Bản dịch
PS 2.10 — Giảng về Không Tánh
2.10. Suññakathā
Tôi đã được nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn ngự tại Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Khi ấy, đại đức Ānanda đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã bạch với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, được nói rằng: ‘Thế giới là không, thế giới là không.’ Bạch ngài, cho đến như thế nào được nói rằng: ‘Thế giới là không’?
- Này Ānanda, bởi vì là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã, do đó được nói rằng: ‘Thế giới là không.’ Và này Ānanda, cái gì là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã? Này Ānanda, mắt là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã. Các sắc là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã. Nhãn thức là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã. Nhãn xúc là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã. Cảm thọ nào được sanh lên do duyên nhãn xúc dầu là lạc, hoặc là khổ, hoặc là không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã.
Tai là không … Các thinh là không … Mũi là không … Các khí là không … Lưỡi là không … Các vị là không … Thân là không … Các xúc là không … Ý là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã. Các pháp là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã. Ý thức là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã. Ý xúc là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã. Cảm thọ nào được sanh lên do duyên ý xúc dầu là lạc, hoặc là khổ, hoặc là không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã. Này Ānanda, bởi vì là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã, do đó được nói rằng: ‘Thế giới là không.’
Không đối với không, không đối với các hành, không do sự chuyển biến, không tối thắng, không do tướng trạng, không do áp chế, không đối với chi phần ấy, không do đoạn trừ, không do tịnh lặng, không do xuất ly, không đối với nội phần, không đối với ngoại phần, không đối với cả hai (nội và ngoại phần), không của cùng nhóm, không do khác nhóm, không do tầm cầu, không do nắm giữ, không do thành đạt, không do thấu triệt, không do tính chất giống nhau, không do tính chất khác biệt, không do nhẫn nại, không do khẳng định, không do thâm nhập, sự chấm dứt vận hành của vị có sự nhận biết rõ rệt là không theo ý nghĩa tuyệt đối của tất cả không tánh.
Cái gì là không đối với không? Mắt là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã, đối với vật thường còn, đối với vật vững bền, đối với vật vĩnh viễn, hoặc đối với pháp không chuyển biến. Tai là không … Mũi là không … Lưỡi là không … Thân là không … Ý là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã, đối với vật thường còn, đối với vật vững bền, đối với vật vĩnh viễn, hoặc đối với pháp không chuyển biến. Đây là không đối với không.
Cái gì là không đối với các hành? Có ba hành: phúc hành, phi phúc hành, bất động hành.* Phúc hành là không đối với phi phúc hành và đối với bất động hành. Phi phúc hành là không đối với phúc hành và đối với bất động hành. bất động hành là không đối với phúc hành và đối với phi phúc hành. Đây là ba hành.
Còn có ba hành khác nữa: thân hành, khẩu hành, ý hành. Thân hành là không đối với khẩu hành và đối với ý hành. Khẩu hành là không đối với thân hành và đối với ý hành. Ý hành là không đối với thân hành và đối với khẩu hành. Đây là ba hành.
Còn có ba hành khác nữa: Hành thời quá khứ, hành thời vị lai, hành thời hiện tại. Hành thời quá khứ là không đối với hành thời vị lai và thời hiện tại. Hành thời vị lai là không đối với hành thời quá khứ và thời hiện tại. Hành thời hiện tại là không đối với hành thời quá khứ và thời vị lai. Đây là ba hành. Đây là không đối với các hành.
Cái gì là không do sự chuyển biến? Sắc được sanh lên là không do bản thể, sắc đã qua không những là đã chuyển biến mà còn là không. Thọ được sanh lên là không do bản thể, thọ đã qua không những là đã chuyển biến mà còn là không. Tưởng được sanh lên … Các hành được sanh lên … Thức được sanh lên … Mắt được sanh lên … Hữu được sanh lên là không do bản thể, hữu đã qua không những là đã chuyển biến mà còn là không. Đây là không do sự chuyển biến.
Cái gì là không tối thắng? Địa vị này là tối thắng, địa vị này là hạng nhất, địa vị này là phi thường, tức là sự yên lặng của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các mầm tái sanh, sự đoạn tận ái, sự ly tham ái, sự diệt tận, Niết Bàn. Đây là không tối thắng.
Cái gì là không do tướng trạng? Có hai tướng trạng: Tướng trạng của kẻ ngu và tướng trạng của người trí. Tướng trạng của kẻ ngu là không so với tướng trạng của người trí. Tướng trạng của người trí là không so với tướng trạng của kẻ ngu.
Có ba tướng trạng: Tướng trạng sanh lên, tướng trạng hoại diệt, tướng trạng thay đổi trong khi tồn tại. Tướng trạng sanh lên là không đối với tướng trạng hoại diệt và đối với tướng trạng thay đổi trong khi tồn tại. Tướng trạng hoại diệt là không đối với tướng trạng sanh lên và đối với tướng trạng thay đổi trong khi tồn tại. Tướng trạng thay đổi trong khi tồn tại là không đối với tướng trạng sanh lên và đối với tướng trạng hoại diệt.
Đối với sắc, tướng trạng sanh lên là không đối với tướng trạng hoại diệt và đối với tướng trạng đổi thay khi trụ lại. Đối với sắc, tướng trạng hoại diệt là không đối với tướng trạng sanh lên và đối với tướng trạng đổi thay khi trụ lại. Đối với sắc, tướng trạng đổi thay khi trụ lại là không đối với tướng trạng sanh lên và đối với tướng trạng hoại diệt. Đối với thọ … tưởng … các hành … thức … mắt … lão tử, tướng trạng sanh lên là không đối với tướng trạng hoại diệt và đối với tướng trạng đổi thay khi trụ lại. Đối với lão tử, tướng trạng hoại diệt là không đối với tướng trạng sanh lên và đối với tướng trạng đổi thay khi trụ lại. Đối với lão tử, tướng trạng đổi thay khi trụ lại là không đối với tướng trạng sanh lên và đối với tướng trạng hoại diệt. Đây là không do tướng trạng.
Cái gì là không do áp chế? Do sự thoát ly, ước muốn trong các dục được áp chế và là không. Do không sân độc, sân độc được áp chế và là không. Do sự nghĩ tưởng về ánh sáng, sự lờ đờ buồn ngủ được áp chế và là không. Do không tản mạn, sự phóng dật được áp chế và là không. Do xác định pháp, hoài nghi được áp chế và là không. Do trí, vô minh được áp chế và là không. Do hân hoan, sự không hứng thú được áp chế và là không. Do sơ thiền, các pháp ngăn che được áp chế và là không. …(như trên)… Do Đạo A-la-hán, toàn bộ phiền não được áp chế và là không. Đây là không do áp chế.
Cái gì là không đối với chi phần ấy? Do sự thoát ly, ước muốn trong các dục là không đối với chi phần ấy. Do không sân độc, sân độc là không đối với chi phần ấy. Do sự nghĩ tưởng về ánh sáng, sự lờ đờ buồn ngủ là không đối với chi phần ấy. Do không tản mạn, sự phóng dật là không đối với chi phần ấy. Do xác định pháp, hoài nghi là không đối với chi phần ấy. Do trí, vô minh là không đối với chi phần ấy. Do hân hoan, sự không hứng thú là không đối với chi phần ấy. Do sơ thiền, các pháp ngăn che là không đối với chi phần ấy. …(như trên)… Do quán xét về ly khai, cố chấp vào sự ràng buộc là không đối với chi phần ấy. Đây là không đối với chi phần ấy.
Cái gì là không do đoạn trừ? Do sự thoát ly, ước muốn trong các dục được đoạn trừ và là không. Do không sân độc, sân độc được đoạn trừ và là không. Do nghĩ tưởng về ánh sáng, sự lờ đờ buồn ngủ được đoạn trừ và là không. Do không tản mạn, sự phóng dật được đoạn trừ và là không. Do xác định pháp, hoài nghi được đoạn trừ và là không. Do trí, vô minh được đoạn trừ và là không. Do hân hoan, sự không hứng thú được đoạn trừ và là không. Do sơ thiền, các pháp ngăn che được đoạn trừ và là không. …(nt)… Do Đạo A-la-hán, toàn bộ phiền não được đoạn trừ và là không. Đây là không do đoạn trừ.
Cái gì là không do tịnh lặng? Do sự thoát ly, ước muốn trong các dục được tịnh lặng và là không. Do không sân độc, sân độc được tịnh lặng và là không. Do nghĩ tưởng về ánh sáng, sự lờ đờ buồn ngủ được tịnh lặng và là không. Do không tản mạn, phóng dật được tịnh lặng và là không. Do xác định pháp, hoài nghi được tịnh lặng và là không.
Do trí, vô minh được tịnh lặng và là không. Do hân hoan, sự không hứng thú được tịnh lặng và là không. Do sơ thiền, các pháp ngăn che được tịnh lặng và là không. …(như trên)… Do Đạo A-la-hán, toàn bộ phiền não được tịnh lặng và là không. Đây là không do tịnh lặng.
