Bản dịch
PS 2.9 — Giảng về Lực
2.9. Balakathā
[Duyên khởi ở Sāvatthī]
Này các tỳ khưu, đây là năm lực. Năm là gì? Tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực. Này các tỳ khưu, đây là năm lực.
Vả lại, có 68 lực là tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, lực của sự hổ thẹn (tội lỗi), lực của sự ghê sợ (tội lỗi), lực của sự phân biệt rõ, lực của sự tu tập, lực của sự không sai trái, lực của sự củng cố, lực của sự nhẫn nại, lực của sự chuẩn bị, lực của sự thuyết phục, lực của sự thống lãnh, lực của sự khẳng định, lực của chỉ tịnh, lực của minh sát, mười lực của bậc Hữu Học, mười lực của bậc Vô Học, mười lực của bậc Lậu Tận, mười lực của thần thông, mười lực của đức Như Lai.
Tín lực là gì? ‘Không dao động ở sự không có đức tin’ là tín lực. Với ý nghĩa nâng đỡ các pháp đồng sanh là tín lực. Theo ý nghĩa chấm dứt các phiền não là tín lực. Theo ý nghĩa làm trong sạch phần đầu sự thấu triệt là tín lực. Theo ý nghĩa khẳng định của tâm là tín lực. Theo ý nghĩa thanh lọc của tâm là tín lực. Theo ý nghĩa đắc chứng pháp đặc biệt là tín lực. Theo ý nghĩa thấu triệt hướng thượng là tín lực. Theo ý nghĩa chứng ngộ chân lý là tín lực. Theo ý nghĩa thiết lập vào sự diệt tận là tín lực. Điều này là tín lực.
Tấn lực là gì? ‘Không dao động ở sự biếng nhác’ là tấn lực. Với ý nghĩa nâng đỡ các pháp đồng sanh là tấn lực. Với ý nghĩa chấm dứt các phiền não là tấn lực. Với ý nghĩa làm trong sạch phần đầu của sự thấu triệt là tấn lực. Với ý nghĩa khẳng định của tâm là tấn lực. Với ý nghĩa thanh lọc của tâm là tấn lực. Với ý nghĩa đắc chứng pháp đặc biệt là tấn lực. Với ý nghĩa thấu triệt hướng thượng là tấn lực. Với ý nghĩa chứng ngộ chân lý là tấn lực. Với ý nghĩa thiết lập vào sự diệt tận. Điều này là tấn lực.
Niệm lực là gì? ‘Không dao động ở sự buông lung’ là niệm lực. Với ý nghĩa nâng đỡ các pháp đồng sanh là niệm lực. …(như trên)… Với ý nghĩa thiết lập vào sự diệt tận là niệm lực. Điều này là niệm lực.
Định lực là gì? ‘Không dao động ở sự phóng dật’ là định lực. Với ý nghĩa nâng đỡ các pháp đồng sanh là định lực. …(như trên)… Với ý nghĩa thiết lập vào sự diệt tận là định lực. Điều này là định lực.
Tuệ lực là gì? ‘Không dao động ở vô minh’ là tuệ lực. Với ý nghĩa nâng đỡ các pháp đồng sanh là tuệ lực. …(như trên)… Với ý nghĩa thiết lập vào sự diệt tận là tuệ lực. Điều này là tuệ lực.
Lực của sự hổ thẹn (tội lỗi) là gì? ‘Do sự thoát ly, (hành giả) hổ thẹn về ước muốn trong các dục’ là lực của sự hổ thẹn. ‘Do không sân độc, hổ thẹn về sự sân độc’ là lực của sự hổ thẹn. ‘Do nghĩ tưởng về ánh sáng, hổ thẹn về sự lờ đờ buồn ngủ’ là lực của sự hổ thẹn. ‘Do không tản mạn, hổ thẹn về sự phóng dật’ là lực của sự hổ thẹn. ‘Do xác định pháp, hổ thẹn về hoài nghi’ là lực của sự hổ thẹn. ‘Do trí, hổ thẹn về vô minh’ là lực của sự hổ thẹn. ‘Do hân hoan, hổ thẹn về sự không hứng thú’ là lực của sự hổ thẹn. ‘Do sơ thiền, hổ thẹn về các pháp ngăn che’ là lực của sự hổ thẹn. …(như trên)… ‘Do Đạo A-la-hán, hổ thẹn về toàn bộ phiền não’ là lực của sự hổ thẹn. Điều này là lực của sự hổ thẹn.
Lực của sự ghê sợ (tội lỗi) là gì? ‘Do sự thoát ly, (hành giả) ghê sợ về ước muốn trong các dục’ là lực của sự ghê sợ. ‘Do không sân độc, ghê sợ về sự sân độc’ là lực của sự ghê sợ. ‘Do nghĩ tưởng về ánh sáng, ghê sợ về sự lờ đờ buồn ngủ’ là lực của sự ghê sợ. ‘Do không tản mạn, ghê sợ về sự phóng dật’ là lực của sự ghê sợ. ‘Do xác định pháp, ghê sợ về hoài nghi’ là lực của sự ghê sợ. ‘Do trí, ghê sợ về vô minh’ là lực của sự ghê sợ. ‘Do hân hoan, ghê sợ về sự không hứng thú’ là lực của sự ghê sợ. ‘Do sơ thiền, ghê sợ về các pháp ngăn che’ là lực của sự ghê sợ. …(như trên)… ‘Do Đạo A-la-hán, ghê sợ về toàn bộ phiền não’ là lực của sự ghê sợ. Điều này là lực của sự ghê sợ.
Lực của sự phân biệt rõ là gì? ‘Do sự thoát ly, (hành giả) phân biệt rõ về ước muốn trong các dục’ là lực của sự phân biệt rõ. ‘Do không sân độc, phân biệt rõ về sự sân độc’ là lực của sự phân biệt rõ. ‘Do nghĩ tưởng về ánh sáng, phân biệt rõ về sự lờ đờ buồn ngủ’ là lực của sự phân biệt rõ. ‘Do không tản mạn, phân biệt rõ về sự phóng dật’ là lực của sự phân biệt rõ. ‘Do sự xác định pháp, phân biệt rõ về hoài nghi’ là lực của sự phân biệt rõ. ‘Do trí, phân biệt rõ về vô minh’ là lực của sự phân biệt rõ. ‘Do hân hoan, phân biệt rõ về sự không hứng thú’ là lực của sự phân biệt rõ. ‘Do sơ thiền, phân biệt rõ về các pháp ngăn che’ là lực của sự phân biệt rõ. …(như trên)… ‘Do Đạo A-la-hán, phân biệt rõ về toàn bộ phiền não’ là lực của sự phân biệt rõ. Điều này là lực của sự phân biệt rõ.
Lực của sự tu tập là gì? ‘Trong khi dứt bỏ ước muốn trong các dục, (hành giả) tu tập sự thoát ly’ là lực của sự tu tập. ‘Trong khi dứt bỏ sân độc, tu tập sự không sân độc’ là lực của sự tu tập. ‘Trong khi dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, tu tập sự nghĩ tưởng về ánh sáng’ là lực của sự tu tập. ‘Trong khi dứt bỏ phóng dật, tu tập sự không tản mạn’ là lực của sự tu tập. ‘Trong khi dứt bỏ hoài nghi, tu tập sự xác định pháp’ là lực của sự tu tập. ‘Trong khi dứt bỏ vô minh, tu tập trí’ là lực của sự tu tập. ‘Trong khi dứt bỏ sự không hứng thú, tu tập sự hân hoan’ là lực của sự tu tập. ‘Trong khi dứt bỏ các pháp ngăn che, tu tập sơ thiền’ là lực của sự tu tập. …(như trên)… ‘Trong khi dứt bỏ toàn bộ phiền não, tu tập Đạo A-la-hán’ là lực của sự tu tập. Điều này là lực của sự tu tập.
Lực của sự không sai trái là gì? ‘Do trạng thái dứt bỏ ước muốn trong các dục, không có gì sai trái ở sự thoát ly’ là lực của sự không sai trái. ‘Do trạng thái dứt bỏ sân độc, không có gì sai trái ở sự không sân độc’ là lực của sự không sai trái. ‘Do trạng thái dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, không có gì sai trái ở sự nghĩ tưởng về ánh sáng’ là lực của sự không sai trái. ‘Do trạng thái dứt bỏ phóng dật, không có gì sai trái ở sự không tản mạn’ là lực của sự không sai trái. ‘Do trạng thái dứt bỏ hoài nghi, không có gì sai trái ở sự xác định pháp’ là lực của sự không sai trái. ‘Do trạng thái dứt bỏ vô minh, không có gì sai trái ở trí’ là lực của sự không sai trái. ‘Do trạng thái dứt bỏ sự không hứng thú, không có gì sai trái ở sự hân hoan’ là lực của sự không sai trái. ‘Do trạng thái dứt bỏ các pháp ngăn che, không có gì sai trái ở sơ thiền’ là lực của sự không sai trái. …(như trên)… ‘Do trạng thái dứt bỏ toàn bộ phiền não, không có gì sai trái ở Đạo A-la-hán’ là lực của sự không sai trái. Điều này là lực của sự không sai trái.
Lực của sự củng cố là gì? ‘Trong khi dứt bỏ ước muốn trong các dục, nhờ vào tác động của sự thoát ly (hành giả) củng cố lại tâm’ là lực của sự củng cố. ‘Trong khi dứt bỏ sân độc bằng sự không sân độc (hành giả) củng cố lại tâm’ là lực của sự củng cố. ‘Trong khi dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ bằng sự nghĩ tưởng về ánh sáng (hành giả) củng cố lại tâm’ là lực của sự củng cố. …(như trên)… ‘Trong khi dứt bỏ toàn bộ phiền não bằng Đạo A-la-hán (hành giả) củng cố lại tâm’ là lực của sự củng cố. Điều này là lực của sự củng cố.
Lực của sự nhẫn nại là gì? ‘Do trạng thái dứt bỏ ước muốn trong các dục, (hành giả) chấp nhận sự thoát ly’ là lực của sự nhẫn nại. ‘Do trạng thái dứt bỏ sân độc, chấp nhận sự không sân độc’ là lực của sự nhẫn nại. ‘Do trạng thái dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, chấp nhận sự nghĩ tưởng về ánh sáng’ là lực của sự nhẫn nại. ‘Do trạng thái dứt bỏ phóng dật, chấp nhận sự không tản mạn’ là lực của sự nhẫn nại. ‘Do trạng thái dứt bỏ hoài nghi, chấp nhận sự xác định pháp’ là lực của sự nhẫn nại. ‘Do trạng thái dứt bỏ vô minh, chấp nhận trí’ là lực của sự nhẫn nại. ‘Do trạng thái dứt bỏ sự không hứng thú, chấp nhận hân hoan’ là lực của sự nhẫn nại. ‘Do trạng thái dứt bỏ các pháp ngăn che, chấp nhận sơ thiền’ là lực của sự nhẫn nại. …(như trên)… ‘Do trạng thái dứt bỏ toàn bộ phiền não, chấp nhận Đạo A-la-hán’ là lực của sự nhẫn nại. Điều này là lực của sự nhẫn nại.
Lực của sự chuẩn bị là gì? ‘Trong khi dứt bỏ ước muốn trong các dục, nhờ vào tác động của sự thoát ly (hành giả) chuẩn bị tâm’ là lực của sự chuẩn bị. ‘Trong khi dứt bỏ sân độc, nhờ vào tác động của sự không sân độc (hành giả) chuẩn bị tâm’ là lực của sự chuẩn bị. ‘Trong khi dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, nhờ vào tác động của sự nghĩ tưởng về ánh sáng (hành giả) chuẩn bị tâm’ là lực của sự chuẩn bị. …(như trên)… ‘Trong khi dứt bỏ toàn bộ phiền não, nhờ vào tác động của Đạo A-la-hán (hành giả) chuẩn bị tâm’ là lực của sự chuẩn bị. Điều này là lực của sự chuẩn bị.
