃ ñāṇaṃ, yāvatakaṃ ñāṇaṃ tāvatakaṃ neyyaṃ. Neyyapariyantikaṃ ñāṇaṃ, ñāṇapariyantikaṃ neyyaṃ. Neyyaṃ atikkamitvā ñāṇaṃ nappavattati. Ñāṇaṃ atikkamitvā neyyapatho natthi. Aññamaññapariyantaṭṭhāyino te dhammā. Yathā dvinnaṃ samuggapaṭalānaṃ sammā phusitānaṃ † heṭṭhimaṃ samuggapaṭalaṃ uparimaṃ nātivattati, uparimaṃ samuggapaṭalaṃ heṭṭhimaṃ nātivattati, aññamaññapariyantaṭṭhāyino; evameva buddhassa bhagavato neyyañca ñāṇañca aññamaññapariyantaṭṭhāyino. Yāvatakaṃ neyyaṃ tāvatakaṃ ñāṇaṃ, yāvatakaṃ ñāṇaṃ tāvatakaṃ neyyaṃ. Neyyapariyantikaṃ ñāṇaṃ, ñāṇapariyantikaṃ neyyaṃ. Neyyaṃ atikkamitvā ñāṇaṃ nappavattati. Ñāṇaṃ atikkamitvā neyyapatho natthi. Aññamaññapariyantaṭṭhāyino te dhammā. Sabbadhammesu buddhassa bhagavato ñāṇaṃ pavattati.
All bodily actions of the Buddha, the Blessed One, follow in accordance with knowledge. All verbal actions of the Buddha, the Blessed One, follow in accordance with knowledge. All mental actions of the Buddha, the Blessed One, follow in accordance with knowledge. In the past, the knowledge of the Buddha, the Blessed One, was unimpeded. In the future, the knowledge of the Buddha, the Blessed One, is unimpeded. In the present, the knowledge of the Buddha, the Blessed One, is unimpeded. As far as there is the knowable, so far there is knowledge; as far as there is knowledge, so far there is the knowable. Knowledge has the knowable as its limit; the knowable has knowledge as its limit. Knowledge does not proceed beyond the knowable. There is no domain of the knowable beyond knowledge. These things stand with mutual limits. Just as with two well-fitted box-lids, the lower box-lid does not exceed the upper, nor does the upper box-lid exceed the lower; they stand with mutual limits; even so, for the Buddha, the Blessed One, the knowable and knowledge stand with mutual limits. As far as there is the knowable, so far there is knowledge; as far as there is knowledge, so far there is the knowable. Knowledge has the knowable as its limit; the knowable has knowledge as its limit. Knowledge does not proceed beyond the knowable. There is no domain of the knowable beyond knowledge. These things stand with mutual limits. In all phenomena, the knowledge of the Buddha, the Blessed One, proceeds.
Tất cả thân nghiệp của đức Phật, đấng Thế Tôn, đều tùy thuộc vào trí tuệ. Tất cả khẩu nghiệp của đức Phật, đấng Thế Tôn, đều tùy thuộc vào trí tuệ. Tất cả ý nghiệp của đức Phật, đấng Thế Tôn, đều tùy thuộc vào trí tuệ. Trong quá khứ, trí tuệ của đức Phật, đấng Thế Tôn, là không bị ngăn ngại. Trong vị lai, trí tuệ của đức Phật, đấng Thế Tôn, là không bị ngăn ngại. Trong hiện tại, trí tuệ của đức Phật, đấng Thế Tôn, là không bị ngăn ngại. Đối tượng cần biết có bao nhiêu thì trí tuệ có bấy nhiêu, trí tuệ có bao nhiêu thì đối tượng cần biết có bấy nhiêu. Trí tuệ có đối tượng cần biết làm giới hạn, đối tượng cần biết có trí tuệ làm giới hạn. Trí tuệ không vận hành vượt quá đối tượng cần biết. Vượt quá trí tuệ, không có con đường của đối tượng cần biết. Các pháp ấy đứng trong giới hạn của nhau. Giống như hai nắp hộp vừa khít nhau, nắp dưới không vượt qua nắp trên, nắp trên không vượt qua nắp dưới, chúng đứng trong giới hạn của nhau; cũng vậy, đối tượng cần biết và trí tuệ của đức Phật, đấng Thế Tôn, đứng trong giới hạn của nhau. Đối tượng cần biết có bao nhiêu thì trí tuệ có bấy nhiêu, trí tuệ có bao nhiêu thì đối tượng cần biết có bấy nhiêu. Trí tuệ có đối tượng cần biết làm giới hạn, đối tượng cần biết có trí tuệ làm giới hạn. Trí tuệ không vận hành vượt quá đối tượng cần biết. Vượt quá trí tuệ, không có con đường của đối tượng cần biết. Các pháp ấy đứng trong giới hạn của nhau. Trí tuệ của đức Phật, đấng Thế Tôn, vận hành trong tất cả các pháp.
Sabbe dhammā buddhassa bhagavato āvajjanappaṭibaddhā ākaṅkhappaṭibaddhā manasikārappaṭibaddhā cittuppādappaṭibaddhā. Sabbasattesu buddhassa bhagavato ñāṇaṃ pavattati. Sabbesaṃ sattānaṃ buddho āsayaṃ jānāti, anusayaṃ jānāti, caritaṃ † jānāti, adhimuttiṃ jānāti. Apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye bhabbābhabbe satte pajānāti. Sadevako loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā antobuddhañāṇe parivattati.
All phenomena are bound up with the attention of the Blessed One, the Buddha; they are bound up with his aspiration, his mental application, and the arising of his mind. The knowledge of the Blessed One, the Buddha, operates in all beings. The Buddha knows the inclination, the latent tendencies, the conduct, and the mental disposition of all beings. He understands beings with little dust, beings with much dust, beings with keen faculties, beings with dull faculties, beings of good disposition, beings of bad disposition, beings easy to instruct, beings difficult to instruct, beings capable, and beings incapable. The world with its devas, Māras, and Brahmās, this generation with its ascetics and brahmins, its devas and humans—all revolve within the Buddha's knowledge.
Tất cả các pháp đều liên quan đến sự hướng tâm, liên quan đến ý muốn, liên quan đến sự tác ý, liên quan đến sự khởi tâm của đức Phật, đấng Thế Tôn. Trí tuệ của đức Phật, đấng Thế Tôn, vận hành trong tất cả chúng sinh. Đức Phật biết rõ khuynh hướng, biết rõ tùy miên, biết rõ hạnh kiểm, biết rõ chí hướng của tất cả chúng sinh. Ngài biết rõ các chúng sinh ít bụi trong mắt, nhiều bụi trong mắt, có căn tánh sắc bén, có căn tánh mềm yếu, có hình tướng tốt, có hình tướng xấu, dễ được chỉ dạy, khó được chỉ dạy, có khả năng giác ngộ, không có khả năng giác ngộ. Thế giới cùng với chư Thiên, cùng với Ma vương, cùng với Phạm thiên; chúng sinh cùng với Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với chư Thiên và loài người, đều vận hành bên trong trí tuệ của đức Phật.
Yathā ye keci macchakacchapā, antamaso timitimiṅgalaṃ upādāya, antomahāsamudde parivattanti, evamevaṃ sadevako loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā antobuddhañāṇe parivattati. Yathā ye keci pakkhino, antamaso garuḷaṃ venateyyaṃ upādāya, ākāsassa padese parivattanti; evameva yepi te sāriputtasamā paññāya tepi buddhañāṇassa padese parivattanti. Buddhañāṇaṃ devamanussānaṃ paññaṃ pharitvā atighaṃsitvā tiṭṭhati. Yepi te khattiyapaṇḍitā brāhmaṇapaṇḍitā gahapatipaṇḍitā samaṇapaṇḍitā nipuṇā kataparappavādā vālavedhirūpā vobhindantā † maññe caranti paññāgatena diṭṭhigatāni, te pañhaṃ abhisaṅkharitvā abhisaṅkharitvā tathāgataṃ upasaṅkamitvā pucchanti gūḷhāni ca paṭicchannāni ca, kathitā visajjitā ca te pañhā bhagavatā honti niddiṭṭhakāraṇā †. Upakkhittakā ca te bhagavato sampajjanti. Atha kho bhagavā tattha atirocati yadidaṃ paññāyāti. Aggo asāmantapañño, asāmantapaññatāya saṃvattantīti – ayaṃ asāmantapaññā.