Cái gì là không do xuất ly? Do sự thoát ly, ước muốn trong các dục được xuất ly và là không. Do không sân độc, sân độc được xuất ly và là không. Do sự nghĩ tưởng về ánh sáng, sự lờ đờ buồn ngủ được xuất ly và là không. Do không tản mạn, sự phóng dật được xuất ly và là không. Do xác định pháp, hoài nghi được xuất ly và là không. Do trí, vô minh được xuất ly và là không. Do hân hoan, sự không hứng thú được xuất ly và là không. Do sơ thiền, các pháp ngăn che được xuất ly và là không. …(như trên)… Do Đạo A-la-hán, toàn bộ phiền não được xuất ly và là không. Đây là không do xuất ly.
Cái gì là không đối với nội phần? Mắt thuộc nội phần là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã, đối với vật thường còn, đối với vật vững bền, đối với vật vĩnh viễn, hoặc đối với pháp không chuyển biến. Tai thuộc nội phần là không … Mũi thuộc nội phần là không … Lưỡi thuộc nội phần là không … Thân thuộc nội phần là không … Ý thuộc nội phần là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã, đối với vật thường còn, đối với vật vững bền, đối với vật vĩnh viễn, hoặc đối với pháp không chuyển biến. Đây là không đối với nội phần.
Cái gì là không đối với ngoại phần? Các sắc thuộc ngoại phần là không …(như trên)… Các pháp thuộc ngoại phần là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã, đối với vật thường còn, đối với vật vững bền, đối với vật vĩnh viễn, hoặc đối với pháp không chuyển biến. Đây là không đối với ngoại phần.
Cái gì là không đối với cả hai? Mắt thuộc nội phần và các sắc thuộc ngoại phần, cả hai điều này là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã, đối với vật thường còn, đối với vật vững bền, đối với vật vĩnh viễn, hoặc đối với pháp không chuyển biến. Tai thuộc nội phần và các thinh thuộc ngoại phần … Mũi thuộc nội phần và các khí thuộc ngoại phần … Lưỡi thuộc nội phần và các vị thuộc ngoại phần … Thân thuộc nội phần và các xúc thuộc ngoại phần … Ý thuộc nội phần và các pháp thuộc ngoại phần, cả hai điều này là không đối với tự ngã hoặc đối với vật thuộc về tự ngã, đối với vật thường còn, đối với vật vững bền, đối với vật vĩnh viễn, hoặc đối với pháp không chuyển biến. Điều này là không đối với cả hai.
Cái gì là không của cùng nhóm? Sáu nội xứ là cùng nhóm và là không. Sáu ngoại xứ là cùng nhóm và là không. Sáu nhóm của thức là cùng nhóm và là không. Sáu nhóm của xúc là cùng nhóm và là không. Sáu nhóm của thọ là cùng nhóm và là không. Sáu nhóm của tưởng là cùng nhóm và là không. Sáu nhóm của tư là cùng nhóm và là không. Đây là không của cùng nhóm.
Cái gì là không do khác nhóm? Sáu nội xứ đối với sáu ngoại xứ là khác nhóm và là không. Sáu xứ ngoại đối với sáu nhóm của thức là khác nhóm và là không. Sáu nhóm của thức đối với sáu nhóm của xúc là khác nhóm và là không. Sáu nhóm của xúc đối với sáu nhóm của thọ là khác nhóm và là không. Sáu nhóm của thọ đối với sáu nhóm của tưởng là khác nhóm và là không. Sáu nhóm của tưởng đối với sáu nhóm của tư là khác nhóm và là không. Đây là không do khác nhóm.
Cái gì là không do tầm cầu? Tầm cầu sự thoát ly là không đối với ước muốn trong các dục. Tầm cầu sự không sân độc là không đối với sân độc. Tầm cầu sự nghĩ tưởng về ánh sáng là không đối với sự lờ đờ buồn ngủ. Tầm cầu sự không tản mạn là không đối với phóng dật. Tầm cầu sự xác định pháp là không đối với hoài nghi. Tầm cầu trí là không đối với vô minh. Tầm cầu sự hân hoan là không đối với sự không hứng thú. Tầm cầu sơ thiền là không đối với các pháp ngăn che. …(như trên)… Tầm cầu Đạo A-la-hán là không đối với toàn bộ phiền não. Đây là không do tầm cầu.
Cái gì là không do nắm giữ? Nắm giữ sự thoát ly là không đối với ước muốn trong các dục. Nắm giữ sự không sân độc là không đối với sân độc. Nắm giữ sự nghĩ tưởng về ánh sáng là không đối với sự lờ đờ buồn ngủ. Nắm giữ sự không tản mạn là không đối với sự phóng dật. Nắm giữ sự xác định pháp là không đối với hoài nghi. Nắm giữ trí là không đối với vô minh. Nắm giữ sự hân hoan là không đối với sự không hứng thú. Nắm giữ sơ thiền là không đối với các pháp ngăn che. …(như trên)… Nắm giữ Đạo A-la-hán là không đối với toàn bộ phiền não. Đây là không do nắm giữ.
Cái gì là không do thành đạt? Thành đạt sự thoát ly là không đối với ước muốn trong các dục. Thành đạt sự không sân độc là không đối với sân độc. Thành đạt sự nghĩ tưởng về ánh sáng là không đối với sự lờ đờ buồn ngủ. Thành đạt sự không tản mạn là không đối với phóng dật. Thành đạt sự xác định pháp là không đối với hoài nghi. Thành đạt trí là không đối với vô minh. Thành đạt sự hân hoan là không đối với sự không hứng thú. Thành đạt sơ thiền là không đối với các pháp ngăn che. …(như trên)… Thành đạt Đạo A-la-hán là không đối với toàn bộ phiền não. Đây là không do thành đạt.
Cái gì là không do thấu triệt? Thấu triệt sự thoát ly là không đối với ước muốn trong các dục. Thấu triệt sự không sân độc là không đối với sân độc. Thấu triệt sự nghĩ tưởng về ánh sáng là không đối với sự lờ đờ buồn ngủ. Thấu triệt sự không tản mạn là không đối với phóng dật. Thấu triệt sự xác định pháp là không đối với hoài nghi. Thấu triệt trí là không đối với vô minh. Thấu triệt sự hân hoan là không đối với sự không hứng thú. Thấu triệt sơ thiền là không đối với các pháp ngăn che. …(như trên)… Thấu triệt Đạo A-la-hán là không đối với toàn bộ phiền não. Đây là không do thấu triệt.
Cái gì là không do tính chất giống nhau, là không do tính chất khác biệt? Ước muốn trong các dục là có tính chất khác biệt, sự thoát ly là có tính chất giống nhau. Vị đang suy nghĩ về tính chất giống nhau của sự thoát ly, đối với vị ấy là không về ước muốn trong các dục. Sân độc là có tính chất khác biệt, không sân độc là có tính chất giống nhau. Vị đang suy nghĩ về tính chất giống nhau của không sân độc, đối với vị ấy là không về sân độc. Sự lờ đờ buồn ngủ là có tính chất khác biệt, sự nghĩ tưởng về ánh sáng là có tính chất giống nhau. Vị đang suy nghĩ về tính chất giống nhau của sự nghĩ tưởng về ánh sáng, đối với vị ấy là không về sự lờ đờ buồn ngủ. Phóng dật là có tính chất khác biệt, sự không tản mạn là có tính chất giống nhau. Vị đang suy nghĩ về tính chất giống nhau của sự không tản mạn, đối với vị ấy là không về phóng dật. Hoài nghi là có tính chất khác biệt, sự xác định pháp là có tính chất giống nhau. Vị đang suy nghĩ về tính chất giống nhau của sự xác định pháp, đối với vị ấy là không về hoài nghi. Vô minh là có tính chất khác biệt, trí là có tính chất giống nhau. Vị đang suy nghĩ về tính chất giống nhau của trí, đối với vị ấy là không về vô minh. Sự không hứng thú là có tính chất khác biệt, hân hoan là có tính chất giống nhau. Vị đang suy nghĩ về tính chất giống nhau của hân hoan, đối với vị ấy là không về sự không hứng thú. Các pháp ngăn che là có tính chất khác biệt, sơ thiền là có tính chất giống nhau. Vị đang suy nghĩ về tính chất giống nhau của sơ thiền, đối với vị ấy là không về các pháp ngăn che. …(như trên)… Toàn bộ phiền não là có tính chất khác biệt, Đạo A-la-hán là có tính chất giống nhau. Vị đang suy nghĩ về tính chất giống nhau của Đạo A-la-hán, đối với vị ấy là không về toàn bộ phiền não. Đây là không do tính chất giống nhau, là không do tính chất khác biệt.