Lực của sự thuyết phục là gì? ‘Trong khi dứt bỏ ước muốn trong các dục, nhờ vào tác động của sự thoát ly (hành giả) khiến tâm được thuyết phục’ là lực của sự thuyết phục. ‘Trong khi dứt bỏ sân độc, nhờ vào tác động của sự không sân độc (hành giả) khiến tâm được thuyết phục’ là lực của sự thuyết phục. ‘Trong khi dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, nhờ vào tác động của sự nghĩ tưởng về ánh sáng (hành giả) khiến tâm được thuyết phục’ là lực của sự thuyết phục. …(như trên)… ‘Trong khi dứt bỏ toàn bộ phiền não, nhờ vào tác động của Đạo A-la-hán (hành giả) khiến tâm được thuyết phục’ là lực của sự thuyết phục. Điều này là lực của sự thuyết phục.
Lực của sự thống lãnh là gì? ‘Trong khi dứt bỏ ước muốn trong các dục, nhờ vào tác động của sự thoát ly (hành giả) chuyển tâm thành ưu thế’ là lực của sự thống lãnh. ‘Trong khi dứt bỏ sân độc, nhờ vào tác động của sự không sân độc (hành giả) chuyển tâm thành ưu thế’ là lực của sự thống lãnh. ‘Trong khi dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, nhờ vào tác động của sự nghĩ tưởng về ánh sáng (hành giả) chuyển tâm thành ưu thế’ là lực của sự thống lãnh. …(như trên)… ‘Trong khi dứt bỏ toàn bộ phiền não, nhờ vào tác động của Đạo A-la-hán (hành giả) chuyển tâm thành ưu thế’ là lực của sự thống lãnh. Điều này là lực của sự thống lãnh.
Lực của sự khẳng định là gì? ‘Trong khi dứt bỏ ước muốn trong các dục, nhờ vào tác động của sự thoát ly (hành giả) khẳng định tâm’ là lực của sự khẳng định. ‘Trong khi dứt bỏ sân độc, nhờ vào tác động của sự không sân độc (hành giả) khẳng định tâm’ là lực của sự khẳng định. ‘Trong khi dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, nhờ vào tác động của sự nghĩ tưởng về ánh sáng (hành giả) khẳng định tâm’ là lực của sự khẳng định. …(như trên)… ‘Trong khi dứt bỏ toàn bộ phiền não, nhờ vào tác động của Đạo A-la-hán (hành giả) khẳng định tâm’ là lực của sự khẳng định. Điều này là lực của sự khẳng định.
Lực của chỉ tịnh là gì? Do tác động của sự thoát ly, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh. Do tác động của sự không sân độc, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh. Do tác động của sự nghĩ tưởng về ánh sáng, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh. …(như trên)… Có sự quán xét về từ bỏ, do tác động của hơi thở vào, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh. Có sự quán xét về từ bỏ, do tác động của hơi thở ra, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh.
Lực của chỉ tịnh: Lực của chỉ tịnh với ý nghĩa gì? ‘Nhờ vào sơ thiền, (hành giả) không rung động đối với các pháp ngăn che’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào nhị thiền, (hành giả) không rung động đối với tầm và tứ’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào tam thiền, (hành giả) không rung động đối với hỷ’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào tứ thiền, (hành giả) không rung động đối với lạc và khổ’ là lực của chỉ tịnh.
‘Nhờ vào sự chứng đạt không vô biên xứ, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về sắc, đối với sự nghĩ tưởng về bất bình, đối với sự nghĩ tưởng về sự khác biệt’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào sự chứng đạt thức vô biên xứ, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào sự chứng đạt vô sở hữu xứ, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về vô sở hữu xứ’ là lực của chỉ tịnh. ‘(Hành giả) không rung động không lay động không chao động đối với các sự phóng dật, đối với các phiền não đi cùng với phóng dật, và đối với các uẩn’ là lực của chỉ tịnh. Đây là lực của chỉ tịnh.
Lực của minh sát là gì? Sự quán xét về vô thường là lực của minh sát. …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ là lực của minh sát. Sự quán xét về vô thường ở sắc là lực của minh sát. Sự quán xét về khổ não ở sắc là lực của minh sát. …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ ở sắc là lực của minh sát. Sự quán xét về vô thường ở thọ … ở tưởng … ở các hành … ở thức … ở mắt … ở lão tử là lực của minh sát. Sự quán xét về khổ não ở lão tử là lực của minh sát. …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ ở lão tử là lực của minh sát.
Lực của minh sát: Lực của minh sát với ý nghĩa gì? ‘Do quán xét về vô thường, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về thường’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về khổ não, không rung động đối với sự nghĩ tưởng về lạc’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về vô ngã, không rung động đối với sự nghĩ tưởng về ngã’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về nhàm chán, không rung động đối với sự nghĩ tưởng về vui thích’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về ly tham ái, không rung động đối với sự nghĩ tưởng về tham ái’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về diệt tận, không rung động đối với sự nghĩ tưởng về nhân sanh khởi’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về từ bỏ, không rung động đối với sự nghĩ tưởng về nắm giữ’ là lực của minh sát. ‘không rung động không chuyển động không chao động đối với vô minh, đối với các phiền não đi cùng với vô minh, và đối với các uẩn’ là lực của minh sát. Đây là lực của minh sát.
Mười lực của bậc Hữu Học, mười lực của bậc Vô Học là gì? ‘(Hành giả) học tập chánh kiến’ là lực của bậc Hữu Học. ‘Do trạng thái đã học tập xong ở điều ấy’ là lực của bậc Vô Học. ‘(Hành giả) học tập chánh tư duy’ là lực của bậc Hữu Học. ‘Do trạng thái đã học tập xong ở điều ấy’ là lực của bậc Vô Học. ‘(Hành giả) học tập chánh ngữ … chánh nghiệp … chánh mạng … chánh tinh tấn … chánh niệm … chánh định … chánh trí … chánh giải thoát’ là lực của bậc Hữu Học. ‘Do trạng thái đã học tập xong ở điều ấy’ là lực của bậc Vô Học. Đây là mười lực của bậc Hữu Học, mười lực của bậc Vô Học.
Mười lực của bậc Lậu Tận là gì? Ở đây, đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, tất cả các hành là vô thường được thấy rõ đúng theo thực thể nhờ vào sự nhận biết đúng đắn. Sự việc đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, tất cả các hành là vô thường được thấy rõ đúng theo thực thể nhờ vào sự nhận biết đúng đắn; điều này cũng là lực của vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận. Sau khi đạt đến lực ấy, vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận nhận biết sự đoạn tận của các lậu hoặc rằng: ‘Các lậu hoặc của ta đã cạn kiệt.’
Hơn nữa, đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, các dục tợ như hố than cháy đỏ được thấy rõ đúng theo thực thể nhờ vào sự nhận biết đúng đắn. Sự việc đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, các dục tợ như hố than cháy đỏ được thấy rõ đúng theo thực thể nhờ vào sự nhận biết đúng đắn; điều này cũng là lực của vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận. Sau khi đạt đến lực ấy, vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận nhận biết sự đoạn tận của các lậu hoặc rằng: ‘Các lậu hoặc của ta đã cạn kiệt.’
Hơn nữa, đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, tâm là thuận theo sự viễn ly, là xuôi theo sự viễn ly, là nghiêng theo sự viễn ly, là tồn tại ở sự viễn ly, là hứng thú với sự thoát ly, là được hoàn toàn chấm dứt đối với các pháp đưa đến lậu hoặc. Sự việc đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, tâm là thuận theo sự viễn ly, là xuôi theo sự viễn ly, là nghiêng theo sự viễn ly, là tồn tại ở sự viễn ly, là hứng thú với sự thoát ly, là được hoàn toàn chấm dứt đối với các pháp đưa đến lậu hoặc; điều này cũng là lực của vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận. Sau khi đạt đến lực ấy, vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận nhận biết sự đoạn tận của các lậu hoặc rằng: ‘Các lậu hoặc của ta đã cạn kiệt.’
Hơn nữa, đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, bốn sự thiết lập niệm là đã được tu tập, là đã được tu tập tốt đẹp. Sự việc đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, bốn sự thiết lập niệm là đã được tu tập, là đã được tu tập tốt đẹp; điều này cũng là lực của vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận. Sau khi đạt đến lực ấy, vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận nhận biết sự đoạn tận của các lậu hoặc rằng: ‘Các lậu hoặc của ta đã cạn kiệt.’
Hơn nữa, đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, bốn chánh cần là đã được tu tập, là đã được tu tập tốt đẹp. …(nt)… bốn nền tảng của thần thông là đã được tu tập, là đã được tu tập tốt đẹp. …(nt)… năm quyền là đã được tu tập, là đã được tu tập tốt đẹp. …(nt)… năm lực là đã được tu tập, là đã được tu tập tốt đẹp. …(nt)… bảy chi phần đưa đến giác ngộ là đã được tu tập, là đã được tu tập tốt đẹp. …(nt)… Thánh Đạo tám chi phần là đã được tu tập, là đã được tu tập tốt đẹp. Sự việc đối với vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận, Thánh Đạo tám chi phần là đã được tu tập, là đã được tu tập tốt đẹp; điều này cũng là lực của vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận. Sau khi đạt đến lực ấy, vị tỳ khưu là bậc Lậu Tận nhận biết sự đoạn tận của các lậu hoặc rằng: ‘Các lậu hoặc của ta đã cạn kiệt.’ Đây là mười lực của bậc Lậu Tận.
Mười lực của thần thông là gì? Thần thông do chú nguyện, thần thông do biến hóa, thần thông do ý tạo thành, thần thông do sự can thiệp của trí, thần thông do sự can thiệp của định, thần thông thuộc về bậc Thánh, thần thông sanh lên do kết quả của nghiệp, thần thông của người có phước báu, thần thông do sự hiểu biết, thần thông với ý nghĩa thành công do duyên ứng dụng đúng đắn tùy theo trường hợp; đây là mười lực của thần thông.
Mười lực của đức Như Lai là gì? Ở đây, đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể về điều hợp lý là hợp lý và điều phi lý là phi lý. Sự việc đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể về điều hợp lý là hợp lý và điều phi lý là phi lý, điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. Sau khi đạt đến lực ấy, đức Như Lai công bố về tư thế tối thượng, rống lên tiếng rống sư tử ở giữa hội chúng, chuyển vận Pháp Luân tối thượng.
Hơn nữa, đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể kết quả các sự thọ nhận về nghiệp ở thời quá khứ hiện tại vị lai tùy theo sự kiện, tùy theo chủng tử. Sự việc đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể kết quả các sự thọ nhận về nghiệp ở thời quá khứ hiện tại vị lai tùy theo sự kiện, tùy theo chủng tử, điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. Sau khi đạt đến lực ấy, đức Như Lai công bố về tư thế tối thượng, rống lên tiếng rống sư tử ở giữa hội chúng, chuyển vận Pháp Luân tối thượng.
Hơn nữa, đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể sự thực hành đưa đến tất cả các cõi tái sanh. Sự việc đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể sự thực hành đưa đến tất cả các cõi tái sanh, điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. Sau khi đạt đến lực ấy, đức Như Lai công bố về tư thế tối thượng, rống lên tiếng rống sư tử ở giữa hội chúng, chuyển vận Pháp Luân tối thượng.
Hơn nữa, đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể thế giới có vô số bản chất và có các bản chất khác biệt. Sự việc đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể thế giới có vô số bản chất và có các bản chất khác biệt, điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. …(như trên)… chuyển vận Pháp Luân tối thượng.
Hơn nữa, đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể về khuynh hướng khác biệt của các chúng sanh. Sự việc đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể về khuynh hướng khác biệt của các chúng sanh, điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. …(như trên)… chuyển vận Pháp Luân tối thượng.
Hơn nữa, đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể khả năng về các quyền của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác. Sự việc đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể khả năng về các quyền của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác, điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. …(như trên)… chuyển vận Pháp Luân tối thượng.