Just as all fish and turtles, up to and including the great timitimiṅgala fish, revolve within the great ocean, so too does the world with its devas, Māras, and Brahmās, this generation with its ascetics and brahmins, its devas and humans, revolve within the Buddha’s knowledge. Just as all birds, up to and including the Garuḷa of the Venateyya clan, revolve in the region of the sky, so too do even those equal to Sāriputta in wisdom revolve within a region of the Buddha’s knowledge. The Buddha’s knowledge stands pervading and overwhelming the wisdom of devas and humans. Those wise khattiyas, brahmins, householders, and ascetics—astute, skilled in the doctrines of others, sharp as hair-splitting archers—who, I think, go about shattering views with their wisdom, having carefully prepared their questions, approach the Tathāgata and ask about hidden and concealed matters. And those questions are explained and answered by the Blessed One, with their reasons pointed out. And they become accomplished followers of the Blessed One. Then, the Blessed One shines forth supremely there, that is, in wisdom. He is the foremost, of peerless wisdom. It leads to the state of peerless wisdom. This is the peerless wisdom.
Ví như bất cứ loài cá và rùa nào, cho đến cả loài cá Timitimiṅgala, đều di chuyển bên trong đại dương; cũng vậy, thế giới cùng với chư Thiên, cùng với Ma vương, cùng với Phạm thiên; chúng sinh cùng với Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với chư Thiên và loài người, đều vận hành bên trong trí tuệ của đức Phật. Ví như bất cứ loài chim nào, cho đến cả loài chim Garuḷa con của Vinatā, đều bay lượn trong một vùng của không gian; cũng vậy, những ai có trí tuệ ngang bằng với ngài Sāriputta cũng vận hành trong một vùng của trí tuệ đức Phật. Trí tuệ của đức Phật bao trùm và vượt trội hơn trí tuệ của chư Thiên và loài người. Những vị nào là học giả Sát-đế-lỵ, học giả Bà-la-môn, học giả gia chủ, học giả Sa-môn, những người tinh tế, những người đã thiết lập học thuyết của người khác, những người giống như cung thủ bắn tên bằng sợi tóc, những người đi đây đó dường như để phá vỡ các tà kiến bằng trí tuệ của mình, sau khi chuẩn bị kỹ lưỡng các câu hỏi, họ đến gần đức Như Lai và hỏi những vấn đề bí mật và che giấu. Những câu hỏi ấy được Thế Tôn nói ra, giải đáp, và chỉ rõ nguyên nhân. Và họ trở thành những người đã quy phục Thế Tôn. Khi ấy, Thế Tôn tỏa sáng ở nơi đó chính là nhờ trí tuệ này. Ngài là bậc tối thượng, có trí tuệ không thể sánh bằng. Điều này dẫn đến trí tuệ không thể sánh bằng – đây là trí tuệ không thể sánh bằng.
6. Bhūripaññatāya saṃvattantīti katamā bhūripaññā? Rāgaṃ abhibhuyyatīti – bhūripaññā. Abhibhavitāti – bhūripaññā. Dosaṃ abhibhuyyatīti – bhūripaññā. Abhibhavitāti – bhūripaññā. Mohaṃ abhibhuyyatīti – bhūripaññā. Abhibhavitāti – bhūripaññā. Kodhaṃ…pe… upanāhaṃ … makkhaṃ… paḷāsaṃ… issaṃ… macchariyaṃ… māyaṃ… sāṭheyyaṃ… thambhaṃ… sārambhaṃ… mānaṃ… atimānaṃ… madaṃ… pamādaṃ… sabbe kilese… sabbe duccarite… sabbe abhisaṅkhāre…pe… sabbe bhavagāmikamme abhibhuyyatīti – bhūripaññā. Abhibhavitāti – bhūripaññā. Rāgo ari. Taṃ ariṃ maddanipaññāti – bhūripaññā. Doso ari. Taṃ ariṃ maddanipaññāti – bhūripaññā. Moho ari. Taṃ ariṃ maddanipaññāti – bhūripaññā. Kodho…pe… upanāho… makkho… paḷāso… issā… macchariyaṃ… māyā… sāṭheyyaṃ… thambho… sārambho… māno… atimāno… mado… pamādo… sabbe kilesā… sabbe duccaritā… sabbe abhisaṅkhārā…pe… sabbe bhavagāmikammā ari. Taṃ ariṃ maddanipaññāti – bhūripaññā. Bhūri vuccati pathavī †. Tāya pathavisamāya vitthatāya vipulāya paññāya samannāgatoti – bhūripaññā. Api ca, paññāya metaṃ adhivacanaṃ. Bhūri medhā pariṇāyikāti – bhūripaññā. Bhūripaññatāya saṃvattantīti – ayaṃ bhūripaññā.
6. In the phrase 'they conduce to the state of extensive wisdom,' what is extensive wisdom? Overcoming lust—that is extensive wisdom. Having overcome it—that is extensive wisdom. Overcoming hatred—that is extensive wisdom. Having overcome it—that is extensive wisdom. Overcoming delusion—that is extensive wisdom. Having overcome it—that is extensive wisdom. Overcoming anger… resentment… denigration… contentiousness… envy… stinginess… deceit… guile… obstinacy… domineering… conceit… arrogance… intoxication… negligence… all defilements… all misconducts… all formations… and all kamma leading to [another] existence—that is extensive wisdom. Having overcome them—that is extensive wisdom. Lust is an enemy. Wisdom that crushes that enemy—that is extensive wisdom. Hatred is an enemy. Wisdom that crushes that enemy—that is extensive wisdom. Delusion is an enemy. Wisdom that crushes that enemy—that is extensive wisdom. Anger… resentment… denigration… contentiousness… envy… stinginess… deceit… guile… obstinacy… domineering… conceit… arrogance… intoxication… negligence… all defilements… all misconducts… all formations… and all kamma leading to [another] existence are enemies. Wisdom that crushes those enemies—that is extensive wisdom. 'Bhūri' is a name for the earth. Being endowed with wisdom that is vast and extensive like the earth—that is extensive wisdom. Furthermore, this ['bhūri'] is a designation for wisdom: extensive, discerning, and guiding—that is extensive wisdom. Regarding the phrase 'they conduce to the state of extensive wisdom'—this is extensive wisdom.
6. Dẫn đến trí tuệ rộng lớn. Thế nào là trí tuệ rộng lớn? Chế ngự được tham ái, vì thế là trí tuệ rộng lớn. Đã chế ngự, vì thế là trí tuệ rộng lớn. Chế ngự được sân hận, vì thế là trí tuệ rộng lớn. Đã chế ngự, vì thế là trí tuệ rộng lớn. Chế ngự được si mê, vì thế là trí tuệ rộng lớn. Đã chế ngự, vì thế là trí tuệ rộng lớn. Chế ngự được sự phẫn nộ... (v.v)... sự oán hận... sự gièm pha... sự ganh đua... sự ganh tỵ... sự keo kiệt... sự xảo trá... sự lừa lọc... sự ngoan cố... sự hiếu thắng... sự mạn... sự quá mạn... sự say đắm... sự phóng dật... tất cả các phiền não... tất cả các ác hạnh... tất cả các hành... (v.v)... tất cả các nghiệp dẫn đến tái sanh, vì thế là trí tuệ rộng lớn. Đã chế ngự, vì thế là trí tuệ rộng lớn. Tham ái là kẻ thù. Trí tuệ nghiền nát kẻ thù ấy, vì thế là trí tuệ rộng lớn. Sân hận là kẻ thù. Trí tuệ nghiền nát kẻ thù ấy, vì thế là trí tuệ rộng lớn. Si mê là kẻ thù. Trí tuệ nghiền nát kẻ thù ấy, vì thế là trí tuệ rộng lớn. Sự phẫn nộ... (v.v)... sự oán hận... sự gièm pha... sự ganh đua... sự ganh tỵ... sự keo kiệt... sự xảo trá... sự lừa lọc... sự ngoan cố... sự hiếu thắng... sự mạn... sự quá mạn... sự say đắm... sự phóng dật... tất cả các phiền não... tất cả các ác hạnh... tất cả các hành... (v.v)... tất cả các nghiệp dẫn đến tái sanh là kẻ thù. Trí tuệ nghiền nát kẻ thù ấy, vì thế là trí tuệ rộng lớn. ‘Bhūri’ được gọi là đất. Vị ấy có được trí tuệ rộng lớn, bao la, tương tự như đất, vì thế là trí tuệ rộng lớn. Lại nữa, đây là tên gọi khác của trí tuệ. ‘Bhūri’, ‘medhā’, ‘pariṇāyikā’, vì thế là trí tuệ rộng lớn. Dẫn đến trí tuệ rộng lớn, đây là trí tuệ rộng lớn.