Cái gì là không do nhẫn nại? Nhẫn nại đối với sự thoát ly là không đối với ước muốn trong các dục. Nhẫn nại đối với sự không sân độc là không đối với sân độc. Nhẫn nại đối với sự nghĩ tưởng về ánh sáng là không đối với sự lờ đờ buồn ngủ. Nhẫn nại đối với sự không tản mạn là không đối với phóng dật. Nhẫn nại đối với sự xác định pháp là không đối với hoài nghi. Nhẫn nại đối với trí là không đối với vô minh. Nhẫn nại đối với sự hân hoan là không đối với sự không hứng thú. Nhẫn nại đối với sơ thiền là không đối với các pháp ngăn che. …(như trên)… Nhẫn nại đối với Đạo A-la-hán là không đối với toàn bộ phiền não. Đây là không do nhẫn nại.
Cái gì là không do khẳng định? Khẳng định sự thoát ly là không đối với ước muốn trong các dục. Khẳng định không sân độc là không đối với sự sân độc. Khẳng định sự nghĩ tưởng về ánh sáng là không đối với sự lờ đờ buồn ngủ. Khẳng định sự không tản mạn là không đối với sự phóng dật. Khẳng định sự xác định pháp là không đối với hoài nghi. Khẳng định trí là không đối với vô minh. Khẳng định sự hân hoan là không đối với không hứng thú. Khẳng định sơ thiền là không đối với các pháp ngăn che. …(nt)… Khẳng định Đạo A-la-hán là không đối với toàn bộ phiền não. Đây là không do khẳng định.
Cái gì là không do thâm nhập? Thâm nhập sự thoát ly là không đối với ước muốn trong các dục. Thâm nhập sự không sân độc là không đối với sân độc. Thâm nhập sự nghĩ tưởng về ánh sáng là không đối với sự lờ đờ buồn ngủ. Thâm nhập sự không tản mạn là không đối với sự phóng dật. Thâm nhập sự xác định pháp là không đối với hoài nghi. Thâm nhập trí là không đối với vô minh. Thâm nhập sự hân hoan là không đối với sự không hứng thú. Thâm nhập sơ thiền là không đối với các pháp ngăn che. …(như trên)… Thâm nhập Đạo A-la-hán là không đối với toàn bộ phiền não. Đây là không do thâm nhập.
Sự chấm dứt vận hành gì ở vị có sự nhận biết rõ rệt là không theo ý nghĩa tuyệt đối của tất cả không tánh? Ở đây, vị có sự nhận biết rõ rệt, chấm dứt sự vận hành của ước muốn trong các dục nhờ vào sự thoát ly, chấm dứt sự vận hành của sân độc nhờ vào không sân độc, chấm dứt sự vận hành của sự lờ đờ buồn ngủ nhờ vào sự nghĩ tưởng về ánh sáng, chấm dứt sự vận hành của phóng dật nhờ vào không tản mạn, chấm dứt sự vận hành của hoài nghi nhờ vào sự xác định pháp, chấm dứt sự vận hành của vô minh nhờ vào trí, chấm dứt sự vận hành của không hứng thú nhờ vào hân hoan, chấm dứt sự vận hành của các pháp ngăn che nhờ vào sơ thiền …(như trên)… chấm dứt sự vận hành của toàn bộ phiền não nhờ vào Đạo A-la-hán.
Hoặc là đối với vị có sự nhận biết rõ rệt đang Vô Dư Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót, sự vận hành này của mắt được chấm dứt và sự vận hành khác của mắt không sanh lên, sự vận hành này của tai …(như trên)… sự vận hành này của mũi …(như trên)… sự vận hành này của lưỡi …(như trên)… sự vận hành này của thân …(nt)… sự vận hành này của ý được chấm dứt và sự vận hành khác của ý không sanh lên. Sự chấm dứt vận hành này ở vị có sự nhận biết rõ rệt là không theo ý nghĩa tuyệt đối của tất cả không tánh.
Phần Giảng về Không được đầy đủ.
Phẩm Kết Hợp Chung là phần thứ nhì.
Tóm lược phẩm này:
Kết hợp chung, chân lý, → các chi phần giác ngộ,
tâm từ, ly tham ái là phần giảng thứ năm,
(các phương pháp) phân tích, bánh xe về Chánh Pháp,
tối thượng ở thế gian, lực, và không (là mười)
Phần quý báu của các Bộ Kinh đã được thành lập này là phẩm thứ nhì, cao quý, tuyệt vời, không gì sánh được.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Aparepi tayo saṅkhārā – kāyasaṅkhāro, vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāro. Kāyasaṅkhāro vacīsaṅkhārena ca cittasaṅkhārena ca suñño. Vacīsaṅkhāro kāyasaṅkhārena ca cittasaṅkhārena ca suñño. Cittasaṅkhāro kāyasaṅkhārena ca vacīsaṅkhārena ca suñño. Ime tayo saṅkhārā.
Furthermore, there are these other three formations: bodily formation, verbal formation, and mental formation. The bodily formation is empty of the verbal formation and the mental formation. The verbal formation is empty of the bodily formation and the mental formation. The mental formation is empty of the bodily formation and the verbal formation. These are the three formations.
Lại nữa, có ba loại hành khác: thân hành, khẩu hành, và tâm hành. Thân hành là không đối với khẩu hành và tâm hành. Khẩu hành là không đối với thân hành và tâm hành. Tâm hành là không đối với thân hành và khẩu hành. Đây là ba loại hành.
Aparepi tayo saṅkhārā – atītā saṅkhārā, anāgatā saṅkhārā, paccuppannā saṅkhārā. Atītā saṅkhārā anāgatehi ca paccuppannehi ca saṅkhārehi suññā. Anāgatā saṅkhārā atītehi ca paccuppannehi ca saṅkhārehi suññā paccuppannā saṅkhārā atītehi ca anāgatehi ca saṅkhārehi suññā. Ime tayo saṅkhārā; idaṃ saṅkhārasuññaṃ.
Furthermore, there are these other three formations: past formations, future formations, and present formations. Past formations are empty of future and present formations. Future formations are empty of past and present formations. Present formations are empty of past and future formations. These are the three formations; this is emptiness of formations.
Lại nữa, có ba loại hành khác: các hành quá khứ, các hành vị lai, các hành hiện tại. Các hành quá khứ là không đối với các hành vị lai và các hành hiện tại. Các hành vị lai là không đối với các hành quá khứ và các hành hiện tại. Các hành hiện tại là không đối với các hành quá khứ và các hành vị lai. Đây là ba loại hành; đây là không của các hành.
Katamaṃ vipariṇāmasuññaṃ? Jātaṃ rūpaṃ sabhāvena suññaṃ. Vigataṃ rūpaṃ vipariṇatañceva suññañca. Jātā vedanā sabhāvena suññā. Vigatā vedanā vipariṇatā ceva suññā ca …pe… jātā saññā… jātā saṅkhārā… jātaṃ viññāṇaṃ… jātaṃ cakkhu…pe… jāto bhavo sabhāvena suñño. Vigato bhavo vipariṇato ceva suñño ca. Idaṃ vipariṇāmasuññaṃ.
What is emptiness due to change? A form that has arisen is empty of its own nature. A form that has ceased is both changed and empty. A feeling that has arisen is empty of its own nature. A feeling that has ceased is both changed and empty… A perception that has arisen… Formations that have arisen… Consciousness that has arisen… The eye that has arisen… Existence that has arisen is empty of its own nature. Existence that has ceased is both changed and empty. This is emptiness due to change.
Thế nào là không của sự biến đổi? Sắc đã sanh là không về tự tánh. Sắc đã diệt vừa biến đổi vừa là không. Thọ đã sanh là không về tự tánh. Thọ đã diệt vừa biến đổi vừa là không... cho đến... tưởng đã sanh... các hành đã sanh... thức đã sanh... mắt đã sanh... cho đến... hữu đã sanh là không về tự tánh. Hữu đã diệt vừa biến đổi vừa là không. Đây là không của sự biến đổi.
Katamaṃ aggasuññaṃ? Aggametaṃ padaṃ seṭṭhametaṃ padaṃ visiṭṭhametaṃ † padaṃ yadidaṃ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbānaṃ. Idaṃ aggasuññaṃ.
What is the foremost emptiness? This is the foremost state, the best state, the distinguished state, namely, the calming of all formations, the relinquishment of all acquisitions, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna. This is the foremost emptiness.
Thế nào là không tối thượng? Trạng thái này là tối thượng, trạng thái này là cao tột, trạng thái này là đặc thù, đó là sự tịch tịnh tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, tức là Niết-bàn. Đây là không tối thượng.