Hơn nữa, đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể về phiền não, sự thanh lọc, sự thoát ra của thiền, của giải thoát, của định, và của sự chứng đạt. Sự việc đức Như Lai nhận biết đúng theo thực thể về phiền não, sự thanh lọc, sự thoát ra của thiền, của giải thoát, của định, và của sự chứng đạt, điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. …(như trên)… chuyển vận Pháp Luân tối thượng.
Hơn nữa, đức Như Lai nhớ về nhiều kiếp sống trước như là một lần sanh, hai lần sanh …(như trên)…; như thế Ngài nhớ lại nhiều kiếp sống trước với các nét cá biệt và đại cương. Sự việc đức Như Lai nhớ về nhiều kiếp sống trước như là một lần sanh, hai lần sanh …(như trên)… điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. …(như trên)… chuyển vận Pháp Luân tối thượng.
Hơn nữa, đức Như Lai, bằng thiên nhãn thuần tịnh vượt trội loài người, nhìn thấy chúng sanh trong khi chết đi rồi sanh lại …(như trên)… Sự việc đức Như Lai, bằng thiên nhãn thuần tịnh vượt trội loài người, nhìn thấy chúng sanh trong khi chết đi rồi sanh lại …(như trên)… điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. …(như trên)… chuyển vận Pháp Luân tối thượng.
Hơn nữa, đức Như Lai, do sự đoạn tận của các lậu hoặc ngay trong kiếp hiện tại, sau khi tác chứng sự không còn lậu hoặc, sự giải thoát của ý, sự giải thoát của tuệ bằng thắng trí của tự thân, đã thể nhập và an trú. Sự việc đức Như Lai, do sự đoạn tận của các lậu hoặc ngay trong kiếp hiện tại, sau khi tác chứng sự không còn lậu hoặc, sự giải thoát của ý, sự giải thoát của tuệ bằng thắng trí của tự thân, đã thể nhập và an trú, điều này cũng là Như Lai lực của đức Như Lai. Sau khi đạt đến lực ấy, đức Như Lai công bố về tư thế tối thượng, rống lên tiếng rống sư tử ở giữa hội chúng, chuyển vận Pháp Luân tối thượng.
Tín lực với ý nghĩa gì? Tấn lực với ý nghĩa gì? Niệm lực với ý nghĩa gì? Định lực với ý nghĩa gì? Tuệ lực với ý nghĩa gì? Lực của sự hổ thẹn (tội lỗi) với ý nghĩa gì? Lực của sự ghê sợ (tội lỗi) với ý nghĩa gì? Lực của sự phân biệt rõ với ý nghĩa gì? …(như trên)… Lực của đức Như Lai với ý nghĩa gì?
Với ý nghĩa của sự không dao động ở sự không có đức tin là tín lực. Với ý nghĩa của sự không dao động ở sự biếng nhác là tấn lực. Với ý nghĩa của sự không dao động ở sự buông lung là niệm lực. Với ý nghĩa của sự không dao động ở sự phóng dật là định lực. Với ý nghĩa của sự không dao động ở vô minh. là tuệ lực. ‘Hổ thẹn về các ác bất thiện pháp’ là lực của sự hổ thẹn (tội lỗi). ‘Ghê sợ về các ác bất thiện pháp’ là lực của sự ghê sợ (tội lỗi). ‘Phân biệt rõ các phiền não bằng trí’ là lực của sự phân biệt rõ. ‘Các pháp sanh lên trong trường hợp ấy là có nhất vị’ là lực của sự tu tập. ‘Không có gì sai trái ở điều ấy’ là lực của sự không sai trái. ‘Do điều ấy, (hành giả) củng cố lại tâm’ là lực của sự củng cố. ‘(Hành giả) chấp nhận điều ấy’ là lực của sự nhẫn nại. ‘Do điều ấy, (hành giả) chuẩn bị tâm’ là lực của sự chuẩn bị. ‘Do điều ấy, (hành giả) khiến tâm được thuyết phục’ là lực của sự thuyết phục. ‘Do điều ấy, (hành giả) chuyển tâm thành ưu thế’ là lực của sự thống lãnh. ‘Do điều ấy, (hành giả) khẳng định tâm’ là lực của sự khẳng định. ‘Do điều ấy, tâm được chuyên nhất’ là lực của chỉ tịnh. ‘(Hành giả) quán xét các pháp sanh lên trong trường hợp ấy’ là lực của minh sát. ‘(Hành giả) học tập ở điều ấy’ là lực của bậc Hữu Học. ‘Do trạng thái đã học tập xong ở điều ấy’ là lực của bậc Vô Học. ‘Do điều ấy, các lậu hoặc được cạn kiệt’ là lực của bậc Lậu Tận. ‘Được thành công cho vị ấy’ là lực của thần thông. Với ý nghĩa vô lượng là lực của đức Như Lai.
Phần Giảng về Lực được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Katamaṃ saddhābalaṃ? Assaddhiye na kampatīti – saddhābalaṃ. Sahajātānaṃ dhammānaṃ upatthambhanaṭṭhena saddhābalaṃ, kilesānaṃ pariyādānaṭṭhena saddhābalaṃ, paṭivedhādivisodhanaṭṭhena saddhābalaṃ, cittassa adhiṭṭhānaṭṭhena saddhābalaṃ, cittassa vodānaṭṭhena saddhābalaṃ, visesādhigamaṭṭhena saddhābalaṃ, uttari paṭivedhaṭṭhena saddhābalaṃ, saccābhisamayaṭṭhena saddhābalaṃ, nirodhe patiṭṭhāpakaṭṭhena saddhābalaṃ. Idaṃ saddhābalaṃ.
What is the power of faith? It is not shaken by faithlessness—this is the power of faith. Faith is a power in the sense of supporting co-arisen states; faith is a power in the sense of consuming defilements; faith is a power in the sense of purifying through penetration and so forth; faith is a power in the sense of being a foundation for the mind; faith is a power in the sense of purifying the mind; faith is a power in the sense of attaining distinction; faith is a power in the sense of further penetration; faith is a power in the sense of realizing the truths; faith is a power in the sense of establishing one in cessation. This is the power of faith.
Thế nào là tín lực? Không bị lay động bởi sự vô tín, nên gọi là tín lực. Tín lực có nghĩa là nâng đỡ các pháp đồng sanh; tín lực có nghĩa là đoạn trừ các phiền não; tín lực có nghĩa là thanh lọc sự chứng ngộ và các pháp khác; tín lực có nghĩa là nền tảng của tâm; tín lực có nghĩa là làm cho tâm trong sạch; tín lực có nghĩa là chứng đắc các pháp thù thắng; tín lực có nghĩa là thấu triệt các pháp cao hơn; tín lực có nghĩa là liễu tri các chân lý; tín lực có nghĩa là thiết lập trong sự đoạn diệt. Đây là tín lực.
Katamaṃ vīriyabalaṃ? Kosajje na kampatīti – vīriyabalaṃ. Sahajātānaṃ dhammānaṃ upatthambhanaṭṭhena vīriyabalaṃ, kilesānaṃ pariyādānaṭṭhena vīriyabalaṃ, paṭivedhādivisodhanaṭṭhena vīriyabalaṃ, cittassa adhiṭṭhānaṭṭhena vīriyabalaṃ, cittassa vodānaṭṭhena vīriyabalaṃ, visesādhigamaṭṭhena vīriyabalaṃ, uttari paṭivedhaṭṭhena vīriyabalaṃ, saccābhisamayaṭṭhena vīriyabalaṃ, nirodhe patiṭṭhāpakaṭṭhena vīriyabalaṃ. Idaṃ vīriyabalaṃ.
What is the power of energy? It is not shaken by laziness—this is the power of energy. Energy is a power in the sense of supporting co-arisen states; energy is a power in the sense of consuming defilements; energy is a power in the sense of purifying through penetration and so forth; energy is a power in the sense of being a foundation for the mind; energy is a power in the sense of purifying the mind; energy is a power in the sense of attaining distinction; energy is a power in the sense of further penetration; energy is a power in the sense of realizing the truths; energy is a power in the sense of establishing one in cessation. This is the power of energy.
Thế nào là tấn lực? Không bị lay động bởi sự lười biếng, nên gọi là tấn lực. Tấn lực có nghĩa là nâng đỡ các pháp đồng sanh; tấn lực có nghĩa là đoạn trừ các phiền não; tấn lực có nghĩa là thanh lọc sự chứng ngộ và các pháp khác; tấn lực có nghĩa là nền tảng của tâm; tấn lực có nghĩa là làm cho tâm trong sạch; tấn lực có nghĩa là chứng đắc các pháp thù thắng; tấn lực có nghĩa là thấu triệt các pháp cao hơn; tấn lực có nghĩa là liễu tri các chân lý; tấn lực có nghĩa là thiết lập trong sự đoạn diệt. Đây là tấn lực.
Katamaṃ satibalaṃ? Pamāde na kampatīti – satibalaṃ. Sahajātānaṃ dhammānaṃ upatthambhanaṭṭhena satibalaṃ…pe… nirodhe patiṭṭhāpakaṭṭhena satibalaṃ. Idaṃ satibalaṃ.
What is the power of mindfulness? Because it is not shaken by heedlessness, it is the power of mindfulness. It is the power of mindfulness in the sense of supporting co-arisen states... It is the power of mindfulness in the sense of establishing in cessation. This is the power of mindfulness.
Thế nào là niệm lực? Không bị lay động bởi sự phóng dật, nên gọi là niệm lực. Niệm lực có nghĩa là nâng đỡ các pháp đồng sanh... cho đến... niệm lực có nghĩa là thiết lập trong sự đoạn diệt. Đây là niệm lực.
Katamaṃ samādhibalaṃ? Uddhacce na kampatīti – samādhibalaṃ. Sahajātānaṃ dhammānaṃ upatthambhanaṭṭhena samādhibalaṃ…pe… nirodhe patiṭṭhāpakaṭṭhena samādhibalaṃ. Idaṃ samādhibalaṃ.
What is the power of concentration? Because it is not shaken by restlessness, it is the power of concentration. It is the power of concentration in the sense of supporting co-arisen states... It is the power of concentration in the sense of establishing in cessation. This is the power of concentration.
Thế nào là định lực? Không bị lay động bởi sự trạo cử, nên gọi là định lực. Định lực có nghĩa là nâng đỡ các pháp đồng sanh... cho đến... định lực có nghĩa là thiết lập trong sự đoạn diệt. Đây là định lực.
Katamaṃ paññābalaṃ? Avijjāya na kampatīti – paññābalaṃ. Sahajātānaṃ dhammānaṃ upatthambhanaṭṭhena paññābalaṃ…pe… nirodhe patiṭṭhāpakaṭṭhena paññābalaṃ. Idaṃ paññābalaṃ.
What is the power of wisdom? Because it is not shaken by ignorance, it is the power of wisdom. It is the power of wisdom in the sense of supporting co-arisen states... It is the power of wisdom in the sense of establishing in cessation. This is the power of wisdom.
Thế nào là tuệ lực? Do không bị dao động bởi vô minh nên gọi là tuệ lực. Do có ý nghĩa nâng đỡ các pháp đồng sanh nên gọi là tuệ lực... cho đến... do có ý nghĩa thiết lập trong sự diệt nên gọi là tuệ lực. Đây là tuệ lực.
Katamaṃ hiribalaṃ? Nekkhammena kāmacchandaṃ hirīyatīti † – hiribalaṃ. Abyāpādena byāpādaṃ hirīyatīti – hiribalaṃ. Ālokasaññāya thinamiddhaṃ hirīyatīti – hiribalaṃ. Avikkhepena uddhaccaṃ hirīyatīti – hiribalaṃ. Dhammavavatthānena vicikicchaṃ hirīyatīti – hiribalaṃ. Ñāṇena avijjaṃ hirīyatīti – hiribalaṃ. Pāmojjena aratiṃ hirīyatīti – hiribalaṃ. Paṭhamena jhānena nīvaraṇe hirīyatīti – hiribalaṃ…pe… arahattamaggena sabbakilese hirīyatīti – hiribalaṃ. Idaṃ hiribalaṃ.