Paññābāhullāya saṃvattantīti katamaṃ paññābāhullaṃ? Idhekacco paññāgaruko hoti paññācarito paññāsayo paññādhimutto paññādhajo paññāketu paññādhipateyyo vicayabahulo pavicayabahulo okkhāyanabahulo samokkhāyanabahulo † sampekkhāyanadhammo vibhūtavihārī taccarito taggaruko tabbahulo tanninno tappoṇo tappabbhāro tadadhimutto tadadhipateyyo. Yathā gaṇagaruko vuccati ‘‘gaṇabāhuliko’’ti, cīvaragaruko vuccati ‘‘cīvarabāhuliko’’ti, pattagaruko vuccati ‘‘pattabāhuliko’’ti, senāsanagaruko vuccati ‘‘senāsanabāhuliko’’ti; evamevaṃ idhekacco paññā garuko hoti paññācarito paññāsayo paññādhimutto paññādhajo paññāketu paññādhipateyyo vicayabahulo pavicayabahulo okkhāyanabahulo samokkhāyanabahulo sampekkhāyanadhammo vibhūtavihārī taccarito taggaruko tabbahulo tanninno tappoṇo tappabbhāro tadadhimutto tadadhipateyyo. Paññābāhullāya saṃvattantīti – idaṃ paññābāhullaṃ.
Regarding the statement, 'They conduce to the abundance of wisdom,' what is the abundance of wisdom? Here, a certain person is respectful of wisdom, whose conduct is wisdom, whose inclination is wisdom, who is resolved on wisdom, who has wisdom as their flag, wisdom as their standard, wisdom as their sovereign; who is abundant in investigation, abundant in thorough investigation, abundant in penetration, abundant in thorough clarification, whose nature is to contemplate well, who dwells manifestly; whose conduct is that, who respects that, who is abundant in that, inclined towards that, tending towards that, disposed to that, resolved on that, with that as their sovereign. Just as one who respects the group is called 'one abundant in the group,' one who respects robes is called 'one abundant in robes,' one who respects almsbowls is called 'one abundant in almsbowls,' one who respects lodgings is called 'one abundant in lodgings'; so too, here, a certain person is respectful of wisdom, whose conduct is wisdom, whose inclination is wisdom, who is resolved on wisdom, who has wisdom as their flag, wisdom as their standard, wisdom as their sovereign; who is abundant in investigation, abundant in thorough investigation, abundant in penetration, abundant in thorough clarification, whose nature is to contemplate well, who dwells manifestly; whose conduct is that, who respects that, who is abundant in that, inclined towards that, tending towards that, disposed to that, resolved on that, with that as their sovereign. Regarding 'They conduce to the abundance of wisdom'—this is the abundance of wisdom.
Dẫn đến sự dồi dào trí tuệ. Thế nào là sự dồi dào trí tuệ? Ở đây, có người tôn trọng trí tuệ, có hành vi trí tuệ, có khuynh hướng trí tuệ, hướng tâm đến trí tuệ, có trí tuệ làm ngọn cờ, có trí tuệ làm biểu tượng, có trí tuệ làm chủ đạo, có nhiều sự thẩm sát, nhiều sự quán xét, nhiều sự thâm nhập, nhiều sự thâm nhập toàn diện, có pháp quán xét kỹ lưỡng, sống một cách rõ ràng, có hành vi như thế, tôn trọng điều đó, dồi dào điều đó, nghiêng về điều đó, xuôi về điều đó, hướng về điều đó, hướng tâm đến điều đó, lấy điều đó làm chủ đạo. Ví như người tôn trọng hội chúng được gọi là ‘người dồi dào hội chúng,’ người tôn trọng y được gọi là ‘người dồi dào y,’ người tôn trọng bát được gọi là ‘người dồi dào bát,’ người tôn trọng sàng tọa được gọi là ‘người dồi dào sàng tọa’; cũng vậy, ở đây có người tôn trọng trí tuệ, có hành vi trí tuệ, có khuynh hướng trí tuệ, hướng tâm đến trí tuệ, có trí tuệ làm ngọn cờ, có trí tuệ làm biểu tượng, có trí tuệ làm chủ đạo, có nhiều sự thẩm sát, nhiều sự quán xét, nhiều sự thâm nhập, nhiều sự thâm nhập toàn diện, có pháp quán xét kỹ lưỡng, sống một cách rõ ràng, có hành vi như thế, tôn trọng điều đó, dồi dào điều đó, nghiêng về điều đó, xuôi về điều đó, hướng về điều đó, hướng tâm đến điều đó, lấy điều đó làm chủ đạo. Dẫn đến sự dồi dào trí tuệ, đây là sự dồi dào trí tuệ.
Sīghapaññatāya saṃvattantīti katamā sīghapaññā? Sīghaṃ sīghaṃ sīlāni paripūretīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ indriyasaṃvaraṃ paripūretīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ bhojane mattaññutaṃ paripūretīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ jāgariyānuyogaṃ paripūretīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ sīlakkhandhaṃ paripūretīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ samādhikkhandhaṃ paripūretīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ paññākkhandhaṃ paripūretīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ vimuttikkhandhaṃ paripūretīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ vimuttiñāṇadassanakkhandhaṃ paripūretīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ ṭhānāṭṭhānāni paṭivijjhatīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ vihārasamāpattiyo paripūretīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ ariyasaccāni paṭivijjhatīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ satipaṭṭhāne bhāvetīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ sammappadhāne bhāvetīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ iddhipāde bhāvetīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ indriyāni bhāvetīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ balāni bhāvetīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ bojjhaṅge bhāvetīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ ariyamaggaṃ bhāvetīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ sāmaññaphalāni sacchikarotīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ abhiññāyo paṭivijjhatīti – sīghapaññā. Sīghaṃ sīghaṃ paramatthaṃ nibbānaṃ sacchikarotīti – sīghapaññā. Sīghapaññatāya saṃvattantīti – ayaṃ sīghapaññā.
It is said, 'They conduce to swift wisdom.' What is this swift wisdom? Swiftly perfecting the precepts—this is swift wisdom. Swiftly perfecting restraint of the sense faculties—this is swift wisdom. Swiftly perfecting moderation in eating—this is swift wisdom. Swiftly perfecting devotion to wakefulness—this is swift wisdom. Swiftly perfecting the aggregate of virtue—this is swift wisdom. Swiftly perfecting the aggregate of concentration—this is swift wisdom. Swiftly perfecting the aggregate of wisdom—this is swift wisdom. Swiftly perfecting the aggregate of liberation—this is swift wisdom. Swiftly perfecting the aggregate of the knowledge and vision of liberation—this is swift wisdom. Swiftly penetrating what is possible and impossible—this is swift wisdom. Swiftly perfecting the meditative attainments—this is swift wisdom. Swiftly penetrating the noble truths—this is swift wisdom. Swiftly developing the foundations of mindfulness—this is swift wisdom. Swiftly developing the right strivings—this is swift wisdom. Swiftly developing the bases for spiritual power—this is swift wisdom. Swiftly developing the spiritual faculties—this is swift wisdom. Swiftly developing the spiritual powers—this is swift wisdom. Swiftly developing the factors of enlightenment—this is swift wisdom. Swiftly developing the noble path—this is swift wisdom. Swiftly realizing the fruits of recluseship—this is swift wisdom. Swiftly penetrating the higher knowledges—this is swift wisdom. Swiftly realizing the ultimate goal, Nibbāna—this is swift wisdom. Regarding the statement, 'They conduce to swift wisdom'—this is swift wisdom.
