Bản dịch
PS 2.6 — Giảng về sự Phân Tích
2.6. Paṭisambhidākathā
Tôi đã được nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại Bārāṇasī, Isipatana, nơi vườn nai. Tại đó, đức Thế Tôn đã nói với các vị tỳ khưu nhóm năm vị rằng:
- Này các tỳ khưu, đây là hai cực đoan mà bậc xuất gia không nên thực hành. Hai là gì? Đây là sự say đắm về dục lạc trong các dục, kém cỏi, thô thiển, tầm thường, không cao thượng, không đem lại lợi ích, và đây là sự gắn bó với việc hành hạ bản thân, đau khổ, không cao thượng, không đem lại lợi ích. Này các tỳ khưu, sau khi không tiếp cận cả hai cực đoan ấy, lối thực hành trung hòa đã được đức Như lai tự mình giác ngộ khiến cho mắt được thấy, khiến cho trí được sáng, dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, hoàn toàn giác ngộ, Niết Bàn.
Và này các tỳ khưu, lối thực hành trung hòa đã được đức Như lai tự mình giác ngộ khiến cho mắt được thấy, khiến cho trí được sáng, dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, hoàn toàn giác ngộ, Niết Bàn, (lối thực hành trung hòa) ấy là gì? Đó chính là Thánh Đạo tám chi phần tức là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh cần, chánh niệm, chánh định. Này các tỳ khưu, lối thực hành trung hòa ấy đã được đức Như lai tự mình giác ngộ khiến cho mắt được thấy, khiến cho trí được sáng, dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, hoàn toàn giác ngộ, Niết Bàn.
Này các tỳ khưu, đây là chân lý cao thượng tức là sự Khổ: sanh là khổ, già cũng là khổ, bệnh cũng là khổ, chết cũng là khổ, sự gắn bó với những gì không ưa thích cũng là khổ, sự chia lìa với những gì ưa thích cũng là khổ, không đạt được điều ước muốn cũng là khổ, một cách tóm tắt năm thủ uẩn là khổ.
Này các tỳ khưu, đây là chân lý cao thượng tức là nhân sanh của Khổ. Điều ấy chính là ái đưa đến tái sanh, liên kết với khoái lạc và tham ái, có sự thỏa thích ở nơi này nơi khác tức là: dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
Này các tỳ khưu, đây là chân lý cao thượng tức là sự diệt tận Khổ. Điều ấy là sự diệt tận và ly tham ái không còn dư sót, là sự buông bỏ, là sự từ bỏ, là sự giải thoát, là sự không còn chỗ nương tựa đối với chính ái ấy.
Này các tỳ khưu, đây là chân lý cao thượng tức là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ. Đó chính là Thánh Đạo tám chi phần tức là chánh kiến …(như trên)… chánh định.
Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là chân lý
cao thượng tức là sự Khổ.’ Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là chân lý cao thượng tức là sự Khổ cần được biết toàn diện.’ …(như trên)… đã được biết toàn diện.’
Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là chân lý cao thượng tức là nhân sanh Khổ.’ Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là chân lý cao thượng tức là nhân sanh Khổ cần được dứt bỏ.’ …(như trên)… đã được dứt bỏ.’
Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là chân lý cao thượng tức là sự diệt tận Khổ.’ Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là chân lý cao thượng tức là sự diệt tận Khổ cần được tác chứng.’ …(như trên)… đã được tác chứng.’
Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là chân lý cao thượng tức là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.’ Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là chân lý cao thượng tức là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ cần được tu tập.’ …(như trên)… đã được tu tập.’
Này các tỳ khưu, cho đến khi nào sự biết và thấy đúng theo thực thể của ta về ba Luân và mười hai Thể của bốn chân lý cao thượng này chưa được thực sự thanh tịnh; này các tỳ khưu, cho đến khi ấy ta chưa công bố là ‘Đã hoàn toàn giác ngộ quả vô thượng Chánh Đẳng Giác’ ở thế gian tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người. Và này các tỳ khưu, bởi vì sự biết và thấy đúng theo thực thể của ta về ba Luân và mười hai Thể trong bốn chân lý cao thượng này đã được thực sự thanh tịnh; này các tỳ khưu, khi ấy ta đã công bố là ‘Đã hoàn toàn giác ngộ quả vô thượng Chánh Đẳng Giác’ ở thế gian tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người. Hơn nữa, sự biết và thấy đã sanh khởi đến ta rằng: ‘Sự giải thoát của ta là không thể thay đổi. Đây là lần sanh cuối cùng, giờ không còn tái sanh nữa.’
Đức Thế Tôn đã giảng về điều ấy. Các tỳ khưu nhóm năm vị đã hoan hỷ thâu nhận lời dạy của đức Thế Tôn. Và trong khi bài kinh này được thuyết giảng, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến đại đức Koṇḍañña: ‘Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.’
Khi bánh xe Pháp được chuyển vận bởi đức Thế Tôn, chư thiên ở địa cầu đã đồn đãi lời rằng: ‘Bánh xe Pháp tối thượng ấy đã được đức Thế Tôn chuyển vận tại Bārāṇasī, Isipatana, nơi vườn nai không thể bị chuyển vận nghịch lại bởi Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên nhân, Ma Vương, Phạm thiên, hoặc bất cứ ai ở trên đời.’ Sau khi nghe được tiếng đồn của chư thiên ở địa cầu, chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương đã đồn đãi lời rằng: …(như trên)… Sau khi nghe được tiếng đồn của chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương, chư thiên ở cõi Đạo Lợi đã đồn đãi lời rằng: …(như trên)… chư thiên ở cõi Dạ Ma …(như trên)… chư thiên ở cõi Đẩu Suất …(như trên)… chư thiên ở cõi Hóa Lạc Thiên …(như trên)… chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại …(như trên)… chư thiên thuộc hàng Phạm thiên đã đồn đãi lời rằng: ‘Bánh xe Pháp tối thượng ấy đã được đức Thế Tôn chuyển vận tại Bārāṇasī, Isipatana, nơi vườn nai không thể bị chuyển vận nghịch lại bởi Sa-môn, Bà-la-môn, thiên nhân, Ma Vương, Phạm thiên, hoặc bất cứ ai ở trên đời.’
Vào thời khắc ấy, vào giây phút ấy, lời đồn đãi ấy đã đi đến các cõi trời Phạm thiên. Và mười ngàn thế giới này đã bị lay chuyển, rung động, chấn động. Và ánh sáng vô lượng tuyệt vời đã hiện ra ở thế gian, vượt quá hào quang siêu phàm của chư thiên.
Khi ấy, đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này: ‘Quà nhiên Koṇḍañña đã hiểu được! Quà nhiên Koṇḍañña đã hiểu được!’ Do đó, đại đức Koṇḍañña đã có tên là ‘Aññākoṇḍañña.’*
(Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là chân lý cao thượng tức là sự Khổ.’