What is the power of moral shame? Because one is ashamed of sensual desire through renunciation, it is the power of moral shame. Because one is ashamed of ill will through non-ill will, it is the power of moral shame. Because one is ashamed of sloth and torpor through the perception of light, it is the power of moral shame. Because one is ashamed of restlessness through non-distraction, it is the power of moral shame. Because one is ashamed of doubt through the discernment of phenomena, it is the power of moral shame. Because one is ashamed of ignorance through knowledge, it is the power of moral shame. Because one is ashamed of discontent through joy, it is the power of moral shame. Because one is ashamed of the hindrances through the first jhāna, it is the power of moral shame... Because one is ashamed of all defilements through the path of arahantship, it is the power of moral shame. This is the power of moral shame.
Thế nào là tàm lực? Do hổ thẹn về dục tham bởi sự xuất ly nên gọi là tàm lực. Do hổ thẹn về sân bởi vô sân nên gọi là tàm lực. Do hổ thẹn về hôn trầm thụy miên bởi quang tưởng nên gọi là tàm lực. Do hổ thẹn về trạo cử bởi sự không phóng dật nên gọi là tàm lực. Do hổ thẹn về hoài nghi bởi sự xác định pháp nên gọi là tàm lực. Do hổ thẹn về vô minh bởi trí tuệ nên gọi là tàm lực. Do hổ thẹn về sự không hoan hỷ bởi sự hân hoan nên gọi là tàm lực. Do hổ thẹn về các triền cái bởi thiền thứ nhất nên gọi là tàm lực... cho đến... do hổ thẹn về tất cả phiền não bởi Thánh đạo A-la-hán nên gọi là tàm lực. Đây là tàm lực.
Katamaṃ ottappabalaṃ? Nekkhammena kāmacchandaṃ ottappatīti – ottappabalaṃ. Abyāpādena byāpādaṃ ottappatīti – ottappabalaṃ. Ālokasaññāya thinamiddhaṃ ottappatīti – ottappabalaṃ. Avikkhepena uddhaccaṃ ottappatīti – ottappabalaṃ. Dhammavavatthānena vicikicchaṃ ottappatīti – ottappabalaṃ. Ñāṇena avijjaṃ ottappatīti – ottappabalaṃ. Pāmojjena aratiṃ ottappatīti – ottappabalaṃ. Paṭhamena jhānena nīvaraṇe ottappatīti – ottappabalaṃ…pe… arahattamaggena sabbakilese ottappatīti – ottappabalaṃ. Idaṃ ottappabalaṃ.
What is the power of moral dread? Because one dreads sensual desire through renunciation, it is the power of moral dread. Because one dreads ill will through non-ill will, it is the power of moral dread. Because one dreads sloth and torpor through the perception of light, it is the power of moral dread. Because one dreads restlessness through non-distraction, it is the power of moral dread. Because one dreads doubt through the discernment of phenomena, it is the power of moral dread. Because one dreads ignorance through knowledge, it is the power of moral dread. Because one dreads discontent through joy, it is the power of moral dread. Because one dreads the hindrances through the first jhāna, it is the power of moral dread... Because one dreads all defilements through the path of arahantship, it is the power of moral dread. This is the power of moral dread.
Thế nào là quý lực? Do ghê sợ dục tham bởi sự xuất ly nên gọi là quý lực. Do ghê sợ sân bởi vô sân nên gọi là quý lực. Do ghê sợ hôn trầm thụy miên bởi quang tưởng nên gọi là quý lực. Do ghê sợ trạo cử bởi sự không phóng dật nên gọi là quý lực. Do ghê sợ hoài nghi bởi sự xác định pháp nên gọi là quý lực. Do ghê sợ vô minh bởi trí tuệ nên gọi là quý lực. Do ghê sợ sự không hoan hỷ bởi sự hân hoan nên gọi là quý lực. Do ghê sợ các triền cái bởi thiền thứ nhất nên gọi là quý lực... cho đến... do ghê sợ tất cả phiền não bởi Thánh đạo A-la-hán nên gọi là quý lực. Đây là quý lực.
Katamaṃ paṭisaṅkhānabalaṃ? Nekkhammena kāmacchandaṃ paṭisaṅkhātīti – paṭisaṅkhānabalaṃ. Abyāpādena byāpādaṃ paṭisaṅkhātīti – paṭisaṅkhānabalaṃ. Ālokasaññāya thinamiddhaṃ paṭisaṅkhātīti – paṭisaṅkhānabalaṃ. Avikkhepena uddhaccaṃ paṭisaṅkhātīti – paṭisaṅkhānabalaṃ. Dhammavavatthānena vicikicchaṃ paṭisaṅkhātīti – paṭisaṅkhānabalaṃ. Ñāṇena avijjaṃ paṭisaṅkhātīti – paṭisaṅkhānabalaṃ. Pāmojjena aratiṃ paṭisaṅkhātīti – paṭisaṅkhānabalaṃ. Paṭhamena jhānena nīvaraṇe paṭisaṅkhātīti – paṭisaṅkhānabalaṃ…pe… arahattamaggena sabbakilese paṭisaṅkhātīti – paṭisaṅkhānabalaṃ. Idaṃ paṭisaṅkhānabalaṃ.
What is the power of reflection? One reflects on sensual desire by means of jhāna—this is the power of reflection. One reflects on ill-will by means of non-ill-will—this is the power of reflection. One reflects on sloth and torpor by means of the perception of light—this is the power of reflection. One reflects on restlessness by means of non-distraction—this is the power of reflection. One reflects on doubt by means of the discernment of phenomena—this is the power of reflection. One reflects on ignorance by means of knowledge—this is the power of reflection. One reflects on discontent by means of joy—this is the power of reflection. One reflects on the hindrances by means of the first jhāna—this is the power of reflection… One reflects on all defilements by means of the path of arahantship—this is the power of reflection. This is the power of reflection.
Thế nào là thẩm sát lực? Do thẩm sát dục tham bởi sự xuất ly nên gọi là thẩm sát lực. Do thẩm sát sân bởi vô sân nên gọi là thẩm sát lực. Do thẩm sát hôn trầm thụy miên bởi quang tưởng nên gọi là thẩm sát lực. Do thẩm sát trạo cử bởi sự không phóng dật nên gọi là thẩm sát lực. Do thẩm sát hoài nghi bởi sự xác định pháp nên gọi là thẩm sát lực. Do thẩm sát vô minh bởi trí tuệ nên gọi là thẩm sát lực. Do thẩm sát sự không hoan hỷ bởi sự hân hoan nên gọi là thẩm sát lực. Do thẩm sát các triền cái bởi thiền thứ nhất nên gọi là thẩm sát lực... cho đến... do thẩm sát tất cả phiền não bởi Thánh đạo A-la-hán nên gọi là thẩm sát lực. Đây là thẩm sát lực.
Katamaṃ bhāvanābalaṃ? Kāmacchandaṃ pajahanto nekkhammaṃ bhāvetīti – bhāvanābalaṃ. Byāpādaṃ pajahanto abyāpādaṃ bhāvetīti – bhāvanābalaṃ. Thinamiddhaṃ pajahanto ālokasaññaṃ bhāvetīti – bhāvanābalaṃ. Uddhaccaṃ pajahanto avikkhepaṃ bhāvetīti – bhāvanābalaṃ. Vicikicchaṃ pajahanto dhammavavatthānaṃ bhāvetīti – bhāvanābalaṃ. Avijjaṃ pajahanto ñāṇaṃ bhāvetīti – bhāvanābalaṃ. Aratiṃ pajahanto pāmojjaṃ bhāvetīti – bhāvanābalaṃ. Nīvaraṇe pajahanto paṭhamaṃ jhānaṃ bhāvetīti – bhāvanābalaṃ…pe… sabbakilese pajahanto arahattamaggaṃ bhāvetīti – bhāvanābalaṃ. Idaṃ bhāvanābalaṃ.
What is the power of development? Abandoning sensual desire, one cultivates jhāna—this is the power of development. Abandoning ill-will, one cultivates non-ill-will—this is the power of development. Abandoning sloth and torpor, one cultivates the perception of light—this is the power of development. Abandoning restlessness, one cultivates non-distraction—this is the power of development. Abandoning doubt, one cultivates the discernment of phenomena—this is the power of development. Abandoning ignorance, one cultivates knowledge—this is the power of development. Abandoning discontent, one cultivates joy—this is the power of development. Abandoning the hindrances, one cultivates the first jhāna—this is the power of development… Abandoning all defilements, one cultivates the path of arahantship—this is the power of development. This is the power of development.
Thế nào là tu tập lực? Do từ bỏ dục tham và tu tập sự xuất ly nên gọi là tu tập lực. Do từ bỏ sân và tu tập vô sân nên gọi là tu tập lực. Do từ bỏ hôn trầm thụy miên và tu tập quang tưởng nên gọi là tu tập lực. Do từ bỏ trạo cử và tu tập sự không phóng dật nên gọi là tu tập lực. Do từ bỏ hoài nghi và tu tập sự xác định pháp nên gọi là tu tập lực. Do từ bỏ vô minh và tu tập trí tuệ nên gọi là tu tập lực. Do từ bỏ sự không hoan hỷ và tu tập sự hân hoan nên gọi là tu tập lực. Do từ bỏ các triền cái và tu tập thiền thứ nhất nên gọi là tu tập lực... cho đến... do từ bỏ tất cả phiền não và tu tập Thánh đạo A-la-hán nên gọi là tu tập lực. Đây là tu tập lực.
Katamaṃ anavajjabalaṃ? Kāmacchandassa pahīnattā nekkhamme natthi kiñci vajjanti – anavajjabalaṃ. Byāpādassa pahīnattā abyāpāde natthi kiñci vajjanti – anavajjabalaṃ. Thinamiddhassa pahīnattā ālokasaññāya natthi kiñci vajjanti – anavajjabalaṃ. Uddhaccassa pahīnattā avikkhepe natthi kiñci vajjanti – anavajjabalaṃ. Vicikicchāya pahīnattā dhammavavatthāne natthi kiñci vajjanti – anavajjabalaṃ. Avijjāya pahīnattā ñāṇe natthi kiñci vajjanti – anavajjabalaṃ. Aratiyā pahīnattā pāmojje natthi kiñci vajjanti anavajjabalaṃ. Nīvaraṇānaṃ pahīnattā paṭhamajjhāne natthi kiñci vajjanti – anavajjabalaṃ…pe… sabbakilesānaṃ pahīnattā arahattamagge natthi kiñci vajjanti – anavajjabalaṃ. Idaṃ anavajjabalaṃ.
What is the power of blamelessness? Because sensual desire is abandoned, there is nothing blameworthy in jhāna—this is the power of blamelessness. Because ill will is abandoned, there is nothing blameworthy in non-ill will—this is the power of blamelessness. Because sloth and torpor are abandoned, there is nothing blameworthy in the perception of light—this is the power of blamelessness. Because restlessness is abandoned, there is nothing blameworthy in non-distraction—this is the power of blamelessness. Because doubt is abandoned, there is nothing blameworthy in the discrimination of phenomena—this is the power of blamelessness. Because ignorance is abandoned, there is nothing blameworthy in knowledge—this is the power of blamelessness. Because discontent is abandoned, there is nothing blameworthy in gladness—this is the power of blamelessness. Because the hindrances are abandoned, there is nothing blameworthy in the first jhāna—this is the power of blamelessness… Because all defilements are abandoned, there is nothing blameworthy in the path of arahantship—this is the power of blamelessness. This is the power of blamelessness.
Thế nào là vô tội lực? Do dục tham đã được từ bỏ nên không có tội lỗi nào trong sự xuất ly, vì vậy gọi là vô tội lực. Do sân đã được từ bỏ nên không có tội lỗi nào trong vô sân, vì vậy gọi là vô tội lực. Do hôn trầm thụy miên đã được từ bỏ nên không có tội lỗi nào trong quang tưởng, vì vậy gọi là vô tội lực. Do trạo cử đã được từ bỏ nên không có tội lỗi nào trong sự không phóng dật, vì vậy gọi là vô tội lực. Do hoài nghi đã được từ bỏ nên không có tội lỗi nào trong sự xác định pháp, vì vậy gọi là vô tội lực. Do vô minh đã được từ bỏ nên không có tội lỗi nào trong trí tuệ, vì vậy gọi là vô tội lực. Do sự không hoan hỷ đã được từ bỏ nên không có tội lỗi nào trong sự hân hoan, vì vậy gọi là vô tội lực. Do các triền cái đã được từ bỏ nên không có tội lỗi nào trong thiền thứ nhất, vì vậy gọi là vô tội lực... cho đến... do tất cả phiền não đã được từ bỏ nên không có tội lỗi nào trong Thánh đạo A-la-hán, vì vậy gọi là vô tội lực. Đây là vô tội lực.