Dẫn đến trí tuệ nhanh nhạy. Thế nào là trí tuệ nhanh nhạy? Nhanh chóng làm viên mãn các giới, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng làm viên mãn sự thu thúc các căn, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng làm viên mãn sự tiết độ trong ăn uống, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng làm viên mãn sự chuyên tâm tỉnh thức, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng làm viên mãn giới uẩn, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng làm viên mãn định uẩn, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng làm viên mãn tuệ uẩn, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng làm viên mãn giải thoát uẩn, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng làm viên mãn giải thoát tri kiến uẩn, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng thông suốt các xứ và phi xứ, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng làm viên mãn các thiền chứng, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng thông suốt các Thánh đế, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng tu tập các niệm xứ, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng tu tập các chánh cần, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng tu tập các như ý túc, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng tu tập các căn, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng tu tập các lực, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng tu tập các giác chi, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng tu tập Thánh đạo, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng chứng ngộ các quả Sa-môn, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng thông suốt các thắng trí, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Nhanh chóng chứng ngộ Niết-bàn, là mục đích tối hậu, vì thế là trí tuệ nhanh nhạy. Dẫn đến trí tuệ nhanh nhạy, đây là trí tuệ nhanh nhạy.
Lahupaññatāya saṃvattantīti katamā lahupaññā? Lahuṃ lahuṃ sīlāni paripūretīti – lahupaññā. Lahuṃ lahuṃ indriyasaṃvaraṃ paripūretīti – lahupaññā. Lahuṃ lahuṃ bhojane mattaññutaṃ paripūretīti – lahupaññā. Lahuṃ lahuṃ jāgariyānuyogaṃ paripūretīti – lahupaññā. Lahuṃ lahuṃ sīlakkhandhaṃ …pe… samādhikkhandhaṃ … paññākkhandhaṃ… vimuttikkhandhaṃ… vimuttiñāṇadassanakkhandhaṃ paripūretīti – lahupaññā. Lahuṃ lahuṃ ṭhānāṭṭhānāni paṭivijjhatīti – lahupaññā. Lahuṃ lahuṃ vihārasamāpattiyo paripūretīti – lahupaññā. Lahuṃ lahuṃ ariyasaccāni paṭivijjhatīti – lahupaññā. Lahuṃ lahuṃ satipaṭṭhāne bhāvetīti – lahupaññā. Lahuṃ lahuṃ sammappadhāne bhāvetīti – lahupaññā. Lahuṃ lahuṃ iddhipāde bhāvetīti – lahupaññā. Lahuṃ lahuṃ indriyāni bhāvetīti – lahupaññā. Lahuṃ lahuṃ balāni bhāvetīti – lahupaññā. Lahuṃ lahuṃ bojjhaṅge bhāvetīti – lahupaññā. Lahuṃ lahuṃ ariyamaggaṃ bhāvetīti – lahupaññā. Lahuṃ lahuṃ sāmaññaphalāni sacchikarotīti – lahupaññā. Lahuṃ lahuṃ abhiññāyo paṭivijjhatīti – lahupaññā. Lahuṃ lahuṃ paramatthaṃ nibbānaṃ sacchikarotīti – lahupaññā. Lahupaññatāya saṃvattantīti – ayaṃ lahupaññā.
In the phrase 'conduces to quick wisdom,' what is quick wisdom? Quickly perfecting the precepts—this is quick wisdom. Quickly perfecting sense restraint—this is quick wisdom. Quickly perfecting moderation in eating—this is quick wisdom. Quickly perfecting devotion to wakefulness—this is quick wisdom. Quickly perfecting the aggregate of virtue… the aggregate of concentration… the aggregate of wisdom… the aggregate of liberation… the aggregate of the knowledge and vision of liberation—this is quick wisdom. Quickly penetrating what is possible and impossible—this is quick wisdom. Quickly perfecting the meditative attainments—this is quick wisdom. Quickly penetrating the noble truths—this is quick wisdom. Quickly developing the foundations of mindfulness—this is quick wisdom. Quickly developing the right strivings—this is quick wisdom. Quickly developing the bases for spiritual power—this is quick wisdom. Quickly developing the faculties—this is quick wisdom. Quickly developing the powers—this is quick wisdom. Quickly developing the factors of enlightenment—this is quick wisdom. Quickly developing the noble path—this is quick wisdom. Quickly realizing the fruits of recluseship—this is quick wisdom. Quickly penetrating the higher knowledges—this is quick wisdom. Quickly realizing the ultimate goal, Nibbāna—this is quick wisdom. 'They conduce to the state of quick wisdom'—this is quick wisdom.
Dẫn đến trí tuệ nhanh nhẹn. Thế nào là trí tuệ nhanh nhẹn? Vì làm cho sung mãn các giới một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng nên gọi là trí tuệ nhanh nhẹn. Vì làm cho sung mãn sự thu thúc các căn một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng nên gọi là trí tuệ nhanh nhẹn. Vì làm cho sung mãn sự tiết độ trong vật thực một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng nên gọi là trí tuệ nhanh nhẹn. Vì làm cho sung mãn sự chuyên tâm cảnh giác một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng nên gọi là trí tuệ nhanh nhẹn. Vì làm cho sung mãn giới uẩn ... cho đến ... định uẩn ... tuệ uẩn ... giải thoát uẩn ... giải thoát tri kiến uẩn một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng nên gọi là trí tuệ nhanh nhẹn. Vì thông suốt các xứ và phi xứ một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng nên gọi là trí tuệ nhanh nhẹn. Vì làm cho sung mãn các thiền chứng một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng nên gọi là trí tuệ nhanh nhẹn. Vì thông suốt các Thánh đế một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng nên gọi là trí tuệ nhanh nhẹn. Vì tu tập các niệm xứ một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng nên gọi là trí tuệ nhanh nhẹn. Vì tu tập các chánh cần một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng nên gọi là trí tuệ nhanh nhẹn. Vì tu tập các như ý túc một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng nên gọi là trí tuệ nhanh nhẹn. Vì tu tập các căn một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng nên gọi là trí tuệ nhanh nhẹn. Vì tu tập các lực một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng nên gọi là trí tuệ nhanh nhẹn. Vì tu tập các giác chi một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng nên gọi là trí tuệ nhanh nhẹn. Vì tu tập Thánh đạo một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng nên gọi là trí tuệ nhanh nhẹn. Vì chứng ngộ các quả Sa-môn một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng nên gọi là trí tuệ nhanh nhẹn. Vì thông suốt các thắng trí một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng nên gọi là trí tuệ nhanh nhẹn. Vì chứng ngộ Nibbāna là pháp tối thượng một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng nên gọi là trí tuệ nhanh nhẹn. Dẫn đến trí tuệ nhanh nhẹn, đây là trí tuệ nhanh nhẹn.
Hāsapaññatāya saṃvattantīti katamā hāsapaññā? Idhekacco hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo sīlāni paripūretīti – hāsapaññā. Hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo indriyasaṃvaraṃ paripūretīti – hāsapaññā. Hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo bhojane mattaññutaṃ paripūretīti – hāsapaññā. Hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo jāgariyānuyogaṃ paripūretīti – hāsapaññā. Hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo sīlakkhandhaṃ…pe… samādhikkhandhaṃ… paññākkhandhaṃ… vimuttikkhandhaṃ… vimuttiñāṇadassanakkhandhaṃ paripūretīti…pe… ṭhānāṭṭhānāni paṭivijjhatīti… vihārasamāpattiyo paripūretīti … ariyasaccāni paṭivijjhatīti… satipaṭṭhāne bhāvetīti… sammappadhāne bhāvetīti… iddhipāde bhāvetīti… indriyāni bhāvetīti… balāni bhāvetīti… bojjhaṅge bhāvetīti … ariyamaggaṃ bhāvetīti…pe… sāmaññaphalāni sacchikarotīti – hāsapaññā. Hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo abhiññāyo paṭivijjhatīti – hāsapaññā. Hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo paramatthaṃ nibbānaṃ sacchikarotīti – hāsapaññā. Hāsapaññatāya saṃvattantīti – ayaṃ hāsapaññā.