‘(Pháp) nhãn đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘Trí đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘Tuệ đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘Minh đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘Ánh sáng đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘(Pháp) nhãn đã sanh khởi’ theo ý nghĩa nhận thức. ‘Trí đã sanh khởi’ theo ý nghĩa đã được biết. ‘Tuệ đã sanh khởi’ theo ý nghĩa nhận biết. ‘Minh đã sanh khởi’ theo ý nghĩa thấu triệt. ‘Ánh sáng đã sanh khởi’ theo ý nghĩa chiếu sáng.
(Pháp) nhãn là pháp, trí là pháp, tuệ là pháp, minh là pháp, ánh sáng là pháp. Năm pháp này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của sự phân tích các pháp. Các đối tượng của việc ấy cũng là các hành xứ của việc ấy, các hành xứ của việc ấy cũng là các đối tượng của việc ấy. Vì thế, được nói rằng: “Trí về các pháp là sự phân tích các pháp.”
Ý nghĩa của sự nhận thức là ý nghĩa, ý nghĩa của điều đã được biết là ý nghĩa, ý nghĩa của sự nhận biết là ý nghĩa, ý nghĩa của sự thấu triệt là ý nghĩa, ý nghĩa của chiếu sáng là ý nghĩa. Năm ý nghĩa này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của sự phân tích các ý nghĩa. Các đối tượng của việc ấy cũng là các hành xứ của việc ấy, các hành xứ của việc ấy cũng là các đối tượng của việc ấy. Vì thế, được nói rằng: “Trí về các ý nghĩa là sự phân tích các ý nghĩa.”
Nói đến văn tự và ngôn từ để chỉ rõ về năm pháp. Nói đến văn tự và ngôn từ để chỉ rõ về năm ý nghĩa. Mười ngôn từ này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của sự phân tích các ngôn từ. Các đối tượng của việc ấy cũng là các hành xứ của việc ấy, các hành xứ của việc ấy cũng là các đối tượng của việc ấy. Vì thế, được nói rằng: “Trí về các ngôn từ là sự phân tích các ngôn từ.”
Các trí về năm pháp, các trí về năm ý nghĩa, các trí về mười ngôn từ; hai mươi trí này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của sự phân tích các phép biện giải. Các đối tượng của việc ấy cũng là các hành xứ của việc ấy, các hành xứ của việc ấy cũng là các đối tượng của việc ấy. Vì thế, được nói rằng: “Trí về các phép biện giải là sự phân tích các phép biện giải.”
(Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là chân lý cao thượng tức là sự Khổ cần được biết toàn diện.’ …(như trên)… đã được biết toàn diện.’
‘(Pháp) nhãn đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘Trí đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘Tuệ đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘Minh đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘Ánh sáng đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘(Pháp) nhãn đã sanh khởi’ theo ý nghĩa nhận thức. ‘Trí đã sanh khởi’ theo ý nghĩa đã được biết. ‘Tuệ đã sanh khởi’ theo ý nghĩa nhận biết. ‘Minh đã sanh khởi’ theo ý nghĩa thấu triệt. ‘Ánh sáng đã sanh khởi’ theo ý nghĩa chiếu sáng.
(Pháp) nhãn là pháp, trí là pháp, tuệ là pháp, minh là pháp, ánh sáng là pháp. Năm pháp này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của sự phân tích các pháp. Các đối tượng của việc ấy cũng là các hành xứ của việc ấy, các hành xứ của việc ấy cũng là các đối tượng của việc ấy. Vì thế, được nói rằng: “Trí về các pháp là sự phân tích các pháp.”
Ý nghĩa của sự nhận thức là ý nghĩa, ý nghĩa của điều đã được biết là ý nghĩa, ý nghĩa của sự nhận biết là ý nghĩa, ý nghĩa của sự thấu triệt là ý nghĩa, ý nghĩa của chiếu sáng là ý nghĩa. Năm ý nghĩa này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của sự phân tích các ý nghĩa. Các đối tượng của việc ấy cũng là các hành xứ của việc ấy, các hành xứ của việc ấy cũng là các đối tượng của việc ấy. Vì thế, được nói rằng: “Trí về các ý nghĩa là sự phân tích các ý nghĩa.”
Nói đến văn tự và ngôn từ để chỉ rõ về năm pháp. Nói đến văn tự và ngôn từ để chỉ rõ về năm ý nghĩa. Mười ngôn từ này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của sự phân tích các ngôn từ. Các đối tượng của việc ấy cũng là các hành xứ của việc ấy, các hành xứ của việc ấy cũng là các đối tượng của việc ấy. Vì thế, được nói rằng: “Trí về các ngôn từ là sự phân tích các ngôn từ.”
Các trí về năm pháp, các trí về năm ý nghĩa, các trí về mười ngôn từ; hai mươi trí này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của sự phân tích các phép biện giải. Các đối tượng của việc ấy cũng là các hành xứ của việc ấy, các hành xứ của việc ấy cũng là các đối tượng của việc ấy. Vì thế, được nói rằng: “Trí về các phép biện giải là sự phân tích các phép biện giải.”
Ở chân lý cao thượng tức là sự Khổ có 15 pháp, 15 ý nghĩa, 30 ngôn từ, và 60 trí.
(Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là chân lý cao thượng tức là nhân sanh Khổ.’ …(như trên)… (Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là chân lý cao thượng tức là nhân sanh Khổ cần được dứt bỏ.’ …(như trên)… đã được dứt bỏ.’ …(như trên)…
Ở chân lý cao thượng tức là nhân sanh Khổ có 15 pháp, 15 ý nghĩa, 30 ngôn từ, và 60 trí.
(Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là chân lý cao thượng tức là sự diệt tận Khổ.’ …(như trên)… (Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là chân lý cao thượng tức là sự diệt tận Khổ cần được tác chứng.’ …(như trên)… đã được tác chứng.’ …(như trên)…
Ở chân lý cao thượng tức là sự diệt tận Khổ có 15 pháp, 15 ý nghĩa, 30 ngôn từ, và 60 trí.
(Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là chân lý cao thượng tức là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.’ …(như trên)… (Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là chân lý cao thượng tức là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ cần được tu tập.’ …(như trên)… đã được tu tập.’ …(như trên)…
Ở chân lý cao thượng tức là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ có 15 pháp, 15 ý nghĩa, 30 ngôn từ, và 60 trí.
Ở bốn chân lý cao thượng có 60 pháp, 60 ý nghĩa, 120 ngôn từ, và 240 trí.
Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là sự quán xét thân trên thân.’ Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Sự quán xét thân trên thân này đây cần được tu tập …(như trên)… đã được tu tập.’
Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là sự quán xét thọ trên các thọ.’ … tâm trên tâm.’ … pháp trên các pháp.’ Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Sự quán xét pháp trên các pháp này đây cần được tu tập …(như trên)… đã được tu tập.’
(Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là sự quán xét thân trên thân.’ …(như trên)… (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Sự quán xét thân trên thân này đây cần được tu tập …(như trên)… đã được tu tập.’
‘(Pháp) nhãn đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘Trí đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘Tuệ đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘Minh đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘Ánh sáng đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘(Pháp) nhãn đã sanh khởi’ theo ý nghĩa nhận thức. ‘Trí đã sanh khởi’ theo ý nghĩa đã được biết. ‘Tuệ đã sanh khởi’ theo ý nghĩa nhận biết. ‘Minh đã sanh khởi’ theo ý nghĩa thấu triệt. ‘Ánh sáng đã sanh khởi’ theo ý nghĩa chiếu sáng.
(Pháp) nhãn là pháp, trí là pháp, tuệ là pháp, minh là pháp, ánh sáng là pháp. Năm pháp này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của sự phân tích các pháp. Các đối tượng của việc ấy cũng là các hành xứ của việc ấy, các hành xứ của việc ấy cũng là các đối tượng của việc ấy. Vì thế, được nói rằng: “Trí về các pháp là sự phân tích các pháp.”
Ý nghĩa của sự nhận thức là ý nghĩa, ý nghĩa của điều đã được biết là ý nghĩa, ý nghĩa của sự nhận biết là ý nghĩa, ý nghĩa của sự thấu triệt là ý nghĩa, ý nghĩa của chiếu sáng là ý nghĩa. Năm ý nghĩa này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của sự phân tích các ý nghĩa. Các đối tượng của việc ấy cũng là các hành xứ của việc ấy, các hành xứ của việc ấy cũng là các đối tượng của việc ấy. Vì thế, được nói rằng: “Trí về các ý nghĩa là sự phân tích các ý nghĩa.”
Nói đến văn tự và ngôn từ để chỉ rõ về năm pháp. Nói đến văn tự và ngôn từ để chỉ rõ về năm ý nghĩa. Mười ngôn từ này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của sự phân tích các ngôn từ. Các đối tượng của việc ấy cũng là các hành xứ của việc ấy, các hành xứ của việc ấy cũng là các đối tượng của việc ấy. Vì thế, được nói rằng: “Trí về các ngôn từ là sự phân tích các ngôn từ.”
Các trí về năm pháp, các trí về năm ý nghĩa, các trí về mười ngôn từ; hai mươi trí này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của sự phân tích các phép biện giải. Các đối tượng của việc ấy cũng là các hành xứ của việc ấy, các hành xứ của việc ấy cũng là các đối tượng của việc ấy. Vì thế, được nói rằng: “Trí về các phép biện giải là sự phân tích các phép biện giải.”
Ở sự thiết lập niệm về quán thân trên thân có 15 pháp, 15 ý nghĩa, 30 ngôn từ, và 60 trí.
(Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là sự quán xét thọ trên các thọ.’ … tâm trên tâm.’ … pháp trên các pháp.’ …(như trên)… (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Sự quán xét pháp trên các pháp này đây cần được tu tập …(như trên)… đã được tu tập.’ …(như trên)… Ở sự thiết lập niệm về quán pháp trên các pháp có 15 pháp, 15 ý nghĩa, 30 ngôn từ, và 60 trí.
Ở bốn sự thiết lập niệm có 60 pháp, 60 ý nghĩa, 120 ngôn từ, và 240 trí.
Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do ước muốn và các tạo tác do nỗ lực.’ Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do ước muốn và các tạo tác do nỗ lực này đây cần được tu tập …(như trên)… đã được tu tập.’
Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do tinh tấn … định do tâm … định do thẩm xét và các tạo tác do nỗ lực.’ Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do thẩm xét và các tạo tác do nỗ lực này đây cần được tu tập …(như trên)… đã được tu tập.’
(Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do ước muốn và các tạo tác do nỗ lực.’ …(như trên)… (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do ước muốn và các tạo tác do nỗ lực này đây cần được tu tập …(như trên)… đã được tu tập.’
‘(Pháp) nhãn đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘Trí đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘Tuệ đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘Minh đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘Ánh sáng đã sanh khởi’ theo ý nghĩa gì? ‘(Pháp) nhãn đã sanh khởi’ theo ý nghĩa nhận thức. ‘Trí đã sanh khởi’ theo ý nghĩa đã được biết. ‘Tuệ đã sanh khởi’ theo ý nghĩa nhận biết. ‘Minh đã sanh khởi’ theo ý nghĩa thấu triệt. ‘Ánh sáng đã sanh khởi’ theo ý nghĩa chiếu sáng.
(Pháp) nhãn là pháp, trí là pháp, tuệ là pháp, minh là pháp, ánh sáng là pháp. Năm pháp này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của sự phân tích các pháp. Các đối tượng của việc ấy cũng là các hành xứ của việc ấy, các hành xứ của việc ấy cũng là các đối tượng của việc ấy. Vì thế, được nói rằng: “Trí về các pháp là sự phân tích các pháp.”
Ý nghĩa của sự nhận thức là ý nghĩa, ý nghĩa của điều đã được biết là ý nghĩa, ý nghĩa của sự nhận biết là ý nghĩa, ý nghĩa của sự thấu triệt là ý nghĩa, ý nghĩa của chiếu sáng là ý nghĩa. Năm ý nghĩa này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của sự phân tích các ý nghĩa. Các đối tượng của việc ấy cũng là các hành xứ của việc ấy, các hành xứ của việc ấy cũng là các đối tượng của việc ấy. Vì thế, được nói rằng: “Trí về các ý nghĩa là sự phân tích các ý nghĩa.”
Nói đến văn tự và ngôn từ để chỉ rõ về năm pháp. Nói đến văn tự và ngôn từ để chỉ rõ về năm ý nghĩa. Mười ngôn từ này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của sự phân tích các ngôn từ. Các đối tượng của việc ấy cũng là các hành xứ của việc ấy, các hành xứ của việc ấy cũng là các đối tượng của việc ấy. Vì thế, được nói rằng: “Trí về các ngôn từ là sự phân tích các ngôn từ.”
Các trí về năm pháp, các trí về năm ý nghĩa, các trí về mười ngôn từ; hai mươi trí này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của sự phân tích các phép biện giải. Các đối tượng của việc ấy cũng là các hành xứ của việc ấy, các hành xứ của việc ấy cũng là các đối tượng của việc ấy. Vì thế, được nói rằng: “Trí về các phép biện giải là sự phân tích các phép biện giải.”
Ở nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do ước muốn và các tạo tác do nỗ lực có 15 pháp, 15 ý nghĩa, 30 ngôn từ, và 60 trí.
(Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Đây là nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do thẩm xét và các tạo tác do nỗ lực.’ …(như trên)… (Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do thẩm xét và các tạo tác do nỗ lực này đây cần được tu tập …(như trên)… đã được tu tập.’ Ở nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do thẩm xét và các tạo tác do nỗ lực có 15 pháp, 15 ý nghĩa, 30 ngôn từ, và 60 trí.