Katamaṃ saṅgahabalaṃ? Kāmacchandaṃ pajahanto nekkhammavasena cittaṃ saṅgaṇhātīti – saṅgahabalaṃ. Byāpādaṃ pajahanto abyāpādavasena cittaṃ saṅgaṇhātīti – saṅgahabalaṃ. Thinamiddhaṃ pajahanto ālokasaññāvasena cittaṃ saṅgaṇhātīti – saṅgahabalaṃ…pe… sabbakilese pajahanto arahattamaggavasena cittaṃ saṅgaṇhātīti – saṅgahabalaṃ. Idaṃ saṅgahabalaṃ.
What is the power of supporting? Abandoning sensual desire, one supports the mind by means of jhāna—this is the power of supporting. Abandoning ill will, one supports the mind by means of non-ill will—this is the power of supporting. Abandoning sloth and torpor, one supports the mind by means of the perception of light—this is the power of supporting… Abandoning all defilements, one supports the mind by means of the path of arahantship—this is the power of supporting. This is the power of supporting.
Thế nào là nhiếp trì lực? Do từ bỏ dục tham và nhiếp trì tâm bằng phương tiện xuất ly nên gọi là nhiếp trì lực. Do từ bỏ sân và nhiếp trì tâm bằng phương tiện vô sân nên gọi là nhiếp trì lực. Do từ bỏ hôn trầm thụy miên và nhiếp trì tâm bằng phương tiện quang tưởng nên gọi là nhiếp trì lực... cho đến... do từ bỏ tất cả phiền não và nhiếp trì tâm bằng phương tiện Thánh đạo A-la-hán nên gọi là nhiếp trì lực. Đây là nhiếp trì lực.
Katamaṃ khantibalaṃ? Kāmacchandassa pahīnattā nekkhammaṃ khamatīti – khantibalaṃ. Byāpādassa pahīnattā abyāpādo khamatīti – khantibalaṃ. Thinamiddhassa pahīnattā ālokasaññā khamatīti – khantibalaṃ. Uddhaccassa pahīnattā avikkhepo khamatīti – khantibalaṃ. Vicikicchāya pahīnattā dhammavavatthānaṃ khamatīti – khantibalaṃ. Avijjāya pahīnattā ñāṇaṃ khamatīti – khantibalaṃ. Aratiyā pahīnattā pāmojjaṃ khamatīti – khantibalaṃ. Nīvaraṇānaṃ pahīnattā paṭhamaṃ jhānaṃ khamatīti – khantibalaṃ…pe… sabbakilesānaṃ pahīnattā arahattamaggo khamatīti – khantibalaṃ. Idaṃ khantibalaṃ.
What is the power of approval? Because sensual desire has been abandoned, one approves of renunciation—this is the power of approval. Because ill will has been abandoned, one approves of non-ill will—this is the power of approval. Because sloth and torpor have been abandoned, one approves of the perception of light—this is the power of approval. Because restlessness has been abandoned, one approves of non-distraction—this is the power of approval. Because doubt has been abandoned, one approves of the analysis of phenomena—this is the power of approval. Because ignorance has been abandoned, one approves of knowledge—this is the power of approval. Because discontent has been abandoned, one approves of gladness—this is the power of approval. Because the hindrances have been abandoned, one approves of the first jhāna—this is the power of approval... Because all defilements have been abandoned, one approves of the path to arahantship—this is the power of approval. This is the power of approval.
Thế nào là nhẫn lực? Do dục tham đã được từ bỏ nên kham nhẫn sự xuất ly, vì vậy gọi là nhẫn lực. Do sân đã được từ bỏ nên kham nhẫn vô sân, vì vậy gọi là nhẫn lực. Do hôn trầm thụy miên đã được từ bỏ nên kham nhẫn quang tưởng, vì vậy gọi là nhẫn lực. Do trạo cử đã được từ bỏ nên kham nhẫn sự không phóng dật, vì vậy gọi là nhẫn lực. Do hoài nghi đã được từ bỏ nên kham nhẫn sự xác định pháp, vì vậy gọi là nhẫn lực. Do vô minh đã được từ bỏ nên kham nhẫn trí tuệ, vì vậy gọi là nhẫn lực. Do sự không hoan hỷ đã được từ bỏ nên kham nhẫn sự hân hoan, vì vậy gọi là nhẫn lực. Do các triền cái đã được từ bỏ nên kham nhẫn thiền thứ nhất, vì vậy gọi là nhẫn lực... cho đến... do tất cả phiền não đã được từ bỏ nên kham nhẫn Thánh đạo A-la-hán, vì vậy gọi là nhẫn lực. Đây là nhẫn lực.
Katamaṃ paññattibalaṃ? Kāmacchandaṃ pajahanto nekkhammavasena cittaṃ paññapetīti – paññattibalaṃ. Byāpādaṃ pajahanto abyāpādavasena cittaṃ paññapetīti – paññattibalaṃ. Thinamiddhaṃ pajahanto ālokasaññāvasena cittaṃ paññapetīti – paññattibalaṃ…pe… sabbakilese pajahanto arahattamaggavasena cittaṃ paññapetīti – paññattibalaṃ. Idaṃ paññattibalaṃ.
What is the power of designation? Abandoning sensual desire, one makes the mind understand by means of renunciation—this is the power of designation. Abandoning ill will, one makes the mind understand by means of non-ill will—this is the power of designation. Abandoning sloth and torpor, one makes the mind understand by means of the perception of light—this is the power of designation... Abandoning all defilements, one makes the mind understand by means of the path of arahantship—this is the power of designation. This is the power of designation.
Thế nào là chế định lực? Do từ bỏ dục tham, vị ấy làm cho tâm được biết đến bằng năng lực của sự xuất ly, vì vậy gọi là chế định lực. Do từ bỏ sân, vị ấy làm cho tâm được biết đến bằng năng lực của vô sân, vì vậy gọi là chế định lực. Do từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy làm cho tâm được biết đến bằng năng lực của tưởng về ánh sáng, vì vậy gọi là chế định lực... cho đến... Do từ bỏ tất cả phiền não, vị ấy làm cho tâm được biết đến bằng năng lực của A-la-hán đạo, vì vậy gọi là chế định lực. Đây là chế định lực.
Katamaṃ nijjhattibalaṃ? Kāmacchandaṃ pajahanto nekkhammavasena cittaṃ nijjhāpetīti – nijjhattibalaṃ. Byāpādaṃ pajahanto abyāpādavasena cittaṃ nijjhāpetīti – nijjhattibalaṃ. Thinamiddhaṃ pajahanto ālokasaññāvasena cittaṃ nijjhāpetīti – nijjhattibalaṃ…pe… sabbakilese pajahanto arahattamaggavasena cittaṃ nijjhāpetīti – nijjhattibalaṃ. Idaṃ nijjhattibalaṃ.
What is the power of reflection? Abandoning sensual desire, one causes the mind to reflect by means of renunciation—this is the power of reflection. Abandoning ill will, one causes the mind to reflect by means of non-ill will—this is the power of reflection. Abandoning sloth and torpor, one causes the mind to reflect by means of the perception of light—this is the power of reflection... Abandoning all defilements, one causes the mind to reflect by means of the path of arahantship—this is the power of reflection. This is the power of reflection.
Thế nào là thiêu đốt lực? Do từ bỏ dục tham, vị ấy thiêu đốt tâm bằng năng lực của sự xuất ly, vì vậy gọi là thiêu đốt lực. Do từ bỏ sân, vị ấy thiêu đốt tâm bằng năng lực của vô sân, vì vậy gọi là thiêu đốt lực. Do từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy thiêu đốt tâm bằng năng lực của tưởng về ánh sáng, vì vậy gọi là thiêu đốt lực... cho đến... Do từ bỏ tất cả phiền não, vị ấy thiêu đốt tâm bằng năng lực của A-la-hán đạo, vì vậy gọi là thiêu đốt lực. Đây là thiêu đốt lực.
Katamaṃ issariyabalaṃ? Kāmacchandaṃ pajahanto nekkhammavasena cittaṃ vasaṃ vattetīti – issariyabalaṃ. Byāpādaṃ pajahanto abyāpādavasena cittaṃ vasaṃ vattetīti – issariyabalaṃ. Thinamiddhaṃ pajahanto ālokasaññāvasena cittaṃ vasaṃ vattetīti – issariyabalaṃ…pe… sabbakilese pajahanto arahattamaggavasena cittaṃ vasaṃ vattetīti – issariyabalaṃ. Idaṃ issariyabalaṃ.
What is the power of sovereignty? Abandoning sensual desire, one controls the mind by the power of jhāna—this is the power of sovereignty. Abandoning ill will, one controls the mind by the power of non-ill will—this is the power of sovereignty. Abandoning sloth and torpor, one controls the mind by the power of the perception of light—this is the power of sovereignty… Abandoning all defilements, one controls the mind by the power of the path of arahantship—this is the power of sovereignty. This is the power of sovereignty.
Thế nào là chủ quyền lực? Do từ bỏ dục tham, vị ấy làm cho tâm thuận theo ý muốn bằng năng lực của sự xuất ly, vì vậy gọi là chủ quyền lực. Do từ bỏ sân, vị ấy làm cho tâm thuận theo ý muốn bằng năng lực của vô sân, vì vậy gọi là chủ quyền lực. Do từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy làm cho tâm thuận theo ý muốn bằng năng lực của tưởng về ánh sáng, vì vậy gọi là chủ quyền lực... cho đến... Do từ bỏ tất cả phiền não, vị ấy làm cho tâm thuận theo ý muốn bằng năng lực của A-la-hán đạo, vì vậy gọi là chủ quyền lực. Đây là chủ quyền lực.
Katamaṃ adhiṭṭhānabalaṃ? Kāmacchandaṃ pajahanto nekkhammavasena cittaṃ adhiṭṭhātīti – adhiṭṭhānabalaṃ. Byāpādaṃ pajahanto abyāpādavasena cittaṃ adhiṭṭhātīti – adhiṭṭhānabalaṃ. Thinamiddhaṃ pajahanto ālokasaññāvasena cittaṃ adhiṭṭhātīti – adhiṭṭhānabalaṃ…pe… sabbakilese pajahanto arahattamaggavasena cittaṃ adhiṭṭhātīti – adhiṭṭhānabalaṃ. Idaṃ adhiṭṭhānabalaṃ.
What is the power of resolve? Abandoning sensual desire, one resolves the mind through renunciation—this is the power of resolve. Abandoning ill will, one resolves the mind through non-ill will—this is the power of resolve. Abandoning sloth and torpor, one resolves the mind through the perception of light—this is the power of resolve… Abandoning all defilements, one resolves the mind through the path of arahantship—this is the power of resolve. This is the power of resolve.
Thế nào là quyết định lực? Do từ bỏ dục tham, vị ấy quyết định tâm bằng năng lực của sự xuất ly, vì vậy gọi là quyết định lực. Do từ bỏ sân, vị ấy quyết định tâm bằng năng lực của vô sân, vì vậy gọi là quyết định lực. Do từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy quyết định tâm bằng năng lực của tưởng về ánh sáng, vì vậy gọi là quyết định lực... cho đến... Do từ bỏ tất cả phiền não, vị ấy quyết định tâm bằng năng lực của A-la-hán đạo, vì vậy gọi là quyết định lực. Đây là quyết định lực.