In the phrase, 'they conduce to the state of joyful wisdom,' what is joyful wisdom? Here, a certain person, being full of cheerfulness, full of delight, full of contentment, and full of gladness, fulfills the precepts—this is joyful wisdom. Being full of cheerfulness, full of delight, full of contentment, and full of gladness, one fulfills restraint of the sense faculties—this is joyful wisdom. Being full of cheerfulness, full of delight, full of contentment, and full of gladness, one fulfills moderation in eating—this is joyful wisdom. Being full of cheerfulness, full of delight, full of contentment, and full of gladness, one fulfills the practice of wakefulness—this is joyful wisdom. Being full of cheerfulness, full of delight, full of contentment, and full of gladness, one fulfills the aggregate of virtue… the aggregate of concentration… the aggregate of wisdom… the aggregate of liberation… the aggregate of the knowledge and vision of liberation… penetrates what is possible and what is impossible… fulfills the meditative attainments… penetrates the Noble Truths… develops the foundations of mindfulness… develops the right strivings… develops the bases of spiritual power… develops the spiritual faculties… develops the spiritual powers… develops the factors of enlightenment… develops the Noble Path… realizes the fruits of the contemplative life—this is joyful wisdom. Being full of cheerfulness, full of delight, full of contentment, and full of gladness, one penetrates the higher knowledges—this is joyful wisdom. Being full of cheerfulness, full of delight, full of contentment, and full of gladness, one realizes the ultimate goal, Nibbāna—this is joyful wisdom. As to the phrase, 'They conduce to the state of joyful wisdom'—this is joyful wisdom.
Dẫn đến trí tuệ hoan hỷ. Thế nào là trí tuệ hoan hỷ? Ở đây, có người có nhiều sự vui vẻ, nhiều sự cảm hứng, nhiều sự hài lòng, nhiều sự hân hoan, làm cho sung mãn các giới nên gọi là trí tuệ hoan hỷ. Có nhiều sự vui vẻ, nhiều sự cảm hứng, nhiều sự hài lòng, nhiều sự hân hoan, làm cho sung mãn sự thu thúc các căn nên gọi là trí tuệ hoan hỷ. Có nhiều sự vui vẻ, nhiều sự cảm hứng, nhiều sự hài lòng, nhiều sự hân hoan, làm cho sung mãn sự tiết độ trong vật thực nên gọi là trí tuệ hoan hỷ. Có nhiều sự vui vẻ, nhiều sự cảm hứng, nhiều sự hài lòng, nhiều sự hân hoan, làm cho sung mãn sự chuyên tâm cảnh giác nên gọi là trí tuệ hoan hỷ. Có nhiều sự vui vẻ, nhiều sự cảm hứng, nhiều sự hài lòng, nhiều sự hân hoan, làm cho sung mãn giới uẩn ... cho đến ... định uẩn ... tuệ uẩn ... giải thoát uẩn ... giải thoát tri kiến uẩn ... cho đến ... thông suốt các xứ và phi xứ ... làm cho sung mãn các thiền chứng ... thông suốt các Thánh đế ... tu tập các niệm xứ ... tu tập các chánh cần ... tu tập các như ý túc ... tu tập các căn ... tu tập các lực ... tu tập các giác chi ... tu tập Thánh đạo ... cho đến ... chứng ngộ các quả Sa-môn nên gọi là trí tuệ hoan hỷ. Có nhiều sự vui vẻ, nhiều sự cảm hứng, nhiều sự hài lòng, nhiều sự hân hoan, thông suốt các thắng trí nên gọi là trí tuệ hoan hỷ. Có nhiều sự vui vẻ, nhiều sự cảm hứng, nhiều sự hài lòng, nhiều sự hân hoan, chứng ngộ Nibbāna là pháp tối thượng nên gọi là trí tuệ hoan hỷ. Dẫn đến trí tuệ hoan hỷ, đây là trí tuệ hoan hỷ.
7. Javanapaññatāya saṃvattantīti katamā javanapaññā? Yaṃ kiñci rūpaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ ajjhattaṃ vā bahiddhā vā oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā hīnaṃ vā paṇītaṃ vā yaṃ dūre santike vā, sabbaṃ rūpaṃ aniccato khippaṃ javatīti – javanapaññā. Dukkhato khippaṃ javatīti – javanapaññā. Anattato khippaṃ javatīti – javanapaññā. Yā kāci vedanā…pe… yā kāci saññā… ye keci saṅkhārā… yaṃ kiñci viññāṇaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ ajjhattaṃ vā bahiddhā vā oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā hīnaṃ vā paṇītaṃ vā yaṃ dūre santike vā, sabbaṃ viññāṇaṃ aniccato khippaṃ javatīti – javanapaññā. Dukkhato khippaṃ javatīti – javanapaññā. Anattato khippaṃ javatīti – javanapaññā. Cakkhu…pe… jarāmaraṇaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ aniccato khippaṃ javatīti – javanapaññā. Dukkhato khippaṃ javatīti – javanapaññā. Anattato khippaṃ javatīti – javanapaññā.
7. Regarding the phrase, 'it conduces to the state of swift wisdom,' what is swift wisdom? Whatever form there is—past, future, or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near—it swiftly apprehends all that form as impermanent; therefore, it is swift wisdom. It swiftly apprehends it as suffering; therefore, it is swift wisdom. It swiftly apprehends it as non-self; therefore, it is swift wisdom. Whatever feeling…pe… whatever perception… whatever formations… whatever consciousness there is—past, future, or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near—it swiftly apprehends all that consciousness as impermanent; therefore, it is swift wisdom. It swiftly apprehends it as suffering; therefore, it is swift wisdom. It swiftly apprehends it as non-self; therefore, it is swift wisdom. The eye…pe… aging and death—past, future, or present—it swiftly apprehends as impermanent; therefore, it is swift wisdom. It swiftly apprehends it as suffering; therefore, it is swift wisdom. It swiftly apprehends it as non-self; therefore, it is swift wisdom.
7. Dẫn đến trí tuệ tốc hành. Thế nào là trí tuệ tốc hành? Bất cứ sắc pháp nào, quá khứ, vị lai, hay hiện tại, ở bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, ở xa hay ở gần, (vị ấy) nhanh chóng tiến hành (quán xét) tất cả sắc pháp ấy theo phương diện vô thường nên gọi là trí tuệ tốc hành. (Vị ấy) nhanh chóng tiến hành (quán xét) theo phương diện khổ nên gọi là trí tuệ tốc hành. (Vị ấy) nhanh chóng tiến hành (quán xét) theo phương diện vô ngã nên gọi là trí tuệ tốc hành. Bất cứ thọ nào ... cho đến ... bất cứ tưởng nào ... bất cứ các hành nào ... bất cứ thức nào, quá khứ, vị lai, hay hiện tại, ở bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, ở xa hay ở gần, (vị ấy) nhanh chóng tiến hành (quán xét) tất cả thức ấy theo phương diện vô thường nên gọi là trí tuệ tốc hành. (Vị ấy) nhanh chóng tiến hành (quán xét) theo phương diện khổ nên gọi là trí tuệ tốc hành. (Vị ấy) nhanh chóng tiến hành (quán xét) theo phương diện vô ngã nên gọi là trí tuệ tốc hành. Mắt ... cho đến ... già-chết, quá khứ, vị lai, hay hiện tại, (vị ấy) nhanh chóng tiến hành (quán xét) theo phương diện vô thường nên gọi là trí tuệ tốc hành. (Vị ấy) nhanh chóng tiến hành (quán xét) theo phương diện khổ nên gọi là trí tuệ tốc hành. (Vị ấy) nhanh chóng tiến hành (quán xét) theo phương diện vô ngã nên gọi là trí tuệ tốc hành.
Rūpaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ aniccaṃ khayaṭṭhena dukkhaṃ bhayaṭṭhena anattā asārakaṭṭhenāti tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā rūpanirodhe nibbāne khippaṃ javatīti – javanapaññā. Vedanā…pe… saññā… saṅkhārā… viññāṇaṃ… cakkhu…pe… jarāmaraṇaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ aniccaṃ khayaṭṭhena dukkhaṃ bhayaṭṭhena anattā asārakaṭṭhenāti tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā jarāmaraṇanirodhe † nibbāne khippaṃ javatīti – javanapaññā.
Form—past, future, or present—is impermanent in the sense of perishing, suffering in the sense of terror, and non-self in the sense of being without substance. Having weighed, judged, made clear, and made this manifest, it swiftly proceeds to Nibbāna, the cessation of form; therefore, it is swift wisdom. Feeling…pe… perception… formations… consciousness… the eye…pe… aging and death—past, future, or present—is impermanent in the sense of perishing, suffering in the sense of terror, and non-self in the sense of being without substance. Having weighed, judged, made clear, and made this manifest, it swiftly proceeds to Nibbāna, the cessation of aging and death; therefore, it is swift wisdom.