Ở bốn nền tảng của thần thông có 60 pháp, 60 ý nghĩa, 120 ngôn từ, và 240 trí.
Này các tỳ khưu, Bồ Tát Vipassī có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Nhân sanh, nhân sanh.’ Này các tỳ khưu, Bồ Tát Vipassī có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Sự diệt tận, sự diệt tận.’ Ở lời tuyên bố của Bồ Tát Vipassī có 10 pháp, 10 ý nghĩa, 20 ngôn từ, và 40 trí.
Này các tỳ khưu, Bồ Tát Sikhī … Bồ Tát Vessabhū … Bồ Tát Kakusandha … Bồ Tát Koṇāgamana … Bồ Tát Kassapa có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi … ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Nhân sanh, nhân sanh.’ Này các tỳ khưu, Bồ Tát Kassapa có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Sự diệt tận, sự diệt tận.’ Ở lời tuyên bố của Bồ Tát Kassapa có 10 pháp, 10 ý nghĩa, 20 ngôn từ, và 40 trí.
Này các tỳ khưu, Bồ Tát Gotama có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Nhân sanh, nhân sanh.’ Này các tỳ khưu, Bồ Tát Gotama có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: ‘Sự diệt tận, sự diệt tận.’ Ở lời tuyên bố của Bồ Tát Gotama có 10 pháp, 10 ý nghĩa, 20 ngôn từ, và 40 trí.
Ở bảy lời tuyên bố của bảy vị Bồ Tát có 70 pháp, 70 ý nghĩa, 140 ngôn từ, và 280 trí.
(Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi: ‘Cho đến ý nghĩa biết rõ của sự biết rõ là đã được biết, đã được thấy, đã được hiểu, đã được tác chứng, đã được chạm đến bởi tuệ. Không có ý nghĩa của sự biết rõ là không được chạm đến bởi tuệ.’ Ở ý nghĩa biết rõ của sự biết rõ có 25 pháp, 25 ý nghĩa, 50 ngôn từ, và 100 trí.
(Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi: ‘Cho đến ý nghĩa biết toàn diện của sự biết toàn diện …(như trên)… ‘Cho đến ý nghĩa dứt bỏ của sự dứt bỏ …(như trên)… Cho đến ý nghĩa về tu tập của sự tu tập …(như trên)… Cho đến ý nghĩa về tác chứng của sự tác chứng là đã được biết, đã được thấy, đã được hiểu, đã được tác chứng, đã được chạm đến bởi tuệ. Không có ý nghĩa tác chứng là không được chạm đến bởi tuệ.’ Ở ý nghĩa về tác chứng của sự tác chứng có 25 pháp, 25 ý nghĩa, 50 ngôn từ, và 100 trí.
Ở ý nghĩa biết rõ của sự biết rõ, về ý nghĩa biết toàn diện của sự biết toàn diện, về ý nghĩa dứt bỏ của sự dứt bỏ, về ý nghĩa tu tập của sự tu tập, về ý nghĩa về tác chứng của sự tác chứng có 125 pháp, 125 ý nghĩa, 250 ngôn từ, và 500 trí.
(Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi: ‘Cho đến ý nghĩa về uẩn của các uẩn là đã được biết, đã được thấy, đã được hiểu, đã được tác chứng, đã được chạm đến bởi tuệ. Không có ý nghĩa về uẩn là không được chạm đến bởi tuệ.’ Ở ý nghĩa về uẩn của các uẩn có 25 pháp, 25 ý nghĩa, 50 ngôn từ, và 100 trí.
(Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi: ‘Cho đến ý nghĩa về giới của các giới … ‘Cho đến ý nghĩa về xứ của các xứ … Cho đến ý nghĩa tạo tác của các tạo tác … Cho đến ý nghĩa không tạo tác của không tạo tác là đã được biết, đã được thấy, đã được hiểu, đã được tác chứng, đã được chạm đến bởi tuệ. Không có ý nghĩa của không tạo tác là không được chạm đến bởi tuệ.’ Ở ý nghĩa không tạo tác của không tạo tác có 25 pháp, 25 ý nghĩa, 50 ngôn từ, và 100 trí.
Ở ý nghĩa về uẩn của các uẩn, ở ý nghĩa về giới của các giới, ở ý nghĩa về xứ của các xứ, ở ý nghĩa tạo tác của các tạo tác, ở ý nghĩa không tạo tác của không tạo tác có 125 pháp, 125 ý nghĩa, 250 ngôn từ, và 500 trí.
(Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi: ‘Cho đến ý nghĩa về khổ của Khổ là đã được biết, đã được thấy, đã được hiểu, đã được tác chứng, đã được chạm đến bởi tuệ. Không có ý nghĩa của Khổ là không được chạm đến bởi tuệ.’ Ở ý nghĩa về khổ của Khổ có 25 pháp, 25 ý nghĩa, 50 ngôn từ, và 100 trí.
(Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi: ‘Cho đến ý nghĩa về nhân sanh của nhân sanh …(như trên)… ‘Cho đến ý nghĩa về diệt tận của sự diệt tận …(như trên)… ‘Cho đến ý nghĩa về đạo của Đạo là đã được biết, đã được thấy, đã được hiểu, đã được tác chứng, đã được chạm đến bởi tuệ. Không có ý nghĩa của Đạo là không được chạm đến bởi tuệ.’ Ở ý nghĩa về đạo của Đạo có 25 pháp, 25 ý nghĩa, 50 ngôn từ, và 100 trí.
Ở bốn chân lý cao thượng có 100 pháp, 100 ý nghĩa, 200 ngôn từ, và 400 trí.
(Pháp) nhãn đã sanh khởi …(nt)… ánh sáng đã sanh khởi: ‘Cho đến ý nghĩa về phân tích ý nghĩa của sự phân tích ý nghĩa là đã được biết, đã được thấy, đã được hiểu, đã được tác chứng, đã được chạm đến bởi tuệ. Không có ý nghĩa của sự phân tích ý nghĩa là không được chạm đến bởi tuệ.’ Ở ý nghĩa về phân tích ý nghĩa của sự phân tích ý nghĩa có 25 pháp, 25 ý nghĩa, 50 ngôn từ, và 100 trí.
(Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi: ‘Cho đến ý nghĩa về phân tích pháp của sự phân tích pháp …(như trên)… ‘Cho đến ý nghĩa về phân tích ngôn từ của sự phân tích ngôn từ …(như trên)… ‘Cho đến ý nghĩa về phân tích phép biện giải của sự phân tích phép biện giải là đã được biết, đã được thấy, đã được hiểu, đã được tác chứng, đã được chạm đến bởi tuệ. Không có ý nghĩa của sự phân tích phép biện giải là không được chạm đến bởi tuệ.’ Ở ý nghĩa về phân tích phép biện giải của sự phân tích phép biện giải có 25 pháp, 25 ý nghĩa, 50 ngôn từ, và 100 trí.