Katamaṃ lakkhaṇasuññaṃ? Dve lakkhaṇāni – bālalakkhaṇañca paṇḍitalakkhaṇañca. Bālalakkhaṇaṃ paṇḍitalakkhaṇena suññaṃ. Paṇḍitalakkhaṇaṃ bālalakkhaṇena suññaṃ. Tīṇi lakkhaṇāni – uppādalakkhaṇaṃ, vayalakkhaṇaṃ, ṭhitaññathattalakkhaṇaṃ. Uppādalakkhaṇaṃ vayalakkhaṇena ca ṭhitaññathattalakkhaṇena ca suññaṃ. Vayalakkhaṇaṃ uppādalakkhaṇena ca ṭhitaññathattalakkhaṇena ca suññaṃ, ṭhitaññathattalakkhaṇaṃ uppādalakkhaṇena ca vayalakkhaṇena ca suññaṃ.
What is the emptiness of characteristics? There are two characteristics: the characteristic of a fool and the characteristic of a wise person. The characteristic of a fool is empty of the characteristic of a wise person, and the characteristic of a wise person is empty of the characteristic of a fool. There are three characteristics: the characteristic of arising, the characteristic of passing away, and the characteristic of alteration while persisting. The characteristic of arising is empty of the characteristic of passing away and the characteristic of alteration while persisting. The characteristic of passing away is empty of the characteristic of arising and the characteristic of alteration while persisting. The characteristic of alteration while persisting is empty of the characteristic of arising and the characteristic of passing away.
Thế nào là không của tướng? Có hai tướng: tướng của kẻ ngu và tướng của người trí. Tướng của kẻ ngu là không đối với tướng của người trí. Tướng của người trí là không đối với tướng của kẻ ngu. Có ba tướng: tướng sanh, tướng diệt, và tướng khác đi khi đang tồn tại. Tướng sanh là không đối với tướng diệt và tướng khác đi khi đang tồn tại. Tướng diệt là không đối với tướng sanh và tướng khác đi khi đang tồn tại. Tướng khác đi khi đang tồn tại là không đối với tướng sanh và tướng diệt.
Rūpassa uppādalakkhaṇaṃ vayalakkhaṇena ca ṭhitaññathattalakkhaṇena ca suññaṃ. Rūpassa vayalakkhaṇaṃ uppādalakkhaṇena ca ṭhitaññathattalakkhaṇena ca suññaṃ. Rūpassa ṭhitaññathattalakkhaṇaṃ uppādalakkhaṇena ca vayalakkhaṇena ca suññaṃ. Vedanāya…pe… saññāya… saṅkhārānaṃ… viññāṇassa… cakkhussa… jarāmaraṇassa uppādalakkhaṇaṃ vayalakkhaṇena ca ṭhitaññathattalakkhaṇena ca suññaṃ. Jarāmaraṇassa vayalakkhaṇaṃ uppādalakkhaṇena ca ṭhitaññathattalakkhaṇena ca suññaṃ. Jarāmaraṇassa ṭhitaññathattalakkhaṇaṃ uppādalakkhaṇena ca vayalakkhaṇena ca suññaṃ. Idaṃ lakkhaṇasuññaṃ.
The characteristic of arising of form is empty of the characteristic of passing away and the characteristic of alteration while persisting. The characteristic of passing away of form is empty of the characteristic of arising and the characteristic of alteration while persisting. The characteristic of alteration while persisting of form is empty of the characteristic of arising and the characteristic of passing away. Of feeling… perception… formations… consciousness… of the eye… of aging-and-death, the characteristic of arising is empty of the characteristic of passing away and the characteristic of alteration while persisting. Of aging-and-death, the characteristic of passing away is empty of the characteristic of arising and the characteristic of alteration while persisting. Of aging-and-death, the characteristic of alteration while persisting is empty of the characteristic of arising and the characteristic of passing away. This is emptiness of characteristics.
Tướng sanh của sắc là không đối với tướng diệt và tướng khác đi khi đang tồn tại. Tướng diệt của sắc là không đối với tướng sanh và tướng khác đi khi đang tồn tại. Tướng khác đi khi đang tồn tại của sắc là không đối với tướng sanh và tướng diệt. Của thọ... cho đến... của tưởng... của các hành... của thức... của mắt... Tướng sanh của già-chết là không đối với tướng diệt và tướng khác đi khi đang tồn tại. Tướng diệt của già-chết là không đối với tướng sanh và tướng khác đi khi đang tồn tại. Tướng khác đi khi đang tồn tại của già-chết là không đối với tướng sanh và tướng diệt. Đây là không của tướng.
Katamaṃ vikkhambhanasuññaṃ? Nekkhammena kāmacchando vikkhambhito ceva suñño ca. Abyāpādena byāpādo vikkhambhito ceva suñño ca. Ālokasaññāya thinamiddhaṃ vikkhambhitañceva suññañca. Avikkhepena uddhaccaṃ vikkhambhitañceva suññañca. Dhammavavatthānena vicikicchā vikkhambhitā ceva suññā ca. Ñāṇena avijjā vikkhambhitā ceva suññā ca. Pāmojjena arati vikkhambhitā ceva suññā ca. Paṭhamena jhānena nīvaraṇā vikkhambhitā ceva suññā ca…pe… arahattamaggena sabbakilesā vikkhambhitā ceva suññā ca. Idaṃ vikkhambhanasuññaṃ.
What is emptiness through suppression? Sensual desire is both suppressed and empty through renunciation. Ill-will is both suppressed and empty through non-ill-will. Sloth and torpor are both suppressed and empty through the perception of light. Restlessness is both suppressed and empty through non-distraction. Doubt is both suppressed and empty through the determination of phenomena. Ignorance is both suppressed and empty through knowledge. Discontent is both suppressed and empty through joy. The hindrances are both suppressed and empty through the first jhāna… All defilements are both suppressed and empty through the path of arahantship. This is emptiness through suppression.
Thế nào là không do trấn áp? Do sự xuất ly, dục tham vừa được trấn áp vừa là không. Do vô sân, sân vừa được trấn áp vừa là không. Do tưởng ánh sáng, hôn trầm-thụy miên vừa được trấn áp vừa là không. Do không tán loạn, trạo cử vừa được trấn áp vừa là không. Do sự xác định các pháp, hoài nghi vừa được trấn áp vừa là không. Do trí tuệ, vô minh vừa được trấn áp vừa là không. Do sự hân hoan, bất mãn vừa được trấn áp vừa là không. Do thiền thứ nhất, các triền cái vừa được trấn áp vừa là không... cho đến... do đạo A-la-hán, tất cả các phiền não vừa được trấn áp vừa là không. Đây là không do trấn áp.
Katamaṃ tadaṅgasuññaṃ? Nekkhammena kāmacchando tadaṅgasuñño. Abyāpādena byāpādo tadaṅgasuñño. Ālokasaññāya thinamiddhaṃ tadaṅgasuññaṃ. Avikkhepena uddhaccaṃ tadaṅgasuññaṃ. Dhammavavatthānena vicikicchā tadaṅgasuññā. Ñāṇena avijjā tadaṅgasuññā. Pāmojjena arati tadaṅgasuññā. Paṭhamena jhānena nīvaraṇā tadaṅgasuññā…pe… vivaṭṭanānupassanāya saññogābhiniveso tadaṅgasuñño. Idaṃ tadaṅgasuññaṃ.
What is emptiness for the moment? Sensual desire is temporarily empty through renunciation. Ill-will is temporarily empty through non-ill-will. Sloth and torpor are temporarily empty through the perception of light. Restlessness is temporarily empty through non-distraction. Doubt is temporarily empty through the determination of phenomena. Ignorance is temporarily empty through knowledge. Discontent is temporarily empty through joy. The hindrances are temporarily empty through the first jhāna... Adherence to the fetters is temporarily empty through the contemplation of turning away. This is emptiness for the moment.
Thế nào là không trong từng khoảnh khắc? Do sự xuất ly, dục tham là không trong từng khoảnh khắc. Do vô sân, sân là không trong từng khoảnh khắc. Do tưởng ánh sáng, hôn trầm-thụy miên là không trong từng khoảnh khắc. Do không tán loạn, trạo cử là không trong từng khoảnh khắc. Do sự xác định các pháp, hoài nghi là không trong từng khoảnh khắc. Do trí tuệ, vô minh là không trong từng khoảnh khắc. Do sự hân hoan, bất mãn là không trong từng khoảnh khắc. Do thiền thứ nhất, các triền cái là không trong từng khoảnh khắc... cho đến... do sự quán xét về việc thoát ly, sự chấp thủ vào các kiết sử là không trong từng khoảnh khắc. Đây là không trong từng khoảnh khắc.
Katamaṃ samucchedasuññaṃ? Nekkhammena kāmacchando samucchinno ceva suñño ca. Abyāpādena byāpādo samucchinno ceva suñño ca. Ālokasaññāya thinamiddhaṃ samucchinnañceva suññañca. Avikkhepena uddhaccaṃ samucchinnañceva suññañca. Dhammavavatthānena vicikicchā samucchinnā ceva suññā ca. Ñāṇena avijjā samucchinnā ceva suññā ca. Pāmojjena arati samucchinnā ceva suññā ca. Paṭhamena jhānena nīvaraṇā samucchinnā ceva suññā ca…pe… arahattamaggena sabbakilesā samucchinnā ceva suññā ca. Idaṃ samucchedasuññaṃ.