Sau khi đã cân nhắc, thẩm xét, làm cho rõ ràng, làm cho hiển lộ rằng: ‘Sắc pháp quá khứ, vị lai, hay hiện tại là vô thường theo ý nghĩa là hoại diệt, là khổ theo ý nghĩa là đáng sợ, là vô ngã theo ý nghĩa là không có lõi cây,’ (vị ấy) nhanh chóng tiến hành đến Nibbāna là nơi đoạn diệt của sắc pháp nên gọi là trí tuệ tốc hành. Thọ ... cho đến ... tưởng ... các hành ... thức ... mắt ... cho đến ... sau khi đã cân nhắc, thẩm xét, làm cho rõ ràng, làm cho hiển lộ rằng: ‘Già-chết, quá khứ, vị lai, hay hiện tại là vô thường theo ý nghĩa là hoại diệt, là khổ theo ý nghĩa là đáng sợ, là vô ngã theo ý nghĩa là không có lõi cây,’ (vị ấy) nhanh chóng tiến hành đến Nibbāna là nơi đoạn diệt của già-chết nên gọi là trí tuệ tốc hành.
Rūpaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ aniccaṃ saṅkhataṃ paṭiccasamuppannaṃ khayadhammaṃ vayadhammaṃ virāgadhammaṃ nirodhadhammanti tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā rūpanirodhe nibbāne khippaṃ javatīti – javanapaññā. Vedanā…pe… saññā… saṅkhārā… viññāṇaṃ… cakkhu…pe… jarāmaraṇaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ aniccaṃ saṅkhataṃ paṭiccasamuppannaṃ khayadhammaṃ vayadhammaṃ virāgadhammaṃ nirodhadhammanti tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṃ katvā jarāmaraṇanirodhe nibbāne khippaṃ javatīti – javanapaññā. Javanapaññatāya saṃvattantīti – ayaṃ javanapaññā.
Form, whether past, future, or present, is impermanent, conditioned, dependently arisen, subject to decay, subject to vanishing, subject to fading away, and subject to cessation. Thus, having weighed, determined, made it clear, and made it manifest, it swiftly proceeds towards Nibbāna, the cessation of form; therefore, it is called swift wisdom. Feeling…pe… perception… formations… consciousness… the eye…pe… aging and death, whether past, future, or present, is impermanent, conditioned, dependently arisen, subject to decay, subject to vanishing, subject to fading away, and subject to cessation. Thus, having weighed, determined, made it clear, and made it manifest, it swiftly proceeds towards Nibbāna, the cessation of aging and death; therefore, it is called swift wisdom. They conduce to the state of swift wisdom. This is swift wisdom.
Sau khi cân nhắc, thẩm xét, làm cho rõ, làm cho hiển lộ rằng: ‘Sắc thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại là vô thường, là pháp hữu vi, là pháp do duyên sanh, có bản chất tiêu hoại, có bản chất biến hoại, có bản chất ly tham, có bản chất đoạn diệt,’ tuệ khởi lên nhanh chóng trong Niết-bàn là nơi đoạn diệt của sắc – (đó là) tuệ nhanh chóng. Thọ… cho đến… tưởng… các hành… thức… mắt… cho đến… già và chết thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại là vô thường, là pháp hữu vi, là pháp do duyên sanh, có bản chất tiêu hoại, có bản chất biến hoại, có bản chất ly tham, có bản chất đoạn diệt,’ sau khi cân nhắc, thẩm xét, làm cho rõ, làm cho hiển lộ, tuệ khởi lên nhanh chóng trong Niết-bàn là nơi đoạn diệt của già và chết – (đó là) tuệ nhanh chóng. (Các pháp ấy) dẫn đến trạng thái có tuệ nhanh chóng – đây là tuệ nhanh chóng.
Tikkhapaññatāya saṃvattantīti katamā tikkhapaññā? Khippaṃ kilese chindatīti – tikkhapaññā. Uppannaṃ kāmavitakkaṃ nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti † anabhāvaṃ gametīti – tikkhapaññā. Uppannaṃ byāpādavitakkaṃ nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gametīti – tikkhapaññā. Uppannaṃ vihiṃsāvitakkaṃ nādhivāseti…pe… uppannuppanne pāpake akusale dhamme nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gametīti – tikkhapaññā. Uppannaṃ rāgaṃ nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gametīti – tikkhapaññā. Uppannaṃ dosaṃ…pe… uppannaṃ mohaṃ … uppannaṃ kodhaṃ… uppannaṃ upanāhaṃ… makkhaṃ… paḷāsaṃ… issaṃ… macchariyaṃ… māyaṃ… sāṭheyyaṃ… thambhaṃ… sārambhaṃ… mānaṃ… atimānaṃ… madaṃ… pamādaṃ… sabbe kilese… sabbe duccarite… sabbe abhisaṅkhāre…pe… sabbe bhavagāmikamme nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṃ gametīti – tikkhapaññā. Ekasmiṃ āsane cattāro ca ariyamaggā cattāri ca sāmaññaphalāni catasso paṭisambhidāyo cha abhiññāyo adhigatā honti sacchikatā phassitā paññāyāti – tikkhapaññā. Tikkhapaññatāya saṃvattantīti – ayaṃ tikkhapaññā.
Regarding the statement, 'They conduce to the state of sharp wisdom': What is sharp wisdom? Quickly cutting off defilements—that is sharp wisdom. Not tolerating an arisen sensual thought, but abandoning, dispelling, eliminating, and bringing it to cessation—that is sharp wisdom. Not tolerating an arisen thought of ill will, but abandoning, dispelling, eliminating, and bringing it to cessation—that is sharp wisdom. Not tolerating an arisen thought of harming… not tolerating any arisen evil, unwholesome states, but abandoning, dispelling, eliminating, and bringing them to cessation—that is sharp wisdom. Not tolerating arisen lust, but abandoning, dispelling, eliminating, and bringing it to cessation—that is sharp wisdom. Not tolerating arisen hatred… arisen delusion… arisen anger… arisen resentment… denigration… competitiveness… envy… stinginess… deceit… fraudulence… obstinacy… contention… conceit… arrogance… intoxication… heedlessness… all defilements… all misconduct… all volitional formations… all actions leading to future becoming; not tolerating them, but abandoning, dispelling, eliminating, and bringing them to cessation—that is sharp wisdom. In a single sitting, the four noble paths, the four fruits of recluseship, the four analytical knowledges, and the six higher knowledges are attained, realized, and contacted by wisdom—that is sharp wisdom. Regarding the statement, 'They conduce to the state of sharp wisdom'—this is sharp wisdom.
Trong câu ‘(các pháp ấy) dẫn đến trạng thái có tuệ sắc bén,’ thế nào là tuệ sắc bén? Cắt đứt các phiền não một cách nhanh chóng – (đó là) tuệ sắc bén. Không dung chứa tầm về dục đã sanh khởi, từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, đưa đến chỗ không còn – (đó là) tuệ sắc bén. Không dung chứa tầm về sân đã sanh khởi, từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, đưa đến chỗ không còn – (đó là) tuệ sắc bén. Không dung chứa tầm về hại đã sanh khởi… cho đến… không dung chứa các pháp ác, bất thiện đã sanh khởi và đang sanh khởi, từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, đưa đến chỗ không còn – (đó là) tuệ sắc bén. Không dung chứa tham đã sanh khởi, từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, đưa đến chỗ không còn – (đó là) tuệ sắc bén. Sân đã sanh khởi… cho đến… si đã sanh khởi… phẫn đã sanh khởi… hận đã sanh khởi… phú… não… tật… xan… man… trá… cương… quá mạn… kiêu… phóng dật… tất cả phiền não… tất cả ác hạnh… tất cả hành nghiệp… cho đến… tất cả nghiệp dẫn đến tái sanh, vị ấy không dung chứa, từ bỏ, loại trừ, làm cho chấm dứt, đưa đến chỗ không còn – (đó là) tuệ sắc bén. Trong một lần ngồi, bốn Thánh đạo, bốn Sa-môn quả, bốn Tuệ phân tích, sáu thắng trí được chứng đắc, được chứng ngộ, được xúc chạm bằng trí tuệ – (đó là) tuệ sắc bén. (Các pháp ấy) dẫn đến trạng thái có tuệ sắc bén – đây là tuệ sắc bén.