Ở bốn phân tích có 100 pháp, 100 ý nghĩa, 200 ngôn từ, và 400 trí.
(Pháp) nhãn đã sanh khởi …(như trên)… ánh sáng đã sanh khởi: ‘Cho đến trí biết được khả năng người khác là đã được biết, đã được thấy, đã được hiểu, đã được tác chứng, đã được chạm đến bởi tuệ. Không có trí biết được khả năng người khác là không được chạm đến bởi tuệ.’ Ở trí biết được khả năng người khác có 25 pháp, 25 ý nghĩa, 50 ngôn từ, và 100 trí.
(Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi: ‘Cho đến bảy thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm …(như trên)… ‘Cho đến trí song thông …(như trên)… ‘Cho đến trí về sự thể nhập đại bi …(như trên)… ‘Cho đến trí Toàn Giác …(như trên)… ‘Cho đến trí không bị ngăn che là đã được biết, đã được thấy, đã được hiểu, đã được tác chứng, đã được chạm đến bởi tuệ. Không có trí không bị ngăn che là không được chạm đến bởi tuệ.’ Ở trí không bị ngăn che có 25 pháp, 25 ý nghĩa, 50 ngôn từ, và 100 trí.
Ở sáu pháp của đức Phật có 150 pháp, 150 ý nghĩa, 300 ngôn từ, và 600 trí.
Ở trường hợp về phân tích có 850 pháp, 850 ý nghĩa, 1700 ngôn từ, và 3400 trí.
Phần Giảng về sự Phân Tích được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Dveme, bhikkhave, antā pabbajitena na sevitabbā. Katame dve? Yo cāyaṃ kāmesu kāmasukhallikānuyogo hīno gammo pothujjaniko anariyo anatthasaṃhito; yo cāyaṃ attakilamathānuyogo dukkho anariyo anatthasaṃhito. Ete kho †, bhikkhave, ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.
Bhikkhus, these two extremes should not be cultivated by one who has gone forth. What are the two? That which is this devotion to indulgence in sensual pleasures—low, of villagers, of ordinary people, ignoble, unbeneficial; and that which is this devotion to self-mortification—painful, ignoble, unbeneficial. Bhikkhus, without approaching these two extremes, the Middle Way has been fully realized by the Tathāgata, which produces vision, produces knowledge, and leads to peace, to direct knowledge, to full awakening, and to Nibbāna.
“Này các tỳ khưu, có hai cực đoan này người xuất gia không nên thực hành. Thế nào là hai? Sự thực hành đắm mình trong các dục, là hạ liệt, thuộc về dân làng, của phàm phu, không phải của bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích; và sự thực hành tự hành khổ, là đau khổ, không phải của bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Này các tỳ khưu, không đi đến hai cực đoan ấy, con đường trung đạo đã được Như Lai hoàn toàn giác ngộ, tạo ra mắt, tạo ra trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.”
‘‘Katamā ca sā, bhikkhave, majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ – sammādiṭṭhi…pe… sammāsamādhi. Ayaṃ kho sā, bhikkhave, majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.
And what, Bhikkhus, is that Middle Way fully realized by the Tathāgata, which produces vision, produces knowledge, and leads to peace, to direct knowledge, to full awakening, and to Nibbāna? It is this very Noble Eightfold Path, that is: Right View... Right Concentration. This, Bhikkhus, is that Middle Way fully realized by the Tathāgata, which produces vision, produces knowledge, and leads to peace, to direct knowledge, to full awakening, and to Nibbāna.
“Và này các tỳ khưu, thế nào là con đường trung đạo đã được Như Lai hoàn toàn giác ngộ, tạo ra mắt, tạo ra trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là con đường Thánh đạo Tám ngành này, tức là – chánh kiến… cho đến… chánh định. Này các tỳ khưu, đây chính là con đường trung đạo đã được Như Lai hoàn toàn giác ngộ, tạo ra mắt, tạo ra trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.”
‘‘Idaṃ kho pana, bhikkhave, dukkhaṃ ariyasaccaṃ. Jātipi dukkhā, jarāpi dukkhā, byādhipi dukkho, maraṇampi dukkhaṃ, appiyehi sampayogo dukkho, piyehi vippayogo dukkho, yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ; saṃkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā. Idaṃ kho pana, bhikkhave, dukkhasamudayaṃ ariyasaccaṃ – yāyaṃ taṇhā ponobhavikā nandirāgasahagatā tatratatrābhinandinī, seyyathidaṃ – kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā. Idaṃ kho pana, bhikkhave, dukkhanirodhaṃ ariyasaccaṃ – yo tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo. Idaṃ kho pana, bhikkhave, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ – ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ – sammādiṭṭhi…pe… sammāsamādhi.
Now this, Bhikkhus, is the Noble Truth of Suffering. Birth is suffering, aging is suffering, sickness is suffering, death is suffering; association with the unloved is suffering, separation from the loved is suffering; not to get what one wants is suffering. In short, the five aggregates of clinging are suffering. Now this, Bhikkhus, is the Noble Truth of the Origin of Suffering: it is this craving which produces re-becoming, is accompanied by delight and lust, and delights now here, now there; that is, craving for sensual pleasures, craving for becoming, and craving for non-becoming. Now this, Bhikkhus, is the Noble Truth of the Cessation of Suffering: it is the remainderless fading away and cessation of that same craving, the giving up and relinquishing of it, freedom from it, and non-reliance on it. Now this, Bhikkhus, is the Noble Truth of the Practice Leading to the Cessation of Suffering: it is this very Noble Eightfold Path; that is: Right View... Right Concentration.
“Và này các tỳ khưu, đây là Thánh đế về Khổ. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, gặp gỡ người mình không ưa là khổ, xa lìa người mình ưa là khổ, mong muốn mà không được cũng là khổ; tóm lại, năm thủ uẩn là khổ. Và này các tỳ khưu, đây là Thánh đế về Nguồn gốc của Khổ – chính là ái này, đưa đến tái sanh, cùng đi với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là – dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Và này các tỳ khưu, đây là Thánh đế về Sự diệt Khổ – chính là sự ly tham và đoạn diệt không còn dư tàn của ái ấy, sự xả ly, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự không chấp thủ. Và này các tỳ khưu, đây là Thánh đế về Con đường đưa đến Sự diệt Khổ – chính là con đường Thánh đạo Tám ngành này, tức là – chánh kiến… cho đến… chánh định.”
‘‘‘Idaṃ dukkhaṃ ariyasacca’nti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. ‘Taṃ kho panidaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ pariññeyya’nti me, bhikkhave…pe… pariññātanti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
‘This is the Noble Truth of Suffering’—thus, O monks, in regard to things unheard before, there arose in me vision, knowledge, wisdom, true knowledge, and light. ‘This Noble Truth of Suffering is to be fully understood’—thus, O monks… ‘This Noble Truth of Suffering has been fully understood’—thus, O monks, in regard to things unheard before, there arose in me vision, knowledge, wisdom, true knowledge, and light.