What is emptiness through cutting off? Sensual desire is both cut off and empty through renunciation. Ill-will is both cut off and empty through non-ill-will. Sloth and torpor are both cut off and empty through the perception of light. Restlessness is both cut off and empty through non-distraction. Doubt is both cut off and empty through the determination of phenomena. Ignorance is both cut off and empty through knowledge. Discontent is both cut off and empty through joy. The hindrances are both cut off and empty through the first jhāna... All defilements are both cut off and empty through the path of arahantship. This is emptiness through cutting off.
Thế nào là đoạn diệt không? Do sự xuất ly, dục tham vừa được đoạn diệt, vừa là không. Do vô sân, sân vừa được đoạn diệt, vừa là không. Do quang tưởng, hôn trầm thụy miên vừa được đoạn diệt, vừa là không. Do không tán loạn, trạo cử vừa được đoạn diệt, vừa là không. Do sự xác định pháp, hoài nghi vừa được đoạn diệt, vừa là không. Do trí tuệ, vô minh vừa được đoạn diệt, vừa là không. Do sự hân hoan, bất lạc vừa được đoạn diệt, vừa là không. Do sơ thiền, các triền cái vừa được đoạn diệt, vừa là không... v.v... do A-la-hán đạo, tất cả phiền não vừa được đoạn diệt, vừa là không. Đây là đoạn diệt không.
Katamaṃ paṭippassaddhisuññaṃ? Nekkhammena kāmacchando paṭippassaddho ceva suñño ca. Abyāpādena byāpādo paṭippassaddho ceva suñño ca. Ālokasaññāya thinamiddhaṃ paṭippassaddhañceva suññañca. Avikkhepena uddhaccaṃ paṭippassaddhañceva suññañca. Dhammavavatthānena vicikicchā paṭippassaddhā ceva suññā ca. Ñāṇena avijjā paṭippassaddhā ceva suññā ca. Pāmojjena arati paṭippassaddhā ceva suññā ca. Paṭhamena jhānena nīvaraṇā paṭippassaddhā ceva suññā ca…pe… arahattamaggena sabbakilesā paṭippassaddhā ceva suññā ca. Idaṃ paṭippassaddhisuññaṃ.
What is emptiness through tranquilization? Through renunciation, sensual desire is both tranquilized and empty. Through non-ill-will, ill-will is both tranquilized and empty. Through the perception of light, sloth and torpor are both tranquilized and empty. Through non-distraction, restlessness is both tranquilized and empty. Through the discernment of phenomena, doubt is both tranquilized and empty. Through knowledge, ignorance is both tranquilized and empty. Through joy, discontent is both tranquilized and empty. Through the first jhāna, the hindrances are both tranquilized and empty... Through the path of arahantship, all defilements are both tranquilized and empty. This is emptiness through tranquilization.
Thế nào là tịnh chỉ không? Do sự xuất ly, dục tham vừa được tịnh chỉ, vừa là không. Do vô sân, sân vừa được tịnh chỉ, vừa là không. Do quang tưởng, hôn trầm thụy miên vừa được tịnh chỉ, vừa là không. Do không tán loạn, trạo cử vừa được tịnh chỉ, vừa là không. Do sự xác định pháp, hoài nghi vừa được tịnh chỉ, vừa là không. Do trí tuệ, vô minh vừa được tịnh chỉ, vừa là không. Do sự hân hoan, bất lạc vừa được tịnh chỉ, vừa là không. Do sơ thiền, các triền cái vừa được tịnh chỉ, vừa là không... v.v... do A-la-hán đạo, tất cả phiền não vừa được tịnh chỉ, vừa là không. Đây là tịnh chỉ không.
Katamaṃ nissaraṇasuññaṃ? Nekkhammena kāmacchando nissaṭo ceva suñño ca. Abyāpādena byāpādo nissaṭo ceva suñño ca. Ālokasaññāya thinamiddhaṃ nissaṭañceva suññañca. Avikkhepena uddhaccaṃ nissaṭañceva suññañca. Dhammavavatthānena vicikicchā nissaṭā ceva suññā ca. Ñāṇena avijjā nissaṭā ceva suññā ca. Pāmojjena arati nissaṭā ceva suññā ca. Paṭhamena jhānena nīvaraṇā nissaṭā ceva suññā ca …pe… arahattamaggena sabbakilesā nissaṭā ceva suññā ca. Idaṃ nissaraṇasuññaṃ.
What is emptiness through escape? Through renunciation, sensual desire is both escaped and empty. Through non-ill-will, ill-will is both escaped and empty. Through the perception of light, sloth and torpor are both escaped and empty. Through non-distraction, restlessness is both escaped and empty. Through the discernment of phenomena, doubt is both escaped and empty. Through knowledge, ignorance is both escaped and empty. Through joy, discontent is both escaped and empty. Through the first jhāna, the hindrances are both escaped and empty... Through the path of arahantship, all defilements are both escaped and empty. This is emptiness through escape.
Thế nào là xuất ly không? Do sự xuất ly, dục tham vừa được xuất ly, vừa là không. Do vô sân, sân vừa được xuất ly, vừa là không. Do quang tưởng, hôn trầm thụy miên vừa được xuất ly, vừa là không. Do không tán loạn, trạo cử vừa được xuất ly, vừa là không. Do sự xác định pháp, hoài nghi vừa được xuất ly, vừa là không. Do trí tuệ, vô minh vừa được xuất ly, vừa là không. Do sự hân hoan, bất lạc vừa được xuất ly, vừa là không. Do sơ thiền, các triền cái vừa được xuất ly, vừa là không... v.v... do A-la-hán đạo, tất cả phiền não vừa được xuất ly, vừa là không. Đây là xuất ly không.
Katamaṃ ajjhattasuññaṃ? Ajjhattaṃ cakkhuṃ suññaṃ attena vā attaniyena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā. Ajjhattaṃ sotaṃ suññaṃ… ajjhattaṃ ghānaṃ suññaṃ… ajjhattaṃ jivhā suññā… ajjhattaṃ kāyo suñño… ajjhattaṃ mano suñño attena vā attaniyena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā. Idaṃ ajjhattasuññaṃ.
What is internal emptiness? The internal eye is empty of self, or of what belongs to self, or of the permanent, or of the stable, or of the eternal, or of an unchangeable nature. The internal ear is empty... the internal nose is empty... the internal tongue is empty... the internal body is empty... the internal mind is empty of self, or of what belongs to self, or of the permanent, or of the stable, or of the eternal, or of an unchangeable nature. This is internal emptiness.
Thế nào là nội không? Mắt ở nội phần là không về tự ngã, hoặc sở hữu của tự ngã, hoặc thường còn, hoặc bền vững, hoặc vĩnh cửu, hoặc có bản chất không biến đổi. Tai ở nội phần là không... mũi ở nội phần là không... lưỡi ở nội phần là không... thân ở nội phần là không... ý ở nội phần là không về tự ngã, hoặc sở hữu của tự ngã, hoặc thường còn, hoặc bền vững, hoặc vĩnh cửu, hoặc có bản chất không biến đổi. Đây là nội không.
Katamaṃ bahiddhāsuññaṃ? Bahiddhā rūpā suññā…pe… bahiddhā dhammā suññā attena vā attaniyena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā. Idaṃ bahiddhāsuññaṃ.
What is external emptiness? External forms are empty... and so on... external phenomena are empty of self, or of what belongs to self, or of permanence, or of stability, or of eternity, or of an unchangeable nature. This is external emptiness.
Thế nào là ngoại không? Các sắc ở ngoại phần là không... v.v... các pháp ở ngoại phần là không về tự ngã, hoặc sở hữu của tự ngã, hoặc thường còn, hoặc bền vững, hoặc vĩnh cửu, hoặc có bản chất không biến đổi. Đây là ngoại không.
Katamaṃ dubhatosuññaṃ? Yañca ajjhattaṃ cakkhu ye ca bahiddhā rūpā ubhayametaṃ suññaṃ † attena vā attaniyena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā. Yañca ajjhattaṃ sotaṃ ye ca bahiddhā saddā…pe… yañca ajjhattaṃ ghānaṃ ye ca bahiddhā gandhā… yā ca ajjhattaṃ jivhā ye ca bahiddhā rasā… yo ca ajjhattaṃ kāyo ye ca bahiddhā phoṭṭhabbā… yo ca ajjhattaṃ mano ye ca bahiddhā dhammā ubhayametaṃ suññaṃ attena vā attaniyena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā. Idaṃ dubhatosuññaṃ.
What is emptiness on both sides? Both the internal eye and external forms are empty of self, or of what belongs to self, or of permanence, or of stability, or of eternity, or of an unchangeable nature. Both the internal ear and external sounds... and so on... both the internal nose and external smells... both the internal tongue and external tastes... both the internal body and external tangible objects... both the internal mind and external phenomena are empty of self, or of what belongs to self, or of permanence, or of stability, or of eternity, or of an unchangeable nature. This is emptiness on both sides.