Katamaṃ samathabalaṃ? Nekkhammavasena cittassa ekaggatā avikkhepo samathabalaṃ, abyāpādavasena cittassa ekaggatā avikkhepo samathabalaṃ, ālokasaññāvasena cittassa ekaggatā avikkhepo samathabalaṃ…pe… paṭinissaggānupassī assāsavasena cittassa ekaggatā avikkhepo samathabalaṃ, paṭinissaggānupassī passāsavasena cittassa ekaggatā avikkhepo samathabalaṃ.
What is the power of tranquility? The mind's one-pointedness and non-distraction through renunciation is the power of tranquility. The mind's one-pointedness and non-distraction through non-ill will is the power of tranquility. The mind's one-pointedness and non-distraction through the perception of light is the power of tranquility… Contemplating relinquishment, the mind's one-pointedness and non-distraction through the out-breath is the power of tranquility. Contemplating relinquishment, the mind's one-pointedness and non-distraction through the in-breath is the power of tranquility.
Thế nào là chỉ lực? Bằng năng lực của sự xuất ly, sự nhất tâm, không phân tán của tâm là chỉ lực. Bằng năng lực của vô sân, sự nhất tâm, không phân tán của tâm là chỉ lực. Bằng năng lực của tưởng về ánh sáng, sự nhất tâm, không phân tán của tâm là chỉ lực... cho đến... Vị tùy quán sự từ bỏ, bằng năng lực của hơi thở ra, sự nhất tâm, không phân tán của tâm là chỉ lực. Vị tùy quán sự từ bỏ, bằng năng lực của hơi thở vào, sự nhất tâm, không phân tán của tâm là chỉ lực.
Samathabalanti kenaṭṭhena samathabalaṃ? Paṭhamena jhānena nīvaraṇe na kampatīti – samathabalaṃ. Dutiyena jhānena vitakkavicāre na kampatīti – samathabalaṃ. Tatiyena jhānena pītiyā na kampatīti – samathabalaṃ. Catutthena jhānena sukhadukkhe na kampatīti – samathabalaṃ. Ākāsānañcāyatanasamāpattiyā rūpasaññāya paṭighasaññāya nānattasaññāya na kampatīti – samathabalaṃ. Viññāṇañcāyatanasamāpattiyā ākāsānañcāyatanasaññāya na kampatīti – samathabalaṃ. Ākiñcaññāyatanasamāpattiyā viññāṇañcāyatanasaññāya na kampatīti – samathabalaṃ. Nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā ākiñcaññāyatanasaññāya na kampatīti – samathabalaṃ. Uddhacce ca uddhaccasahagatakilese ca khandhe ca na kampatī na calati na vedhatīti – samathabalaṃ. Idaṃ samathabalaṃ.
In what sense is it the power of tranquility? By the first jhāna, one is not shaken by the hindrances—this is the power of tranquility. By the second jhāna, one is not shaken by thought and examination—this is the power of tranquility. By the third jhāna, one is not shaken by rapture—this is the power of tranquility. By the fourth jhāna, one is not shaken by pleasure and pain—this is the power of tranquility. By the attainment of the base of infinite space, one is not shaken by perceptions of form, perceptions of resistance, and perceptions of diversity—this is the power of tranquility. By the attainment of the base of infinite consciousness, one is not shaken by the perception of the base of infinite space—this is the power of tranquility. By the attainment of the base of nothingness, one is not shaken by the perception of the base of infinite consciousness—this is the power of tranquility. By the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception, one is not shaken by the perception of the base of nothingness—this is the power of tranquility. One is not shaken, does not stir, and does not tremble at restlessness, the defilements associated with restlessness, and the aggregates—this is the power of tranquility. This is the power of tranquility.
Do ý nghĩa nào gọi là chỉ lực? Do không bị lay động đối với các triền cái bởi thiền thứ nhất, vì vậy gọi là chỉ lực. Do không bị lay động đối với tầm và tứ bởi thiền thứ hai, vì vậy gọi là chỉ lực. Do không bị lay động đối với hỷ bởi thiền thứ ba, vì vậy gọi là chỉ lực. Do không bị lay động đối với lạc và khổ bởi thiền thứ tư, vì vậy gọi là chỉ lực. Do không bị lay động đối với sắc tưởng, đối ngại tưởng, và các tưởng khác nhau bởi sự chứng đạt Không vô biên xứ, vì vậy gọi là chỉ lực. Do không bị lay động đối với tưởng về Không vô biên xứ bởi sự chứng đạt Thức vô biên xứ, vì vậy gọi là chỉ lực. Do không bị lay động đối với tưởng về Thức vô biên xứ bởi sự chứng đạt Vô sở hữu xứ, vì vậy gọi là chỉ lực. Do không bị lay động đối với tưởng về Vô sở hữu xứ bởi sự chứng đạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ, vì vậy gọi là chỉ lực. Do không bị lay động, không bị dao động, không bị rung chuyển đối với sự trạo cử, các phiền não đi kèm với trạo cử, và các uẩn, vì vậy gọi là chỉ lực. Đây là chỉ lực.
Katamaṃ vipassanābalaṃ? Aniccānupassanā vipassanābalaṃ, dukkhānupassanā vipassanābalaṃ…pe… paṭinissaggānupassanā vipassanābalaṃ, rūpe aniccānupassanā vipassanābalaṃ, rūpe dukkhānupassanā vipassanābalaṃ…pe… rūpe paṭinassaggānupassanā vipassanābalaṃ, vedanāya…pe… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe… cakkhusmiṃ…pe… jarāmaraṇe aniccānupassanā vipassanābalaṃ, jarāmaraṇe dukkhānupassanā vipassanābalaṃ…pe… jarāmaraṇe paṭinissaggānupassanā vipassanābalaṃ. Vipassanābalanti kenaṭṭhena vipassanābalaṃ? Aniccānupassanāya niccasaññāya na kampatīti – vipassanābalaṃ. Dukkhānupassanāya sukhasaññāya na kampatīti – vipassanābalaṃ. Anattānupassanāya attasaññāya kampatīti – vipassanābalaṃ. Nibbidānupassanāya nandiyā na kampatīti – vipassanābalaṃ. Virāgānupassanāya rāge na kampatīti – vipassanābalaṃ. Nirodhānupassanā samudaye na kampatīti – vipassanābalaṃ. Paṭinissaggānupassanāya ādāne na kampatīti – vipassanābalaṃ. Avijjāya avijjāsahagatakilese ca khandhe ca na kampati na calati na vedhatīti – vipassanābalaṃ. Idaṃ vipassanābalaṃ.
What is the power of insight? The contemplation of impermanence is the power of insight. The contemplation of suffering is the power of insight… The contemplation of relinquishment is the power of insight. The contemplation of impermanence in form is the power of insight. The contemplation of suffering in form is the power of insight… The contemplation of relinquishment in form is the power of insight. In feeling… in perception… in formations… in consciousness… in the eye… in aging and death, the contemplation of impermanence is the power of insight. In aging and death, the contemplation of suffering is the power of insight… In aging and death, the contemplation of relinquishment is the power of insight. In what sense is it the power of insight? Because through the contemplation of impermanence one is not shaken by the perception of permanence, it is the power of insight. Because through the contemplation of suffering one is not shaken by the perception of pleasure, it is the power of insight. Because through the contemplation of not-self one is not shaken by the perception of self, it is the power of insight. Because through the contemplation of disenchantment one is not shaken by delight, it is the power of insight. Because through the contemplation of dispassion one is not shaken by lust, it is the power of insight. Because through the contemplation of cessation one is not shaken by arising, it is the power of insight. Because through the contemplation of relinquishment one is not shaken by grasping, it is the power of insight. Because one is not shaken, does not move, and does not tremble in regard to ignorance, and the defilements associated with ignorance, and the aggregates, it is the power of insight. This is the power of insight.
Thế nào là quán lực? Tùy quán vô thường là quán lực, tùy quán khổ là quán lực... cho đến... tùy quán từ bỏ là quán lực. Tùy quán vô thường ở sắc là quán lực, tùy quán khổ ở sắc là quán lực... cho đến... tùy quán từ bỏ ở sắc là quán lực. Ở thọ... cho đến... ở các pháp hữu vi... ở thức... ở mắt... cho đến... ở già-chết, tùy quán vô thường là quán lực, ở già-chết, tùy quán khổ là quán lực... cho đến... ở già-chết, tùy quán từ bỏ là quán lực. Do ý nghĩa nào gọi là quán lực? Do không bị lay động đối với tưởng về thường bởi sự tùy quán vô thường, vì vậy gọi là quán lực. Do không bị lay động đối với tưởng về lạc bởi sự tùy quán khổ, vì vậy gọi là quán lực. Do không bị lay động đối với tưởng về ngã bởi sự tùy quán vô ngã, vì vậy gọi là quán lực. Do không bị lay động đối với sự hoan hỷ bởi sự tùy quán yếm ly, vì vậy gọi là quán lực. Do không bị lay động đối với tham ái bởi sự tùy quán ly tham, vì vậy gọi là quán lực. Do không bị lay động đối với sự tập khởi bởi sự tùy quán đoạn diệt, vì vậy gọi là quán lực. Do không bị lay động đối với sự chấp thủ bởi sự tùy quán từ bỏ, vì vậy gọi là quán lực. Do không bị lay động, không bị dao động, không bị rung chuyển đối với vô minh, các phiền não đi kèm với vô minh, và các uẩn, vì vậy gọi là quán lực. Đây là quán lực.
Katamāni dasa sekhabalāni, dasa asekhabalāni? Sammādiṭṭhiṃ † sikkhatīti – sekhabalaṃ. Tattha sikkhitattā asekhabalaṃ. Sammāsaṅkappaṃ sikkhatīti – sekhabalaṃ. Tattha sikkhitattā – asekhabalaṃ. Sammāvācaṃ…pe… sammākammantaṃ… sammāājīvaṃ… sammāvāyāmaṃ… sammāsatiṃ… sammāsamādhiṃ… sammāñāṇaṃ…pe… sammāvimuttiṃ sikkhatīti – sekhabalaṃ. Tattha sikkhitattā – asekhabalaṃ. Imāni dasa sekhabalāni, dasa asekhabalāni.
What are the ten powers of a learner and the ten powers of an adept? One trains in right view—this is the power of a learner. Because of having been trained in that, it is the power of an adept. One trains in right intention—this is the power of a learner. Because of having been trained in that, it is the power of an adept. One trains in right speech… right action… right livelihood… right effort… right mindfulness… right concentration… right knowledge… right liberation—this is the power of a learner. Because of having been trained in that, it is the power of an adept. These are the ten powers of a learner and the ten powers of an adept.
Thế nào là mười hữu học lực, mười vô học lực? Do đang thực hành chánh kiến, vì vậy gọi là hữu học lực. Ở đó, do đã thực hành xong, gọi là vô học lực. Do đang thực hành chánh tư duy, vì vậy gọi là hữu học lực. Ở đó, do đã thực hành xong, gọi là vô học lực. Do đang thực hành chánh ngữ... cho đến... chánh nghiệp... chánh mạng... chánh tinh tấn... chánh niệm... chánh định... chánh trí... cho đến... Do đang thực hành chánh giải thoát, vì vậy gọi là hữu học lực. Ở đó, do đã thực hành xong, gọi là vô học lực. Đây là mười hữu học lực, mười vô học lực.
Katamāni dasa khīṇāsavabalāni? † Idha khīṇāsavassa bhikkhuno aniccato sabbe saṅkhārā yathābhūtaṃ sammappaññāya sudiṭṭhā honti. Yampi khīṇāsavassa bhikkhuno aniccato sabbe saṅkhārā yathābhūtaṃ sammappaññāya sudiṭṭhā honti, idampi khīṇāsavassa bhikkhuno balaṃ hoti, yaṃ balaṃ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṃ khayaṃ paṭijānāti – ‘‘khīṇā me āsavā’’ti.
What are the ten powers of one whose taints are destroyed? Here, a monk whose taints are destroyed has clearly seen with right wisdom, as it really is, that all formations are impermanent. And because a monk whose taints are destroyed has clearly seen with right wisdom, as it really is, that all formations are impermanent, this is a power of that monk, by virtue of which he declares the destruction of the taints: 'My taints are destroyed.'