“‘Đây là Thánh đế về Khổ’, này các tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, mắt đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi nơi Ta. ‘Thánh đế về Khổ này cần phải được liễu tri’, này các tỳ khưu… cho đến… ‘đã được liễu tri’, này các tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, mắt đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi nơi Ta.”
‘‘‘Idaṃ dukkhasamudayaṃ ariyasacca’nti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. ‘Taṃ kho panidaṃ dukkhasamudayaṃ ariyasaccaṃ pahātabba’nti me, bhikkhave…pe… pahīnanti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
‘This is the Noble Truth of the Origin of Suffering’—thus, O monks, in regard to things unheard before, there arose in me vision, knowledge, wisdom, true knowledge, and light. ‘This Noble Truth of the Origin of Suffering is to be abandoned’—thus, O monks… ‘This Noble Truth of the Origin of Suffering has been abandoned’—thus, O monks, in regard to things unheard before, there arose in me vision, knowledge, wisdom, true knowledge, and light.
“‘Đây là Thánh đế về Nguồn gốc của Khổ’, này các tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, mắt đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi nơi Ta. ‘Thánh đế về Nguồn gốc của Khổ này cần phải được đoạn tận’, này các tỳ khưu… cho đến… ‘đã được đoạn tận’, này các tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, mắt đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi nơi Ta.”
‘‘‘Idaṃ dukkhanirodhaṃ ariyasacca’nti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. ‘Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodhaṃ ariyasaccaṃ sacchikātabba’nti me, bhikkhave…pe… sacchikatanti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
‘This is the Noble Truth of the Cessation of Suffering’—thus, O monks, in regard to things unheard before, there arose in me vision, knowledge, wisdom, true knowledge, and light. ‘This Noble Truth of the Cessation of Suffering is to be realized’—thus, O monks… ‘This Noble Truth of the Cessation of Suffering has been realized’—thus, O monks, in regard to things unheard before, there arose in me vision, knowledge, wisdom, true knowledge, and light.
“‘Đây là Thánh đế về Sự diệt Khổ’, này các tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, mắt đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi nơi Ta. ‘Thánh đế về Sự diệt Khổ này cần phải được chứng ngộ’, này các tỳ khưu… cho đến… ‘đã được chứng ngộ’, này các tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, mắt đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi nơi Ta.”
‘‘‘Idaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasacca’nti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. ‘Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ bhāvetabba’nti me, bhikkhave…pe… bhāvitanti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
‘This is the Noble Truth of the Path Leading to the Cessation of Suffering’—thus, O monks, in regard to things unheard before, there arose in me vision, knowledge, wisdom, true knowledge, and light. ‘This Noble Truth of the Path Leading to the Cessation of Suffering is to be developed’—thus, O monks… ‘This Noble Truth of the Path Leading to the Cessation of Suffering has been developed’—thus, O monks, in regard to things unheard before, there arose in me vision, knowledge, wisdom, true knowledge, and light.
“Này các Tỳ khưu, đối với các pháp chưa từng được nghe trước đây, (tuệ) nhãn đã sanh khởi nơi Ta, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi rằng: ‘Đây là Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt khổ’. Này các Tỳ khưu, … rằng: ‘Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt khổ này cần phải được tu tập’. … Này các Tỳ khưu, đối với các pháp chưa từng được nghe trước đây, (tuệ) nhãn đã sanh khởi nơi Ta, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi rằng: ‘Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt khổ này đã được tu tập’.”
‘‘Yāvakīvañca me, bhikkhave, imesu catūsu ariyasaccesu evaṃ tiparivaṭṭaṃ dvādasākāraṃ yathābhūtaṃ ñāṇadassanaṃ na suvisuddhaṃ ahosi, neva tāvāhaṃ, bhikkhave, sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya ‘anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho’ti paccaññāsiṃ. Yato ca kho me, bhikkhave, imesu catūsu ariyasaccesu evaṃ tiparivaṭṭaṃ dvādasākāraṃ yathābhūtaṃ ñāṇadassanaṃ suvisuddhaṃ ahosi, athāhaṃ, bhikkhave, sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya ‘anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho’ti paccaññāsiṃ. Ñāṇañca pana me dassanaṃ udapādi – ‘akuppā me vimutti, ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo’’’ti.
Bhikkhus, as long as my knowledge and vision of these Four Noble Truths, as they truly are, in their three rounds and twelve aspects, was not thoroughly purified, I did not claim to have fully awakened to unexcelled, perfect enlightenment in this world with its devas, its Māras, and its Brahmās, in this generation with its ascetics and brahmins, its devas and humans. But when my knowledge and vision of these Four Noble Truths, as they truly are, in their three rounds and twelve aspects, was thoroughly purified, then I claimed to have fully awakened to unexcelled, perfect enlightenment in this world with its devas, its Māras, and its Brahmās, in this generation with its ascetics and brahmins, its devas and humans. And the knowledge and vision arose in me: 'Unshakeable is my liberation; this is the final birth; now there is no further becoming.'
“Này các Tỳ khưu, khi nào tri kiến như thật của Ta về bốn Thánh đế này, với ba vòng chuyển và mười hai hành tướng, chưa được hoàn toàn thanh tịnh, thì khi ấy, này các Tỳ khưu, Ta chưa tuyên bố trong thế giới có chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người rằng Ta đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Và này các Tỳ khưu, khi nào tri kiến như thật của Ta về bốn Thánh đế này, với ba vòng chuyển và mười hai hành tướng, đã được hoàn toàn thanh tịnh, thì khi ấy, này các Tỳ khưu, Ta mới tuyên bố trong thế giới có chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người rằng Ta đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Và tri kiến đã sanh khởi nơi Ta: ‘Sự giải thoát của Ta là bất động. Đây là đời sống cuối cùng. Nay không còn tái sanh nữa.’”
Idamavoca bhagavā. Attamanā pañcavaggiyā bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.
The Blessed One said this. Delighted, the bhikkhus of the group of five rejoiced in the Blessed One's words.
Đức Thế Tôn đã thuyết như vậy. Nhóm năm vị Tỳ khưu hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.
Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṃ bhaññamāne āyasmato koṇḍaññassa virajaṃ vītamalaṃ dhammacakkhuṃ udapādi – ‘‘yaṃ kiñci samudayadhammaṃ, sabbaṃ taṃ nirodhadhamma’’nti.
And while this exposition was being spoken, the dust-free, stainless Dhamma-eye arose for the Venerable Koṇḍañña: 'Whatever is subject to arising is all subject to cessation.'
Và khi bài pháp thoại này đang được thuyết giảng, pháp nhãn không bụi, không uế đã sanh khởi nơi Tôn giả Koṇḍañña rằng: ‘Bất cứ pháp nào có tánh sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có tánh diệt’.