Thế nào là nội ngoại không? Bất cứ mắt nào ở nội phần và bất cứ sắc nào ở ngoại phần, cả hai điều này là không về tự ngã, hoặc sở hữu của tự ngã, hoặc thường còn, hoặc bền vững, hoặc vĩnh cửu, hoặc có bản chất không biến đổi. Bất cứ tai nào ở nội phần và bất cứ âm thanh nào ở ngoại phần... v.v... bất cứ mũi nào ở nội phần và bất cứ mùi hương nào ở ngoại phần... bất cứ lưỡi nào ở nội phần và bất cứ vị nào ở ngoại phần... bất cứ thân nào ở nội phần và bất cứ vật xúc chạm nào ở ngoại phần... bất cứ ý nào ở nội phần và bất cứ pháp nào ở ngoại phần, cả hai điều này là không về tự ngã, hoặc sở hữu của tự ngã, hoặc thường còn, hoặc bền vững, hoặc vĩnh cửu, hoặc có bản chất không biến đổi. Đây là nội ngoại không.
Katamaṃ sabhāgasuññaṃ? Cha ajjhattikāni āyatanāni sabhāgāni ceva suññāni ca. Cha bāhirāni āyatanāni sabhāgāni ceva suññāni ca. Cha viññāṇakāyā sabhāgā ceva suññā ca. Cha phassakāyā sabhāgā ceva suññā ca. Cha vedanākāyā sabhāgā ceva suññā ca. Cha saññākāyā sabhāgā ceva suññā ca. Cha cetanākāyā sabhāgā ceva suññā ca. Idaṃ sabhāgasuññaṃ.
What is emptiness with respect to similarity? The six internal sense bases are both homogeneous and empty. The six external sense bases are both homogeneous and empty. The six classes of consciousness are both homogeneous and empty. The six classes of contact are both homogeneous and empty. The six classes of feeling are both homogeneous and empty. The six classes of perception are both homogeneous and empty. The six classes of volition are both homogeneous and empty. This is emptiness with respect to similarity.
Thế nào là tương tợ không? Sáu nội xứ vừa tương tợ, vừa là không. Sáu ngoại xứ vừa tương tợ, vừa là không. Sáu thân thức vừa tương tợ, vừa là không. Sáu thân xúc vừa tương tợ, vừa là không. Sáu thân thọ vừa tương tợ, vừa là không. Sáu thân tưởng vừa tương tợ, vừa là không. Sáu thân tư vừa tương tợ, vừa là không. Đây là tương tợ không.
Katamaṃ visabhāgasuññaṃ? Cha ajjhattikāni āyatanāni chahi bāhirehi āyatanehi visabhāgāni ceva suññāni ca. Cha bāhirāni āyatanāni chahi viññāṇakāyehi visabhāgāni ceva suññāni ca. Cha viññāṇakāyā chahi phassakāyehi visabhāgā ceva suññā ca. Cha phassakāyā chahi vedanākāyehi visabhāgā ceva suññā ca. Cha vedanākāyā chahi saññākāyehi visabhāgā ceva suññā ca. Cha saññākāyā chahi cetanākāyehi visabhāgā ceva suññā ca. Idaṃ visabhāgasuññaṃ.
What is emptiness in terms of dissimilarity? The six internal sense bases are both dissimilar to the six external sense bases and are empty. The six external sense bases are both dissimilar to the six classes of consciousness and are empty. The six classes of consciousness are both dissimilar to the six classes of contact and are empty. The six classes of contact are both dissimilar to the six classes of feeling and are empty. The six classes of feeling are both dissimilar to the six classes of perception and are empty. The six classes of perception are both dissimilar to the six classes of volition and are empty. This is emptiness in terms of dissimilarity.
Thế nào là bất tương tợ không? Sáu nội xứ đối với sáu ngoại xứ vừa bất tương tợ, vừa là không. Sáu ngoại xứ đối với sáu thân thức vừa bất tương tợ, vừa là không. Sáu thân thức đối với sáu thân xúc vừa bất tương tợ, vừa là không. Sáu thân xúc đối với sáu thân thọ vừa bất tương tợ, vừa là không. Sáu thân thọ đối với sáu thân tưởng vừa bất tương tợ, vừa là không. Sáu thân tưởng đối với sáu thân tư vừa bất tương tợ, vừa là không. Đây là bất tương tợ không.
Katamaṃ esanāsuññaṃ? Nekkhammesanā kāmacchandena suññā. Abyāpādesanā byāpādena suññā. Ālokasaññesanā thinamiddhena suññā. Avikkhepesanā uddhaccena suññā. Dhammavavatthānesanā vicikicchāya suññā. Ñāṇesanā avijjāya suññā. Pāmojjesanā aratiyā suññā. Paṭhamajjhānesanā nīvaraṇehi suññā…pe… arahattamaggesanā sabbakilesehi suññā. Idaṃ esanāsuññaṃ.
What is voidness of seeking? Seeking renunciation is void of sensual desire. Seeking non-ill-will is void of ill-will. Seeking the perception of light is void of sloth and torpor. Seeking non-distraction is void of restlessness. Seeking the determination of phenomena is void of doubt. Seeking knowledge is void of ignorance. Seeking gladness is void of discontent. Seeking the first jhāna is void of the hindrances... Seeking the path to arahantship is void of all defilements. This is voidness of seeking.
Thế nào là tầm cầu không? Sự tầm cầu xuất ly là không có dục tham. Sự tầm cầu vô sân là không có sân. Sự tầm cầu quang tưởng là không có hôn trầm thụy miên. Sự tầm cầu không tán loạn là không có trạo cử. Sự tầm cầu xác định pháp là không có hoài nghi. Sự tầm cầu trí tuệ là không có vô minh. Sự tầm cầu hân hoan là không có bất lạc. Sự tầm cầu sơ thiền là không có các triền cái... v.v... sự tầm cầu A-la-hán đạo là không có tất cả phiền não. Đây là tầm cầu không.
Katamaṃ pariggahasuññaṃ? Nekkhammapariggaho kāmacchandena suñño. Abyāpādapariggaho byāpādena suñño. Ālokasaññāpariggaho thinamiddhena suñño. Avikkhepapariggaho uddhaccena suñño. Dhammavavatthānapariggaho vicikicchāya suñño. Ñāṇapariggaho avijjāya suñño. Pāmojjapariggaho aratiyā suñño. Paṭhamajjhānapariggaho nīvaraṇehi suñño…pe… arahattamaggapariggaho sabbakilesehi suñño. Idaṃ pariggahasuññaṃ.
What is voidness of grasping? The grasping of renunciation is void of sensual desire. The grasping of non-ill-will is void of ill-will. The grasping of the perception of light is void of sloth and torpor. The grasping of non-distraction is void of restlessness. The grasping of the determination of phenomena is void of doubt. The grasping of knowledge is void of ignorance. The grasping of gladness is void of discontent. The grasping of the first jhāna is void of the hindrances... The grasping of the path to arahantship is void of all defilements. This is voidness of grasping.
Thế nào là tánh không của sự nắm giữ? Sự nắm giữ sự xuất ly là không có dục tham. Sự nắm giữ vô sân là không có sân. Sự nắm giữ quang tưởng là không có hôn trầm thụy miên. Sự nắm giữ sự không phóng dật là không có trạo cử. Sự nắm giữ sự xác định các pháp là không có hoài nghi. Sự nắm giữ trí tuệ là không có vô minh. Sự nắm giữ sự hân hoan là không có sự không hoan hỷ. Sự nắm giữ sơ thiền là không có các triền cái. ... cho đến ... sự nắm giữ A-la-hán đạo là không có tất cả phiền não. Đây là tánh không của sự nắm giữ.
Katamaṃ paṭilābhasuññaṃ? Nekkhammapaṭilābho kāmacchandena suñño. Abyāpādapaṭilābho byāpādena suñño. Ālokasaññāpaṭilābho thinamiddhena suñño. Avikkhepapaṭilābho uddhaccena suñño. Dhammavavatthānapaṭilābho vicikicchāya suñño. Ñāṇapaṭilābho avijjāya suñño. Pāmojjapaṭilābho aratiyā suñño. Paṭhamajjhānapaṭilābho nīvaraṇehi suñño…pe… arahattamaggapaṭilābho sabbakilesehi suñño. Idaṃ paṭilābhasuññaṃ.
What is voidness of attainment? The attainment of renunciation is void of sensual desire. The attainment of non-ill-will is void of ill-will. The attainment of the perception of light is void of sloth and torpor. The attainment of non-distraction is void of restlessness. The attainment of the determination of phenomena is void of doubt. The attainment of knowledge is void of ignorance. The attainment of gladness is void of discontent. The attainment of the first jhāna is void of the hindrances... The attainment of the path to arahantship is void of all defilements. This is voidness of attainment.