Nibbedhikapaññatāya saṃvattantīti katamā nibbedhikapaññā? Idhekacco sabbasaṅkhāresu ubbegabahulo hoti uttāsabahulo ukkaṇṭhanabahulo aratibahulo anabhiratibahulo. Bahimukho na ramati sabbasaṅkhāresu. Anibbiddhapubbaṃ appadālitapubbaṃ lobhakkhandhaṃ nibbijjhati padāletīti – nibbedhikapaññā. Anibbiddhapubbaṃ appadālitapubbaṃ dosakkhandhaṃ nibbijjhati padāletīti – nibbedhikapaññā. Anibbiddhapubbaṃ appadālitapubbaṃ mohakkhandhaṃ nibbijjhati padāletīti – nibbedhikapaññā. Anibbiddhapubbaṃ appadālitapubbaṃ kodhaṃ…pe… upanāhaṃ… makkhaṃ… paḷāsaṃ… issaṃ… macchariyaṃ… māyaṃ… sāṭheyyaṃ… thambhaṃ… sārambhaṃ… mānaṃ… atimānaṃ… madaṃ… pamādaṃ… sabbe kilese… sabbe duccarite… sabbe abhisaṅkhāre…pe… sabbe bhavagāmikamme nibbijjhati padāletīti – nibbedhikapaññā. Nibbedhikapaññatāya saṃvattantīti – ayaṃ nibbedhikapaññā.
Regarding the phrase, 'They conduce to the state of penetrative wisdom': what is penetrative wisdom? Here, a certain person has much agitation, much terror, much aversion, much discontent, and much non-delight towards all conditioned phenomena. With face turned away, they do not delight in any conditioned phenomena. They pierce and split the mass of greed, which was not previously pierced or split—therefore, it is called penetrative wisdom. They pierce and split the mass of hatred, which was not previously pierced or split—therefore, it is called penetrative wisdom. They pierce and split the mass of delusion, which was not previously pierced or split—therefore, it is called penetrative wisdom. They pierce and split anger, which was not previously pierced or split… and so on… resentment… contempt… rivalry… envy… stinginess… deceit… treachery… obstinacy… presumption… conceit… arrogance… intoxication… heedlessness… all defilements… all misconduct… all volitional formations… and so on… all actions that lead to future existence—therefore, it is called penetrative wisdom. As to the saying, 'They conduce to the state of penetrative wisdom'—this is that penetrative wisdom.
Trong câu ‘(các pháp ấy) dẫn đến trạng thái có tuệ xuyên thấu,’ thế nào là tuệ xuyên thấu? Ở đây, có người có nhiều sự kinh sợ, nhiều sự hãi hùng, nhiều sự nhàm chán, nhiều sự không hoan hỷ, nhiều sự không ưa thích đối với tất cả các pháp hữu vi. Vị ấy không hoan hỷ với bên ngoài (các pháp hữu vi). Vị ấy xuyên thấu, phá vỡ khối tham chưa từng được xuyên thấu, chưa từng được phá vỡ – (đó là) tuệ xuyên thấu. Vị ấy xuyên thấu, phá vỡ khối sân chưa từng được xuyên thấu, chưa từng được phá vỡ – (đó là) tuệ xuyên thấu. Vị ấy xuyên thấu, phá vỡ khối si chưa từng được xuyên thấu, chưa từng được phá vỡ – (đó là) tuệ xuyên thấu. Vị ấy xuyên thấu, phá vỡ phẫn… cho đến… hận… phú… não… tật… xan… man… trá… cương… quá mạn… kiêu… phóng dật… tất cả phiền não… tất cả ác hạnh… tất cả hành nghiệp… cho đến… tất cả nghiệp dẫn đến tái sanh, chưa từng được xuyên thấu, chưa từng được phá vỡ – (đó là) tuệ xuyên thấu. (Các pháp ấy) dẫn đến trạng thái có tuệ xuyên thấu – đây là tuệ xuyên thấu.
Imā soḷasa paññāyo. Imāhi soḷasahi paññāhi samannāgato puggalo paṭisambhidappatto.
These are the sixteen wisdoms. A person endowed with these sixteen wisdoms has attained the analytical knowledges.
Đây là mười sáu loại tuệ. Người nào thành tựu mười sáu loại tuệ này là người đã chứng đắc Tuệ Phân Tích.
2. Puggalavisesaniddeso
2. Exposition on the Distinction of Persons
2. Phần giải thích về sự khác biệt của các cá nhân
8. Dve puggalā paṭisambhidappattā – eko pubbayogasampanno, eko na pubbayogasampanno. Yo pubbayogasampanno so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti. Tassa ñāṇaṃ pabhijjati.
8. There are two persons who have attained the analytical knowledges: one endowed with prior application, and one not endowed with prior application. The one endowed with prior application is, on that account, superior, more excellent, and distinguished. Their knowledge breaks forth.
8. Có hai hạng người chứng đắc Tuệ Phân Tích: một người có sự nỗ lực từ trước, một người không có sự nỗ lực từ trước. Người có sự nỗ lực từ trước thì vượt trội hơn, cao hơn, đặc biệt hơn người kia. Trí tuệ của vị ấy được phân nhánh.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā – eko bahussuto, eko na bahussuto. Yo bahussuto, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti. Tassa ñāṇaṃ pabhijjati.
There are two persons who have attained the analytical knowledges, and both are endowed with prior application: one is learned, and one is not learned. The one who is learned is, on that account, superior, more excellent, and distinguished. Their knowledge breaks forth.
Có hai hạng người chứng đắc Tuệ Phân Tích, cả hai đều có sự nỗ lực từ trước: một người là bậc đa văn, một người không phải là bậc đa văn. Người là bậc đa văn thì vượt trội hơn, cao hơn, đặc biệt hơn người kia. Trí tuệ của vị ấy được phân nhánh.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā – eko desanābahulo, eko na desanābahulo. Yo desanābahulo, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti. Tassa ñāṇaṃ pabhijjati.
There are two persons who have attained the analytical knowledges, both are endowed with prior application, and both are learned: one is prolific in teaching, and one is not prolific in teaching. The one who is prolific in teaching is, on that account, superior, more excellent, and distinguished. Their knowledge breaks forth.
Có hai hạng người chứng đắc Tuệ Phân Tích, cả hai đều có sự nỗ lực từ trước, cả hai đều là bậc đa văn: một người thuyết pháp nhiều, một người không thuyết pháp nhiều. Người thuyết pháp nhiều thì vượt trội hơn, cao hơn, đặc biệt hơn người kia. Trí tuệ của vị ấy được phân nhánh.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā, dvepi desanābahulā – eko garūpanissito, eko na garūpanissito. Yo garūpanissito, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti. Tassa ñāṇaṃ pabhijjati.
There are two individuals who have attained analytical knowledge, both accomplished in prior application, both learned, both prolific in teaching: one relies on a teacher, and one does not rely on a teacher. The one who relies on a teacher is, on that account, superior, more excellent, and distinguished. That person's knowledge is differentiated.
Có hai hạng người chứng đắc Tuệ Phân Tích, cả hai đều có sự nỗ lực từ trước, cả hai đều là bậc đa văn, cả hai đều thuyết pháp nhiều: một người thân cận bậc thầy, một người không thân cận bậc thầy. Người thân cận bậc thầy thì vượt trội hơn, cao hơn, đặc biệt hơn người kia. Trí tuệ của vị ấy được phân nhánh.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā, dvepi desanābahulā, dvepi garūpanissitā – eko vihārabahulo, eko na vihārabahulo. Yo vihārabahulo, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti. Tassa ñāṇaṃ pabhijjati.
There are two individuals who have attained analytical knowledge, both accomplished in prior application, both learned, both prolific in teaching, both relying on a teacher: one abounds in dwelling [with the teacher], and one does not abound in dwelling [with the teacher]. The one who abounds in dwelling is, on that account, superior, more excellent, and distinguished. That person's knowledge is differentiated.
Có hai hạng người chứng đắc Tuệ Phân Tích, cả hai đều có sự nỗ lực từ trước, cả hai đều là bậc đa văn, cả hai đều thuyết pháp nhiều, cả hai đều thân cận bậc thầy: một người trú ngụ nhiều (với thầy), một người không trú ngụ nhiều (với thầy). Người trú ngụ nhiều (với thầy) thì vượt trội hơn, cao hơn, đặc biệt hơn người kia. Trí tuệ của vị ấy được phân nhánh.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā, dvepi desanābahulā, dvepi garūpanissitā, dvepi vihārabahulā – eko paccavekkhaṇābahulo, eko na paccavekkhaṇābahulo. Yo paccavekkhaṇābahulo, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti. Tassa ñāṇaṃ pabhijjati.