Mười năng lực của bậc lậu tận là những gì? Ở đây, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc, do thấy các hành là vô thường, đã khéo thấy rõ tất cả các hành đúng theo thực tính bằng chánh trí tuệ. Việc vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc, do thấy các hành là vô thường, đã khéo thấy rõ tất cả các hành đúng theo thực tính bằng chánh trí tuệ, đây cũng là năng lực của vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc. Nhờ nương vào năng lực này, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc mới tuyên bố sự đoạn tận các lậu hoặc: ‘Các lậu hoặc của ta đã được đoạn tận’.
Puna caparaṃ khīṇāsavassa bhikkhuno aṅgārakāsūpamā kāmā yathābhūtaṃ sammappaññāya sudiṭṭhā honti. Yampi khīṇāsavassa bhikkhuno aṅgārakāsūpamā kāmā yathābhūtaṃ sammappaññāya sudiṭṭhā honti, idampi khīṇāsavassa bhikkhuno balaṃ hoti, yaṃ balaṃ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṃ khayaṃ paṭijānāti – ‘‘khīṇā me āsavā’’ti.
Furthermore, for a monk whose taints are destroyed, sensual pleasures are clearly seen with right wisdom, as they really are—like a pit of glowing embers. And because for a monk whose taints are destroyed, sensual pleasures are clearly seen with right wisdom, as they really are—like a pit of glowing embers, this too is a power of that monk, by virtue of which he declares the destruction of the taints: 'My taints are destroyed.'
Lại nữa, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc đã khéo thấy rõ các dục ví như hố than hừng đúng theo thực tính bằng chánh trí tuệ. Việc vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc đã khéo thấy rõ các dục ví như hố than hừng đúng theo thực tính bằng chánh trí tuệ, đây cũng là năng lực của vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc. Nhờ nương vào năng lực này, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc mới tuyên bố sự đoạn tận các lậu hoặc: ‘Các lậu hoặc của ta đã được đoạn tận’.
Puna caparaṃ khīṇāsavassa bhikkhuno vivekaninnaṃ cittaṃ hoti vivekapoṇaṃ vivekapabbhāraṃ vivekaṭṭhaṃ nekkhammābhirataṃ byantībhūtaṃ † sabbaso āsavaṭṭhāniyehi dhammehi. Yampi khīṇāsavassa bhikkhuno vivekaninnaṃ cittaṃ hoti vivekapoṇaṃ vivekapabbhāraṃ vivekaṭṭhaṃ nekkhammābhirataṃ byantibhūtaṃ sabbaso āsavaṭṭhāniyehi dhammehi, idampi khīṇāsavassa bhikkhuno balaṃ hoti, yaṃ balaṃ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṃ khayaṃ paṭijānāti – ‘‘khīṇā me āsavā’’ti.
Furthermore, the mind of a monk whose taints are destroyed inclines to seclusion, leans to seclusion, tends to seclusion, is set on seclusion, delights in renunciation, and is utterly devoid of all conditions that cause taints. And because the mind of a monk whose taints are destroyed inclines to seclusion, leans to seclusion, tends to seclusion, is set on seclusion, delights in renunciation, and is utterly devoid of all conditions that cause taints, this too is a power of that monk, by virtue of which he declares the destruction of the taints: 'My taints are destroyed.'
Lại nữa, tâm của vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc hướng về sự viễn ly, xuôi về sự viễn ly, nghiêng về sự viễn ly, an trú trong sự viễn ly, ưa thích sự xuất ly, hoàn toàn thoát khỏi các pháp là trú xứ của các lậu hoặc. Việc tâm của vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc hướng về sự viễn ly, xuôi về sự viễn ly, nghiêng về sự viễn ly, an trú trong sự viễn ly, ưa thích sự xuất ly, hoàn toàn thoát khỏi các pháp là trú xứ của các lậu hoặc, đây cũng là năng lực của vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc. Nhờ nương vào năng lực này, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc mới tuyên bố sự đoạn tận các lậu hoặc: ‘Các lậu hoặc của ta đã được đoạn tận’.
Puna caparaṃ khīṇāsavassa bhikkhuno cattāro satipaṭṭhānā bhāvitā honti subhāvitā. Yampi khīṇāsavassa bhikkhuno cattāro satipaṭṭhānā bhāvitā honti subhāvitā, idampi khīṇāsavassa bhikkhuno balaṃ hoti, yaṃ balaṃ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṃ khayaṃ paṭijānāti – ‘‘khīṇā me āsavā’’ti.
Furthermore, for a monk whose taints are destroyed, the four foundations of mindfulness are developed and well developed. And because the four foundations of mindfulness are developed and well developed in a monk whose taints are destroyed, this too is a power of that monk, by virtue of which he declares the destruction of the taints: 'My taints are destroyed.'
Lại nữa, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc đã tu tập, đã khéo tu tập bốn niệm xứ. Việc vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc đã tu tập, đã khéo tu tập bốn niệm xứ, đây cũng là năng lực của vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc. Nhờ nương vào năng lực này, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc mới tuyên bố sự đoạn tận các lậu hoặc: ‘Các lậu hoặc của ta đã được đoạn tận’.
Puna caparaṃ khīṇāsavassa bhikkhuno cattāro sammappadhānā bhāvitā honti subhāvitā…pe… cattāro iddhipādā bhāvitā honti subhāvitā… pañcindriyāni bhāvitāni honti subhāvitāni… pañca balāni bhāvitāni honti subhāvitāni… satta bojjhaṅgā bhāvitā honti subhāvitā…pe… ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvito hoti subhāvito. Yampi khīṇāsavassa bhikkhuno aṭṭhaṅgiko maggo bhāvito hoti subhāvito, idampi khīṇāsavassa bhikkhuno balaṃ hoti, yaṃ balaṃ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṃ khayaṃ paṭijānāti – ‘‘khīṇā me āsavā’’ti. Imāni dasa khīṇāsavabalāni.
Furthermore, for a monk whose taints are destroyed, the four right exertions are developed and well developed… the four bases of spiritual power are developed and well developed… the five faculties are developed and well developed… the five powers are developed and well developed… the seven factors of enlightenment are developed and well developed… the Noble Eightfold Path is developed and well developed. And because the Noble Eightfold Path is developed and well developed in a monk whose taints are destroyed, this too is a power of that monk, by virtue of which he declares the destruction of the taints: "My taints are destroyed." These are the ten powers of one whose taints are destroyed.
Lại nữa, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc đã tu tập, đã khéo tu tập bốn chánh cần... ... bốn như ý túc đã được tu tập, đã được khéo tu tập... năm quyền đã được tu tập, đã được khéo tu tập... năm lực đã được tu tập, đã được khéo tu tập... bảy giác chi đã được tu tập, đã được khéo tu tập... ... Thánh đạo Tám ngành đã được tu tập, đã được khéo tu tập. Việc vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc đã tu tập, đã khéo tu tập Thánh đạo Tám ngành, đây cũng là năng lực của vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc. Nhờ nương vào năng lực này, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc mới tuyên bố sự đoạn tận các lậu hoặc: ‘Các lậu hoặc của ta đã được đoạn tận’. Đây là mười năng lực của bậc lậu tận.
Katamāni dasa iddhibalāni? Adhiṭṭhānā iddhi, vikubbanā iddhi, manomayā iddhi, ñāṇavipphārā iddhi, samādhivipphārā iddhi, ariyā iddhi, kammavipākajā iddhi, puññavato iddhi, vijjāmayā iddhi, tattha tattha sammā payogappaccayā ijjhanaṭṭhena iddhi – imāni dasa iddhibalāni.
What are the ten powers of psychic potency? The psychic potency of determination, the psychic potency of transformation, the psychic potency of mind-made creation, the psychic potency of the pervasion of knowledge, the psychic potency of the pervasion of concentration, the noble psychic potency, the psychic potency born of the result of kamma, the psychic potency of the meritorious, the psychic potency born of knowledge, and the power of success by virtue of right application in each case—these are the ten powers of psychic potency.
Mười năng lực thần thông là những gì? Thần thông do quyết định, thần thông do biến hóa, thần thông do tâm tạo, thần thông do trí tuệ lan tỏa, thần thông do định lan tỏa, thần thông của bậc Thánh, thần thông do quả của nghiệp, thần thông của người có phước, thần thông do minh thuật, thần thông do sự thành tựu nhờ vào sự tinh cần đúng đắn ở các nơi chốn. Đây là mười năng lực thần thông.
Katamāni dasa tathāgatabalāni? Idha tathāgato ṭhānañca ṭhānato aṭṭhānañca aṭṭhānato yathābhūtaṃ pajānāti. Yampi tathāgato ṭhānañca ṭhānato aṭṭhānañca aṭṭhānato yathābhūtaṃ pajānāti, idampi tathāgatassa tathāgatabalaṃ hoti, yaṃ balaṃ āgamma tathāgato āsabhaṃ ṭhānaṃ paṭijānāti parisāsu sīhanādaṃ nadati, brahmacakkaṃ pavatteti.
What are the ten powers of the Tathāgata? Here, the Tathāgata understands as it actually is what is possible as possible and what is impossible as impossible. And because the Tathāgata understands as it actually is what is possible as possible and what is impossible as impossible, this is a power of the Tathāgata, by virtue of which he claims the foremost place, roars his lion’s roar in the assemblies, and sets rolling the wheel of Brahma.
Mười năng lực của Như Lai là những gì? Ở đây, Như Lai biết rõ như thật xứ là xứ và phi xứ là phi xứ. Việc Như Lai biết rõ như thật xứ là xứ và phi xứ là phi xứ, đây cũng là năng lực của Như Lai. Nhờ nương vào năng lực này, Như Lai tự nhận địa vị tối thắng, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, chuyển bánh xe Pháp cao thượng.
Puna caparaṃ tathāgato atītānāgatapaccuppannānaṃ kammasamādānānaṃ ṭhānaso hetuso vipākaṃ yathābhūtaṃ pajānāti. Yampi tathāgato atītānāgatapaccuppannānaṃ kammasamādānānaṃ ṭhānaso hetuso vipākaṃ yathābhūtaṃ pajānāti, idampi tathāgatassa tathāgatabalaṃ hoti, yaṃ balaṃ āgamma tathāgato āsabhaṃ ṭhānaṃ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṃ, nadati, brahmacakkaṃ pavatteti.
Furthermore, the Tathāgata understands as it actually is the consequences of past, future, and present undertakings of deeds, with their causes and reasons. And because the Tathāgata understands as it actually is the consequences of past, future, and present undertakings of deeds, with their causes and reasons, this is a power of the Tathāgata, by virtue of which he claims the foremost place, roars his lion’s roar in the assemblies, and sets rolling the wheel of Brahma.
Lại nữa, Như Lai biết rõ như thật quả của các nghiệp đã tạo trong quá khứ, vị lai, và hiện tại theo xứ và theo nhân. Việc Như Lai biết rõ như thật quả của các nghiệp đã tạo trong quá khứ, vị lai, và hiện tại theo xứ và theo nhân, đây cũng là năng lực của Như Lai. Nhờ nương vào năng lực này, Như Lai tự nhận địa vị tối thắng, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, chuyển bánh xe Pháp cao thượng.
Puna caparaṃ tathāgato sabbatthagāminiṃ paṭipadaṃ † yathābhūtaṃ pajānāti. Yampi tathāgato sabbatthagāminiṃ paṭipadaṃ yathābhūtaṃ pajānāti, idampi tathāgatassa tathāgatabalaṃ hoti, yaṃ balaṃ āgamma tathāgato āsabhaṃ ṭhānaṃ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṃ nadati, brahmacakkaṃ pavatteti.
Furthermore, the Tathāgata understands as it truly is the path that leads to all destinations. That the Tathāgata understands as it truly is the path that leads to all destinations—this too is a power of the Tathāgata. Relying on this power, the Tathāgata claims the foremost position, roars his lion’s roar in the assemblies, and sets in motion the supreme wheel.
Lại nữa, Như Lai biết rõ như thật con đường đưa đến tất cả các cõi. Việc Như Lai biết rõ như thật con đường đưa đến tất cả các cõi, đây cũng là năng lực của Như Lai. Nhờ nương vào năng lực này, Như Lai tự nhận địa vị tối thắng, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, chuyển bánh xe Pháp cao thượng.