Thế nào là tánh không của sự chứng đắc? Sự chứng đắc sự xuất ly là không có dục tham. Sự chứng đắc vô sân là không có sân. Sự chứng đắc quang tưởng là không có hôn trầm thụy miên. Sự chứng đắc sự không phóng dật là không có trạo cử. Sự chứng đắc sự xác định các pháp là không có hoài nghi. Sự chứng đắc trí tuệ là không có vô minh. Sự chứng đắc sự hân hoan là không có sự không hoan hỷ. Sự chứng đắc sơ thiền là không có các triền cái. ... cho đến ... sự chứng đắc A-la-hán đạo là không có tất cả phiền não. Đây là tánh không của sự chứng đắc.
Katamaṃ paṭivedhasuññaṃ? Nekkhammappaṭivedho kāmacchandena suñño. Abyāpādappaṭivedho byāpādena suñño. Ālokasaññāppaṭivedho thinamiddhena suñño. Avikkhepappaṭivedho uddhaccena suñño. Dhammavavatthānappaṭivedho vicikicchāya suñño. Ñāṇappaṭivedho avijjāya suñño. Pāmojjappaṭivedho aratiyā suñño. Paṭhamajjhānappaṭivedho nīvaraṇehi suñño…pe… arahattamaggappaṭivedho sabbakilesehi suñño. Idaṃ paṭivedhasuññaṃ.
What is the emptiness of penetration? The penetration of renunciation is empty of sensual desire. The penetration of non-ill will is empty of ill will. The penetration of the perception of light is empty of sloth and torpor. The penetration of non-distraction is empty of restlessness. The penetration of discernment of phenomena is empty of doubt. The penetration of knowledge is empty of ignorance. The penetration of gladness is empty of discontent. The penetration of the first jhāna is empty of the hindrances… The penetration of the path of arahantship is empty of all defilements. This is the emptiness of penetration.
Thế nào là tánh không của sự thông suốt? Sự thông suốt sự xuất ly là không có dục tham. Sự thông suốt vô sân là không có sân. Sự thông suốt quang tưởng là không có hôn trầm thụy miên. Sự thông suốt sự không phóng dật là không có trạo cử. Sự thông suốt sự xác định các pháp là không có hoài nghi. Sự thông suốt trí tuệ là không có vô minh. Sự thông suốt sự hân hoan là không có sự không hoan hỷ. Sự thông suốt sơ thiền là không có các triền cái. ... cho đến ... sự thông suốt A-la-hán đạo là không có tất cả phiền não. Đây là tánh không của sự thông suốt.
Katamaṃ ekattasuññaṃ, nānattasuññaṃ? Kāmacchando nānattaṃ, nekkhammaṃ ekattaṃ. Nekkhammekattaṃ cetayato kāmacchandena suññaṃ. Byāpādo nānattaṃ, abyāpādo ekattaṃ. Abyāpādekattaṃ cetayato byāpādena suññaṃ. Thinamiddhaṃ nānattaṃ, ālokasaññā ekattaṃ. Ālokasaññekattaṃ cetayato thinamiddhena suññaṃ. Uddhaccaṃ nānattaṃ, avikkhepo ekattaṃ. Avikkhepekattaṃ cetayato uddhaccena suññaṃ. Vicikicchā nānattaṃ, dhammavavatthānaṃ ekattaṃ. Dhammavavatthānekattaṃ cetayato vicikicchāya suññaṃ. Avijjā nānattaṃ, ñāṇaṃ ekattaṃ. Ñāṇekattaṃ cetayato avijjāya suññaṃ. Arati nānattaṃ, pāmojjaṃ ekattaṃ. Pāmojjekattaṃ cetayato aratiyā suññaṃ. Nīvaraṇā nānattaṃ, paṭhamajjhānaṃ ekattaṃ. Paṭhamajjhānekattaṃ cetayato nīvaraṇehi suññaṃ…pe… sabbakilesā nānattaṃ, arahattamaggo ekattaṃ. Arahattamaggekattaṃ cetayato sabbakilesehi suññaṃ. Idaṃ ekattasuññaṃ nānattasuññaṃ.
What is emptiness as unity and emptiness as diversity? Sensual desire is diversity; renunciation is unity. When one intends unity as renunciation, it is empty of sensual desire. Ill-will is diversity; non-ill-will is unity. When one intends unity as non-ill-will, it is empty of ill-will. Sloth and torpor are diversity; the perception of light is unity. When one intends unity as the perception of light, it is empty of sloth and torpor. Restlessness is diversity; non-distraction is unity. When one intends unity as non-distraction, it is empty of restlessness. Doubt is diversity; discernment of phenomena is unity. When one intends unity as discernment of phenomena, it is empty of doubt. Ignorance is diversity; knowledge is unity. When one intends unity as knowledge, it is empty of ignorance. Discontent is diversity; gladness is unity. When one intends unity as gladness, it is empty of discontent. The hindrances are diversity; the first jhāna is unity. When one intends unity as the first jhāna, it is empty of the hindrances… All defilements are diversity; the path to arahantship is unity. When one intends unity as the path to arahantship, it is empty of all defilements. This is emptiness as unity and emptiness as diversity.
Thế nào là tánh không của sự đồng nhất, tánh không của sự đa dạng? Dục tham là sự đa dạng, sự xuất ly là sự đồng nhất. Đối với người có tác ý về sự đồng nhất của sự xuất ly thì không có dục tham. Sân là sự đa dạng, vô sân là sự đồng nhất. Đối với người có tác ý về sự đồng nhất của vô sân thì không có sân. Hôn trầm thụy miên là sự đa dạng, quang tưởng là sự đồng nhất. Đối với người có tác ý về sự đồng nhất của quang tưởng thì không có hôn trầm thụy miên. Trạo cử là sự đa dạng, sự không phóng dật là sự đồng nhất. Đối với người có tác ý về sự đồng nhất của sự không phóng dật thì không có trạo cử. Hoài nghi là sự đa dạng, sự xác định các pháp là sự đồng nhất. Đối với người có tác ý về sự đồng nhất của sự xác định các pháp thì không có hoài nghi. Vô minh là sự đa dạng, trí tuệ là sự đồng nhất. Đối với người có tác ý về sự đồng nhất của trí tuệ thì không có vô minh. Sự không hoan hỷ là sự đa dạng, sự hân hoan là sự đồng nhất. Đối với người có tác ý về sự đồng nhất của sự hân hoan thì không có sự không hoan hỷ. Các triền cái là sự đa dạng, sơ thiền là sự đồng nhất. Đối với người có tác ý về sự đồng nhất của sơ thiền thì không có các triền cái. ... cho đến ... tất cả phiền não là sự đa dạng, A-la-hán đạo là sự đồng nhất. Đối với người có tác ý về sự đồng nhất của A-la-hán đạo thì không có tất cả phiền não. Đây là tánh không của sự đồng nhất, tánh không của sự đa dạng.
Katamaṃ khantisuññaṃ? Nekkhammakhanti kāmacchandena suññā. Abyāpādakhanti byāpādena suññā. Ālokasaññākhanti thinamiddhena suññā. Avikkhepakhanti uddhaccena suññā. Dhammavavatthānakhanti vicikicchāya suññā. Ñāṇakhanti avijjāya suññā. Pāmojjakhanti aratiyā suññā. Paṭhamajjhānakhanti nīvaraṇehi suññā…pe… arahattamaggakhanti sabbakilesehi suññā. Idaṃ khantisuññaṃ.
What is emptiness of patience? Patience for renunciation is empty of sensual desire. Patience for non-ill-will is empty of ill-will. Patience for the perception of light is empty of sloth and torpor. Patience for non-distraction is empty of restlessness. Patience for the determination of phenomena is empty of doubt. Patience for knowledge is empty of ignorance. Patience for joy is empty of displeasure. Patience for the first jhāna is empty of the hindrances… Patience for the path of arahantship is empty of all defilements. This is emptiness of patience.
Thế nào là tánh không của sự kham nhẫn? Sự kham nhẫn đối với sự xuất ly là không có dục tham. Sự kham nhẫn đối với vô sân là không có sân. Sự kham nhẫn đối với quang tưởng là không có hôn trầm thụy miên. Sự kham nhẫn đối với sự không phóng dật là không có trạo cử. Sự kham nhẫn đối với sự xác định các pháp là không có hoài nghi. Sự kham nhẫn đối với trí tuệ là không có vô minh. Sự kham nhẫn đối với sự hân hoan là không có sự không hoan hỷ. Sự kham nhẫn đối với sơ thiền là không có các triền cái. ... cho đến ... sự kham nhẫn đối với A-la-hán đạo là không có tất cả phiền não. Đây là tánh không của sự kham nhẫn.