There are two individuals who have attained analytical knowledge, both accomplished in prior application, both learned, both prolific in teaching, both relying on a teacher, both abounding in dwelling [with the teacher]: one abounds in reflection, and one does not abound in reflection. The one who abounds in reflection is, on that account, superior, more excellent, and distinguished. That person's knowledge is differentiated.
Có hai hạng người chứng đắc Tuệ Phân Tích, cả hai đều có sự nỗ lực từ trước, cả hai đều là bậc đa văn, cả hai đều thuyết pháp nhiều, cả hai đều thân cận bậc thầy, cả hai đều trú ngụ nhiều (với thầy): một người quán xét nhiều, một người không quán xét nhiều. Người quán xét nhiều thì vượt trội hơn, cao hơn, đặc biệt hơn người kia. Trí tuệ của vị ấy được phân nhánh.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā, dvepi desanābahulā, dvepi garūpanissitā, dvepi vihārabahulā, dvepi paccavekkhaṇābahulā – eko sekhapaṭisambhidappatto, eko asekhapaṭisambhidappatto. Yo asekhapaṭisambhidappatto, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti. Tassa ñāṇaṃ pabhijjati.
There are two individuals who have attained analytical knowledge, both accomplished in prior application, both learned, both prolific in teaching, both relying on a teacher, both abounding in dwelling [with the teacher], both abounding in reflection: one has attained the analytical knowledge of a trainee, and one has attained the analytical knowledge of a non-trainee. The one who has attained the analytical knowledge of a non-trainee is, on that account, superior, more excellent, and distinguished. That person's knowledge is differentiated.
Có hai hạng người chứng đắc Vô ngại giải, cả hai đều có sự nỗ lực trong quá khứ, cả hai đều đa văn, cả hai đều thuyết giảng nhiều, cả hai đều nương tựa bậc thầy, cả hai đều an trú nhiều, cả hai đều quán xét nhiều – một người chứng đắc Vô ngại giải của bậc Hữu học, một người chứng đắc Vô ngại giải của bậc Vô học. Vị nào chứng đắc Vô ngại giải của bậc Vô học, vị ấy do đó mà siêu việt hơn, cao cả hơn, đặc biệt hơn. Trí tuệ của vị ấy được phân tích.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā, dvepi desanābahulā, dvepi garūpanissitā, dvepi vihārabahulā, dvepi paccavekkhaṇābahulā, dvepi asekhapaṭisambhidappattā – eko sāvakapāramippatto, eko na sāvakapāramippatto. Yo sāvakapāramippatto, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti. Tassa ñāṇaṃ pabhijjati.
There are two individuals who have attained analytical knowledge, both accomplished in prior application, both learned, both prolific in teaching, both relying on a teacher, both abounding in dwelling [with the teacher], both abounding in reflection, both having attained the analytical knowledge of a non-trainee: one has attained the disciple's perfection, and one has not attained the disciple's perfection. The one who has attained the disciple's perfection is, on that account, superior, more excellent, and distinguished. That person's knowledge is differentiated.
Có hai hạng người chứng đắc Vô ngại giải, cả hai đều có sự nỗ lực trong quá khứ, cả hai đều đa văn, cả hai đều thuyết giảng nhiều, cả hai đều nương tựa bậc thầy, cả hai đều an trú nhiều, cả hai đều quán xét nhiều, cả hai đều chứng đắc Vô ngại giải của bậc Vô học – một người chứng đắc ba-la-mật của Thinh văn, một người không chứng đắc ba-la-mật của Thinh văn. Vị nào chứng đắc ba-la-mật của Thinh văn, vị ấy do đó mà siêu việt hơn, cao cả hơn, đặc biệt hơn. Trí tuệ của vị ấy được phân tích.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā, dvepi desanābahulā, dvepi garūpanissitā, dvepi vihārabahulā, dvepi paccavekkhaṇābahulā, dvepi asekhapaṭisambhidappattā – eko sāvakapāramippatto, eko paccekasambuddho. Yo paccekasambuddho, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti. Tassa ñāṇaṃ pabhijjati.
There are two individuals who have attained the analytical knowledges. Both are accomplished in prior application, both are learned, both are prolific in teaching, both are reliant on teachers, both are devoted to the [meditative] dwelling, both are devoted to reflection, and both are non-trainees who have attained the analytical knowledges. One has reached the disciple's perfection, and one is a Paccekasambuddha. The one who is a Paccekasambuddha is, on that account, superior, more excellent, and distinguished. His knowledge becomes differentiated.
Có hai hạng người chứng đắc Vô ngại giải, cả hai đều có sự nỗ lực trong quá khứ, cả hai đều đa văn, cả hai đều thuyết giảng nhiều, cả hai đều nương tựa bậc thầy, cả hai đều an trú nhiều, cả hai đều quán xét nhiều, cả hai đều chứng đắc Vô ngại giải của bậc Vô học – một người chứng đắc ba-la-mật của Thinh văn, một người là bậc Độc Giác Phật. Vị nào là bậc Độc Giác Phật, vị ấy do đó mà siêu việt hơn, cao cả hơn, đặc biệt hơn. Trí tuệ của vị ấy được phân tích.
Paccekabuddhañca sadevakañca lokaṃ upādāya tathāgato arahaṃ sammāsambuddho aggo paṭisambhidappatto paññāpabhedakusalo pabhinnañāṇo adhigatapaṭisambhido catuvesārajjappatto dasabaladhārī purisāsabho purisasīho…pe… yepi te khattiyapaṇḍitā brāhmaṇapaṇḍitā gahapatipaṇḍitā samaṇapaṇḍitā nipuṇā kataparappavādā vālavedhirūpā vobhindantā maññe caranti paññāgatena diṭṭhigatāni, te pañhaṃ abhisaṅkharitvā abhisaṅkharitvā tathāgataṃ upasaṅkamitvā pucchanti gūḷhāni ca paṭicchannāni ca. Kathitā visajjitā ca te pañhā bhagavatā honti niddiṭṭhakāraṇā, upakkhittakā ca te bhagavato sampajjanti. Atha kho bhagavā tattha atirocati, yadidaṃ paññāyāti aggo paṭisambhidappattoti.
In comparison with Paccekabuddhas and the world with its devas, the Tathāgata, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, is supreme, the one who has attained the analytical knowledges, skilled in the differentiation of wisdom, possessing differentiated knowledge, who has acquired the analytical knowledges, attained the four confidences, bearing the ten powers, the bull among men, the lion among men… And those wise khattiyas, brahmins, householders, and ascetics—subtle, skilled in others' doctrines, like archers who can split a hair—who wander about, it seems, shattering views with their wisdom; they, having formulated questions again and again, approach the Tathāgata and ask about things that are deep and concealed. Those questions are spoken of and explained by the Blessed One, with the reasons pointed out, and they become followers of the Blessed One. Then indeed the Blessed One shines forth exceedingly there, that is, by means of wisdom. Thus, he is supreme, the one who has attained the analytical knowledges.
So với các vị Độc Giác Phật và thế gian cùng với chư thiên, đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là bậc tối thượng, đã chứng đắc Vô ngại giải, thiện xảo trong việc phân tích trí tuệ, có trí tuệ đã được phân tích, đã thành tựu Vô ngại giải, đã chứng đắc bốn Vô sở úy, là người mang mười lực, là bậc Ngưu vương, là bậc Sư tử giữa loài người... vân vân... những vị nào là học giả Sát-đế-lỵ, học giả Bà-la-môn, học giả gia chủ, học giả sa-môn, những người tinh tế, đã tạo ra các học thuyết của người khác, giống như những tay cung thủ có thể bắn trúng sợi lông, tôi nghĩ rằng họ đi đây đó phá tan các tà kiến bằng phạm vi trí tuệ của mình, họ sau khi soạn đi soạn lại câu hỏi, đã đến gần đức Như Lai và hỏi những điều sâu kín và che giấu. Những câu hỏi ấy đã được đức Thế Tôn nói ra và giải đáp, với lý do được chỉ rõ, và chúng được thiết lập vững chắc nơi đức Thế Tôn. Bấy giờ, đức Thế Tôn thật sự tỏa sáng ở nơi ấy, nghĩa là về trí tuệ, là bậc tối thượng, đã chứng đắc Vô ngại giải.
Mahāpaññākathā niṭṭhitā.
The Discourse on Great Wisdom is concluded.
Phần luận về Đại Trí Tuệ đã kết thúc.