Pavattite ca pana bhagavatā dhammacakke bhummā † devā saddamanussāvesuṃ – ‘‘etaṃ bhagavatā bārāṇasiyaṃ isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmi’’nti. Bhummānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā cātumahārājikā † devā saddamanussāvesuṃ…pe… cātumahārājikānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā tāvatiṃsā devā…pe… yāmā devā…pe… tusitā devā…pe… nimmānaratī devā…pe… paranimmitavasavattī devā…pe… brahmakāyikā devā saddamanussāvesuṃ – ‘‘etaṃ bhagavatā bārāṇasiyaṃ isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmi’’nti.
When the Wheel of Dhamma had been set in motion by the Blessed One, the earth-dwelling deities proclaimed: 'At Bārāṇasī, in the Deer Park at Isipatana, the unsurpassed Wheel of Dhamma has been set in motion by the Blessed One, which cannot be turned back by any ascetic or brahmin, deva or Māra, Brahmā or anyone in the world.' Hearing the proclamation of the earth-dwelling deities, the deities of the Four Great Kings proclaimed… Hearing the proclamation of the deities of the Four Great Kings, the Tāvatiṃsa deities proclaimed… the Yāma deities proclaimed… the Tusita deities proclaimed… the Nimmānaratī deities proclaimed… the Paranimmitavasavattī deities proclaimed… the deities of the Brahmā realm proclaimed: 'At Bārāṇasī, in the Deer Park at Isipatana, the unsurpassed Wheel of Dhamma has been set in motion by the Blessed One, which cannot be turned back by any ascetic or brahmin, deva or Māra, Brahmā or anyone in the world.'
Và khi Bánh xe Pháp được Đức Thế Tôn chuyển vận, các vị Địa thiên đã cất lên tiếng tung hô: ‘Tại Bārāṇasī, ở Isipatana, Migadāya, Bánh xe Pháp vô thượng này đã được Đức Thế Tôn chuyển vận, không thể bị đảo ngược bởi Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm thiên, hay bất cứ ai trong thế gian’. Nghe tiếng tung hô của các vị Địa thiên, các vị trời Tứ Đại Thiên Vương đã cất lên tiếng tung hô… (cho đến)… các vị trời ở cõi Phạm thiên đã cất lên tiếng tung hô: ‘Tại Bārāṇasī, ở Isipatana, Migadāya, Bánh xe Pháp vô thượng này đã được Đức Thế Tôn chuyển vận, không thể bị đảo ngược bởi Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm thiên, hay bất cứ ai trong thế gian’.
Itiha tena khaṇena tena layena tena muhuttena yāva brahmalokā saddo abbhuggacchi. Ayañca dasasahassī lokadhātu saṃkampi sampakampi sampavedhi, appamāṇo ca uḷāro obhāso loke pāturahosi atikkamma † devānaṃ devānubhāvanti.
Thus, at that moment, at that instant, at that very minute, the sound traveled up as far as the Brahmā world. And this ten-thousandfold world system shook, quaked, and trembled, and an immeasurable and magnificent radiance appeared in the world, surpassing the divine majesty of the devas.
Như vậy, trong khoảnh khắc ấy, trong sát-na ấy, trong chốc lát ấy, tiếng tung hô đã vang lên đến tận cõi Phạm thiên. Và mười ngàn thế giới này đã rúng động, chấn động, lay động. Và một ánh sáng vô lượng, rộng lớn đã xuất hiện trong thế gian, vượt qua cả oai lực của chư Thiên.
Atha kho bhagavā imaṃ udānaṃ udānesi – ‘‘aññāsi vata, bho, koṇḍañño; aññāsi vata, bho, koṇḍañño’’ti. Iti hidaṃ āyasmato koṇḍaññassa aññāsikoṇḍañño tveva † nāmaṃ ahosi.
Then the Blessed One uttered this inspired utterance: “Koṇḍañña has indeed understood! Koṇḍañña has indeed understood!” Thus, the Venerable Koṇḍañña acquired the name Aññāsi Koṇḍañña.
Khi ấy, Đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này: ‘Này, Koṇḍañña thật đã hiểu rồi! Này, Koṇḍañña thật đã hiểu rồi!’. Vì vậy, Tôn giả Koṇḍañña đã có tên là Aññāsi Koṇḍañña.
[Ka] ‘idaṃ dukkhaṃ ariyasacca’nti pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi’’.
‘This is the noble truth of suffering’—concerning teachings unheard before, vision arose, knowledge arose, wisdom arose, true knowledge arose, light arose.
‘Đây là Khổ Thánh đế’, đối với các pháp chưa từng được nghe trước đây, nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi.
Cakkhuṃ udapādīti – kenaṭṭhena? Ñāṇaṃ udapādīti – kenaṭṭhena? Paññā udapādīti – kenaṭṭhena? Vijjā udapādīti – kenaṭṭhena? Āloko udapādīti – kenaṭṭhena? Cakkhuṃ udapādīti – dassanaṭṭhena. Ñāṇaṃ udapādīti – ñātaṭṭhena. Paññā udapādīti – pajānanaṭṭhena. Vijjā udapādīti – paṭivedhaṭṭhena. Āloko udapādīti – obhāsaṭṭhena.
The eye arose—in what sense? Knowledge arose—in what sense? Wisdom arose—in what sense? Clear knowledge arose—in what sense? Light arose—in what sense? The eye arose—in the sense of seeing. Knowledge arose—in the sense of knowing. Wisdom arose—in the sense of knowing discriminately. Clear knowledge arose—in the sense of penetrating. Light arose—in the sense of illumination.
Nhãn đã sanh khởi, với nghĩa gì? Trí đã sanh khởi, với nghĩa gì? Tuệ đã sanh khởi, với nghĩa gì? Minh đã sanh khởi, với nghĩa gì? Ánh sáng đã sanh khởi, với nghĩa gì? Nhãn đã sanh khởi với nghĩa là thấy. Trí đã sanh khởi với nghĩa là biết. Tuệ đã sanh khởi với nghĩa là biết rõ. Minh đã sanh khởi với nghĩa là thấu suốt. Ánh sáng đã sanh khởi với nghĩa là soi sáng.
Cakkhuṃ dhammo, ñāṇaṃ dhammo, paññā dhammo, vijjā dhammo, āloko dhammo. Ime pañca dhammā dhammapaṭisambhidāya ārammaṇā ceva honti gocarā ca. Ye tassā ārammaṇā te tassā gocarā. Ye tassā gocarā te tassā ārammaṇā. Tena vuccati – ‘‘dhammesu ñāṇaṃ dhammapaṭisambhidā’’.
The eye is a cause, knowledge is a cause, wisdom is a cause, clear knowledge is a cause, light is a cause. These five causes are both the object and the domain of the analytical knowledge of causes. Whatever are its objects, those are its domains. Whatever are its domains, those are its objects. Therefore, it is said: 'Knowledge concerning causes is the analytical knowledge of causes.'