Puna caparaṃ tathāgato anekadhātunānādhātulokaṃ yathābhūtaṃ pajānāti. Yampi tathāgato anekadhātunānādhātulokaṃ yathābhūtaṃ pajānāti, idampi tathāgatassa…pe….
Furthermore, the Tathāgata understands as it truly is the world with its many and various elements. That the Tathāgata understands as it truly is the world with its many and various elements—this too is a power of the Tathāgata... and so on.
Lại nữa, Như Lai biết rõ như thật thế giới có nhiều giới, nhiều giới khác nhau. Việc Như Lai biết rõ như thật thế giới có nhiều giới, nhiều giới khác nhau, đây cũng là của Như Lai... v.v...
Puna caparaṃ tathāgato sattānaṃ nānādhimuttikataṃ yathābhūtaṃ pajānāti. Yampi tathāgato sattānaṃ nānādhimuttikataṃ yathābhūtaṃ pajānāti, idampi tathāgatassa…pe….
Furthermore, the Tathāgata understands as it truly is the diverse dispositions of beings. That the Tathāgata understands as it truly is the diverse dispositions of beings—this too is a power of the Tathāgata... and so on.
Lại nữa, Như Lai biết rõ như thật các khuynh hướng khác nhau của chúng sanh. Việc Như Lai biết rõ như thật các khuynh hướng khác nhau của chúng sanh, đây cũng là của Như Lai... v.v...
Puna caparaṃ tathāgato parasattānaṃ parapuggalānaṃ indriyaparopariyattaṃ yathābhūtaṃ pajānāti. Yampi tathāgato parasattānaṃ parapuggalānaṃ indriyaparopariyattaṃ yathābhūtaṃ pajānāti, idampi tathāgatassa…pe….
Furthermore, the Tathāgata understands as it truly is the maturity and immaturity of the faculties of other beings and other persons. That the Tathāgata understands as it truly is the maturity and immaturity of the faculties of other beings and other persons—this too is a power of the Tathāgata... and so on.
Lại nữa, Như Lai biết rõ như thật trình độ các căn cao thấp của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác. Việc Như Lai biết rõ như thật trình độ các căn cao thấp của các chúng sanh khác, của các cá nhân khác, đây cũng là của Như Lai... v.v...
Puna caparaṃ tathāgato jhānavimokkhasamādhisamāpattīnaṃ saṃkilesaṃ vodānaṃ vuṭṭhānaṃ yathābhūtaṃ pajānāti. Yampi tathāgato jhānavimokkhasamādhisamāpattīnaṃ saṃkilesaṃ vodānaṃ vuṭṭhānaṃ yathābhūtaṃ pajānāti, idampi tathāgatassa…pe….
Furthermore, the Tathāgata understands as it truly is the defilement, purification, and emergence of the jhānas, liberations, concentrations, and attainments. That the Tathāgata understands as it truly is the defilement, purification, and emergence of the jhānas, liberations, concentrations, and attainments—this too is a power of the Tathāgata... and so on.
Lại nữa, Như Lai biết rõ như thật sự ô nhiễm, sự trong sạch, và sự xuất khởi của các thiền, giải thoát, định, và nhập định. Việc Như Lai biết rõ như thật sự ô nhiễm, sự trong sạch, và sự xuất khởi của các thiền, giải thoát, định, và nhập định, đây cũng là của Như Lai... v.v...
Puna caparaṃ tathāgato anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati, seyyathidaṃ – ekampi jātiṃ dvepi jātiyo…pe… iti sākāraṃ sauddesaṃ anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati. Yampi tathāgato anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati. Seyyathidaṃ – ekampi jātiṃ dvepi jātiyo…pe… idampi tathāgatassa…pe….
Furthermore, the Tathāgata recollects his manifold past lives with their aspects and details; that is, one birth, two births... and so on. That the Tathāgata recollects his manifold past lives—that is, one birth, two births... and so on—this too is a power of the Tathāgata... and so on.
Lại nữa, Như Lai nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, nghĩa là – một kiếp, hai kiếp… cho đến… như vậy, với các tướng trạng, với các chi tiết, Ngài nhớ lại nhiều đời sống quá khứ. Việc Như Lai nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, nghĩa là – một kiếp, hai kiếp… cho đến… việc này cũng là… của Như Lai…
Puna caparaṃ tathāgato dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne…pe… yampi tathāgato dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne…pe… idampi tathāgatassa…pe….
Furthermore, the Tathāgata, with the divine eye, which is purified and surpasses the human, sees beings passing away and being reborn... And because the Tathāgata, with the divine eye, which is purified and surpasses the human, sees beings passing away and being reborn... this too is of the Tathāgata...
Lại nữa, Như Lai với thiên nhãn thanh tịnh, vượt khỏi mắt người thường, thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh… cho đến… Việc Như Lai với thiên nhãn thanh tịnh, vượt khỏi mắt người thường, thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh… cho đến… việc này cũng là… của Như Lai…
Puna caparaṃ tathāgato āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Yampi tathāgato āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati, idampi tathāgatassa tathāgatabalaṃ hoti, yaṃ balaṃ āgamma tathāgato āsabhaṃ ṭhānaṃ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṃ nadati, brahmacakkaṃ pavatteti. Imāni dasa tathāgatabalāni.
Furthermore, the Tathāgata, through the destruction of the taints, having realized for himself with higher knowledge, enters and abides in the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, in this very life. And because the Tathāgata, through the destruction of the taints, having realized for himself with higher knowledge, enters and abides in the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, in this very life, this too is a power of the Tathāgata. Relying on this power, the Tathāgata claims the foremost position, roars his lion’s roar in the assemblies, and sets rolling the supreme wheel. These are the ten powers of the Tathāgata.
Lại nữa, Như Lai do đoạn tận các lậu hoặc, đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu ngay trong hiện tại. Việc Như Lai do đoạn tận các lậu hoặc, đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú trong tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu ngay trong hiện tại, việc này là Như Lai lực của Như Lai. Nương vào lực này, Như Lai tự nhận địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, chuyển bánh xe Pháp cao thượng. Đây là mười Như Lai lực.
45. Kenaṭṭhena saddhābalaṃ? Kenaṭṭhena vīriyabalaṃ? Kenaṭṭhena satibalaṃ? Kenaṭṭhena samādhibalaṃ? Kenaṭṭhena paññābalaṃ? Kenaṭṭhena hiribalaṃ? Kenaṭṭhena ottappabalaṃ? Kenaṭṭhena paṭisaṅkhānabalaṃ…pe… kenaṭṭhena tathāgatabalaṃ?
45. In what sense is it called the power of faith? In what sense is it called the power of energy? In what sense is it called the power of mindfulness? In what sense is it called the power of concentration? In what sense is it called the power of wisdom? In what sense is it called the power of moral shame? In what sense is it called the power of moral dread? In what sense is it called the power of reflection?… In what sense is it called the power of the Tathāgata?
45. Do ý nghĩa nào gọi là tín lực? Do ý nghĩa nào gọi là tấn lực? Do ý nghĩa nào gọi là niệm lực? Do ý nghĩa nào gọi là định lực? Do ý nghĩa nào gọi là tuệ lực? Do ý nghĩa nào gọi là tàm lực? Do ý nghĩa nào gọi là quý lực? Do ý nghĩa nào gọi là trạch pháp lực… cho đến… do ý nghĩa nào gọi là Như Lai lực?
Assaddhiye akampiyaṭṭhena saddhābalaṃ. Kosajje akampiyaṭṭhena vīriyabalaṃ. Pamāde akampiyaṭṭhena satibalaṃ. Uddhacce akampiyaṭṭhena samādhibalaṃ. Avijjāya akampiyaṭṭhena paññābalaṃ. Hirīyati pāpake akusale dhammeti – hiribalaṃ. Ottappati pāpake akusale dhammeti – ottappabalaṃ. Ñāṇena kilese paṭisaṅkhātīti – paṭisaṅkhānabalaṃ. Tattha jātā dhammā ekarasā hontīti – bhāvanābalaṃ. Tattha natthi kiñci vajjanti – anavajjabalaṃ. Tena cittaṃ saṅgaṇhātīti – saṅgahabalaṃ. Taṃ tassa khamatīti – † khantibalaṃ. Tena cittaṃ paññapetīti – paññattibalaṃ. Tena cittaṃ nijjhāpetīti – nijjhattibalaṃ. Tena cittaṃ vasaṃ vattetīti – issariyabalaṃ. Tena cittaṃ adhiṭṭhātīti – adhiṭṭhānabalaṃ. Tena cittaṃ ekagganti – samathabalaṃ. Tattha jāte dhamme anupassatīti – vipassanābalaṃ. Tattha sikkhatīti – sekhabalaṃ. Tattha sikkhitattā – asekhabalaṃ. Tena āsavā khīṇāti – khīṇāsavabalaṃ. Tassa ijjhatīti – iddhibalaṃ. Appameyyaṭṭhena tathāgatabalanti.
It is the power of faith in the sense of being unshaken by faithlessness. It is the power of energy in the sense of being unshaken by laziness. It is the power of mindfulness in the sense of being unshaken by heedlessness. It is the power of concentration in the sense of being unshaken by restlessness. It is the power of wisdom in the sense of being unshaken by ignorance. One is ashamed of evil, unwholesome qualities—this is the power of moral shame. One is afraid of evil, unwholesome qualities—this is the power of moral dread. One reflects on the defilements with knowledge—this is the power of reflection. The qualities that arise therein are of a single essence—this is the power of development. Therein, there is no fault whatsoever—this is the power of blamelessness. With it, one gathers the mind—this is the power of gathering. One is pleased with that—this is the power of patience. With it, one makes the mind known—this is the power of making known. With it, one causes the mind to be calmed—this is the power of calming. With it, one brings the mind under control—this is the power of mastery. With it, one establishes the mind—this is the power of resolution. With it, the mind becomes one-pointed—this is the power of serenity. One contemplates the qualities that arise therein—this is the power of insight. One trains therein—this is the power of a trainee. Because of having trained therein—this is the power of an adept. With it, the taints are destroyed—this is the power of one whose taints are destroyed. It is accomplished for one—this is the power of spiritual power. In the sense of being immeasurable, it is the power of the Tathāgata.
Do không bị lay động bởi sự vô tín, nên gọi là tín lực. Do không bị lay động bởi sự lười biếng, nên gọi là tấn lực. Do không bị lay động bởi sự phóng dật, nên gọi là niệm lực. Do không bị lay động bởi sự trạo cử, nên gọi là định lực. Do không bị lay động bởi vô minh, nên gọi là tuệ lực. Do tàm các pháp ác bất thiện, nên là tàm lực. Do quý các pháp ác bất thiện, nên là quý lực. Do dùng trí tuệ để thẩm sát các phiền não, nên là trạch pháp lực. Do các pháp sanh khởi ở đấy có cùng một vị, nên là tu tiến lực. Do ở đấy không có một lỗi lầm nào, nên là vô tội lực. Do nhờ đó tâm được nhiếp phục, nên là nhiếp trì lực. Do vị ấy kham nhẫn điều đó, nên là kham nhẫn lực. Do nhờ đó tâm được làm cho biết rõ, nên là chế định lực. Do nhờ đó tâm được làm cho lắng dịu, nên là thẩm sát lực. Do nhờ đó tâm được điều khiển theo ý muốn, nên là tự tại lực. Do nhờ đó tâm được quyết định, nên là quyết định lực. Do nhờ đó tâm được nhất tâm, nên là chỉ lực. Do quán xét các pháp sanh khởi ở đấy, nên là quán lực. Do đang học tập ở đấy, nên là hữu học lực. Do đã học tập xong ở đấy, nên là vô học lực. Do nhờ đó các lậu hoặc được đoạn tận, nên là lậu tận lực. Do vị ấy thành tựu được, nên là thần thông lực. Do ý nghĩa không thể đo lường, nên là Như Lai lực.
Balakathā niṭṭhitā.
The discourse on the powers is concluded.
Phần luận về lực đã kết thúc.