Katamaṃ adhiṭṭhānasuññaṃ? Nekkhammādhiṭṭhānaṃ kāmacchandena suññaṃ. Abyāpādādhiṭṭhānaṃ byāpādena suññaṃ. Ālokasaññādhiṭṭhānaṃ thinamiddhena suññaṃ. Avikkhepādhiṭṭhānaṃ uddhaccena suññaṃ. Dhammavavatthānādhiṭṭhānaṃ vicikicchāya suññaṃ. Ñāṇādhiṭṭhānaṃ avijjāya suññaṃ. Pāmojjādhiṭṭhānaṃ aratiyā suññaṃ. Paṭhamajjhānādhiṭṭhānaṃ nīvaraṇehi suññaṃ…pe… arahattamaggādhiṭṭhānaṃ sabbakilesehi suññaṃ. Idaṃ adhiṭṭhānasuññaṃ.
What is emptiness of resolve? The resolve for renunciation is empty of sensual desire. The resolve for non-ill-will is empty of ill-will. The resolve for the perception of light is empty of sloth and torpor. The resolve for non-distraction is empty of restlessness. The resolve for the determination of phenomena is empty of doubt. The resolve for knowledge is empty of ignorance. The resolve for joy is empty of displeasure. The resolve for the first jhāna is empty of the hindrances… The resolve for the path of arahantship is empty of all defilements. This is emptiness of resolve.
Thế nào là tánh không của sự quyết định? Sự quyết định về sự xuất ly là không có dục tham. Sự quyết định về vô sân là không có sân. Sự quyết định về quang tưởng là không có hôn trầm thụy miên. Sự quyết định về sự không phóng dật là không có trạo cử. Sự quyết định về sự xác định các pháp là không có hoài nghi. Sự quyết định về trí tuệ là không có vô minh. Sự quyết định về sự hân hoan là không có sự không hoan hỷ. Sự quyết định về sơ thiền là không có các triền cái. ... cho đến ... sự quyết định về A-la-hán đạo là không có tất cả phiền não. Đây là tánh không của sự quyết định.
Katamaṃ pariyogāhaṇasuññaṃ? Nekkhammapariyogāhaṇaṃ kāmacchandena suññaṃ. Abyāpādapariyogāhaṇaṃ byāpādena suññaṃ. Ālokasaññāpariyogāhaṇaṃ thinamiddhena suññaṃ. Avikkhepapariyogāhaṇaṃ uddhaccena suññaṃ. Dhammavavatthānapariyogāhaṇaṃ vicikicchāya suññaṃ. Ñāṇapariyogāhaṇaṃ avijjāya suññaṃ. Pāmojjapariyogāhaṇaṃ aratiyā suññaṃ. Paṭhamajjhānapariyogāhaṇaṃ nīvaraṇehi suññaṃ…pe… arahattamaggapariyogāhaṇaṃ sabbakilesehi suññaṃ. Idaṃ pariyogāhaṇasuññaṃ.
What is emptiness of penetration? The penetration of renunciation is empty of sensual desire. The penetration of non-ill-will is empty of ill-will. The penetration of the perception of light is empty of sloth and torpor. The penetration of non-distraction is empty of restlessness. The penetration of the determination of phenomena is empty of doubt. The penetration of knowledge is empty of ignorance. The penetration of joy is empty of displeasure. The penetration of the first jhāna is empty of the hindrances… The penetration of the path of arahantship is empty of all defilements. This is emptiness of penetration.
Thế nào là tánh không của sự thâm nhập? Sự thâm nhập vào sự xuất ly là không có dục tham. Sự thâm nhập vào vô sân là không có sân. Sự thâm nhập vào quang tưởng là không có hôn trầm thụy miên. Sự thâm nhập vào sự không phóng dật là không có trạo cử. Sự thâm nhập vào sự xác định các pháp là không có hoài nghi. Sự thâm nhập vào trí tuệ là không có vô minh. Sự thâm nhập vào sự hân hoan là không có sự không hoan hỷ. Sự thâm nhập vào sơ thiền là không có các triền cái. ... cho đến ... sự thâm nhập vào A-la-hán đạo là không có tất cả phiền não. Đây là tánh không của sự thâm nhập.
Katamaṃ sampajānassa pavattapariyādānaṃ sabbasuññatānaṃ paramatthasuññaṃ? Idha sampajāno nekkhammena kāmacchandassa pavattaṃ pariyādiyati, abyāpādena byāpādassa pavattaṃ pariyādiyati, ālokasaññāya thinamiddhassa pavattaṃ pariyādiyati, avikkhepena uddhaccassa pavattaṃ pariyādiyati, dhammavavatthānena vicikicchāya pavattaṃ pariyādiyati, ñāṇena avijjāya pavattaṃ pariyādiyati, pāmojjena aratiyā pavattaṃ pariyādiyati, paṭhamena jhānena nīvaraṇānaṃ pavattaṃ pariyādiyati…pe… arahattamaggena sabbakilesānaṃ pavattaṃ pariyādiyati. Atha vā pana sampajānassa anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyantassa idaṃ ceva cakkhupavattaṃ pariyādiyati, aññañca cakkhupavattaṃ na uppajjati. Idañceva sotapavattaṃ…pe… ghānapavattaṃ… jivhāpavattaṃ… kāyapavattaṃ… manopavattaṃ pariyādiyati, aññañca manopavattaṃ na uppajjati. Idaṃ sampajānassa pavattapariyādānaṃ sabbasuññatānaṃ paramatthasuññanti.
What is the exhaustion of occurrence for one with full awareness, the ultimate emptiness among all emptinesses? Here, one with full awareness, through renunciation, brings to an end the occurrence of sensual desire; through non-ill-will, brings to an end the occurrence of ill-will; through the perception of light, brings to an end the occurrence of sloth and torpor; through non-distraction, brings to an end the occurrence of restlessness; through the analysis of phenomena, brings to an end the occurrence of doubt; through knowledge, brings to an end the occurrence of ignorance; through joy, brings to an end the occurrence of discontent; through the first jhāna, brings to an end the occurrence of the hindrances… through the path of arahantship, brings to an end the occurrence of all defilements. Furthermore, for one with full awareness who is attaining final Nibbāna with the Nibbāna-element without residue remaining, this very occurrence of the eye is brought to an end, and no other occurrence of the eye arises. This very occurrence of the ear… nose… tongue… body… this very occurrence of the mind is brought to an end, and no other occurrence of the mind arises. This is the exhaustion of occurrence for one with full awareness, the ultimate emptiness among all emptinesses.
Thế nào là tánh không tối hậu trong tất cả các tánh không, là sự chấm dứt dòng chảy của người có tỉnh giác? Ở đây, người có tỉnh giác dùng sự xuất ly để chấm dứt dòng chảy của tham dục; dùng vô sân để chấm dứt dòng chảy của sân hận; dùng tưởng về ánh sáng để chấm dứt dòng chảy của hôn trầm thụy miên; dùng sự không tán loạn để chấm dứt dòng chảy của trạo cử; dùng sự xác định các pháp để chấm dứt dòng chảy của hoài nghi; dùng trí tuệ để chấm dứt dòng chảy của vô minh; dùng sự hân hoan để chấm dứt dòng chảy của sự không hoan hỷ; dùng thiền thứ nhất để chấm dứt dòng chảy của các triền cái... cho đến... dùng đạo A-la-hán để chấm dứt dòng chảy của tất cả các phiền não. Hoặc nữa, đối với người có tỉnh giác đang nhập vô dư y Niết-bàn giới, chính dòng chảy của mắt này được chấm dứt, và dòng chảy khác của mắt không sanh khởi. Chính dòng chảy của tai này... cho đến... dòng chảy của mũi... dòng chảy của lưỡi... dòng chảy của thân... dòng chảy của ý được chấm dứt, và dòng chảy khác của ý không sanh khởi. Đây được gọi là tánh không tối hậu trong tất cả các tánh không, là sự chấm dứt dòng chảy của người có tỉnh giác.
Suññakathā niṭṭhitā.
The Discourse on Emptiness is concluded.
Lời bàn về tánh không đã kết thúc.
The Second Chapter on Coupling.
Phẩm Song Liên thứ hai.
Tassuddānaṃ –
Its summary:
Phần tóm lược của phẩm ấy:
Yuganaddhā saccabojjhaṅgā, mettā virāgapañcamā;
Paṭisambhidā dhammacakkaṃ, lokuttarabalasuññāti.
Coupling, Truths and Enlightenment Factors, Loving-Kindness, with Dispassion as the fifth; Analysis, the Wheel of Dhamma, the Supramundane, Powers, and Emptiness.
Song liên, đế và giác chi, từ ái, ly tham là thứ năm; Vô ngại giải, chuyển pháp luân, siêu thế, lực, và tánh không.
Esa nikāyadharehi ṭhapito, asamo dutiyo pavaro
This second chapter, established by the bearers of the Nikāyas, is matchless and excellent,
Đây là phẩm thứ hai, cao quý, không gì sánh bằng, đã được thiết lập bởi các vị trì tụng tạng.