Nhãn là pháp, trí là pháp, tuệ là pháp, minh là pháp, ánh sáng là pháp. Năm pháp này vừa là đối tượng, vừa là cảnh giới của Pháp vô ngại giải. Những gì là đối tượng của pháp ấy, chúng là cảnh giới của pháp ấy. Những gì là cảnh giới của pháp ấy, chúng là đối tượng của pháp ấy. Do đó, được gọi là: ‘Trí tuệ về các pháp là Pháp vô ngại giải’.
Dassanaṭṭho attho, ñātaṭṭho attho, pajānanaṭṭho attho, paṭivedhaṭṭho attho, obhāsaṭṭho attho. Ime pañca atthā atthapaṭisambhidāya ārammaṇā ceva honti gocarā ca. Ye tassā ārammaṇā te tassā gocarā. Ye tassā gocarā te tassā ārammaṇā. Tena vuccati – ‘‘atthesu ñāṇaṃ atthapaṭisambhidā’’.
The nature of seeing is an effect, the nature of knowing is an effect, the nature of knowing discriminately is an effect, the nature of penetrating is an effect, the nature of illumination is an effect. These five effects are both the object and the domain of the analytical knowledge of effects. Whatever are its objects, those are its domains. Whatever are its domains, those are its objects. Therefore, it is said: 'Knowledge concerning effects is the analytical knowledge of effects.'
Nghĩa thấy là nghĩa, nghĩa biết là nghĩa, nghĩa biết rõ là nghĩa, nghĩa thấu suốt là nghĩa, nghĩa soi sáng là nghĩa. Năm nghĩa này vừa là đối tượng, vừa là cảnh giới của Nghĩa vô ngại giải. Những gì là đối tượng của pháp ấy, chúng là cảnh giới của pháp ấy. Những gì là cảnh giới của pháp ấy, chúng là đối tượng của pháp ấy. Do đó, được gọi là: ‘Trí tuệ về các nghĩa là Nghĩa vô ngại giải’.
Pañca dhamme sandassetuṃ byañjananiruttābhilāpā, pañca atthe sandassetuṃ byañjananiruttābhilāpā. Imā dasa niruttiyā niruttipaṭisambhidāya ārammaṇā ceva honti gocarā ca. Ye tassā ārammaṇā te tassā gocarā. Ye tassā gocarā te tassā ārammaṇā. Tena vuccati – ‘‘niruttīsu ñāṇaṃ niruttipaṭisambhidā’’.
To demonstrate the five causes, there are linguistic expressions. To demonstrate the five effects, there are linguistic expressions. These ten expressions are both the object and the domain of the analytical knowledge of expression. Whatever are its objects, those are its domains. Whatever are its domains, those are its objects. Therefore, it is said: 'Knowledge concerning expressions is the analytical knowledge of expression.'
Để chỉ rõ năm pháp, có các từ ngữ, ngôn ngữ, cách diễn đạt. Để chỉ rõ năm nghĩa, có các từ ngữ, ngôn ngữ, cách diễn đạt. Mười ngôn ngữ này vừa là đối tượng, vừa là cảnh giới của Ngữ vô ngại giải. Những gì là đối tượng của pháp ấy, chúng là cảnh giới của pháp ấy. Những gì là cảnh giới của pháp ấy, chúng là đối tượng của pháp ấy. Do đó, được gọi là: ‘Trí tuệ về các ngôn ngữ là Ngữ vô ngại giải’.
Pañcasu dhammesu ñāṇāni, pañcasu atthesu ñāṇāni, dasasu niruttīsu ñāṇāni. Imāni vīsati ñāṇāni paṭibhānapaṭisambhidāya ārammaṇā ceva honti gocarā ca. Ye tassā ārammaṇā te tassā gocarā. Ye tassā gocarā te tassā ārammaṇā. Tena vuccati – ‘‘paṭibhānesu ñāṇaṃ paṭibhānapaṭisambhidā’’.
Knowledges concerning the five causes, knowledges concerning the five effects, and knowledges concerning the ten expressions. These twenty knowledges are both the object and the domain of the analytical knowledge of ready wit. Whatever are its objects, those are its domains. Whatever are its domains, those are its objects. Therefore, it is said: 'Knowledge concerning ready wit is the analytical knowledge of ready wit.'
Các trí tuệ về năm pháp, các trí tuệ về năm nghĩa, các trí tuệ về mười ngôn ngữ. Hai mươi trí tuệ này vừa là đối tượng, vừa là cảnh giới của Biện tài vô ngại giải. Những gì là đối tượng của pháp ấy, chúng là cảnh giới của pháp ấy. Những gì là cảnh giới của pháp ấy, chúng là đối tượng của pháp ấy. Do đó, được gọi là: ‘Trí tuệ về các biện tài là Biện tài vô ngại giải’.
‘‘‘Taṃ kho panidaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ pariññeyya’nti…pe… pariññātanti pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi’’.
'This Noble Truth of Suffering is to be fully understood'... 'It has been fully understood.' Thus, to me, regarding dhammas unheard before, the eye arose, knowledge arose, wisdom arose, true knowledge arose, light arose.
“‘Thánh đế về Khổ này cần phải được liễu tri’... tóm tắt... ‘đã được liễu tri’, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi.”
Cakkhuṃ udapādīti – kenaṭṭhena? Ñāṇaṃ udapādīti – kenaṭṭhena? Paññā udapādīti – kenaṭṭhena? Vijjā udapādīti – kenaṭṭhena? Āloko udapādīti – kenaṭṭhena? Cakkhuṃ udapādīti – dassanaṭṭhena. Ñāṇaṃ udapādīti – ñātaṭṭhena. Paññā udapādīti – pajānanaṭṭhena. Vijjā udapādīti – paṭivedhaṭṭhena. Āloko udapādīti – obhāsaṭṭhena.
'The eye arose'—in what sense? 'Knowledge arose'—in what sense? 'Wisdom arose'—in what sense? 'True knowledge arose'—in what sense? 'Light arose'—in what sense? 'The eye arose'—in the sense of seeing. 'Knowledge arose'—in the sense of knowing. 'Wisdom arose'—in the sense of discerning. 'True knowledge arose'—in the sense of penetration. 'Light arose'—in the sense of illumination.
Nhãn đã sanh khởi, theo nghĩa nào? Trí đã sanh khởi, theo nghĩa nào? Tuệ đã sanh khởi, theo nghĩa nào? Minh đã sanh khởi, theo nghĩa nào? Ánh sáng đã sanh khởi, theo nghĩa nào? Nhãn đã sanh khởi, theo nghĩa là thấy. Trí đã sanh khởi, theo nghĩa là biết. Tuệ đã sanh khởi, theo nghĩa là biết rõ. Minh đã sanh khởi, theo nghĩa là thâm nhập. Ánh sáng đã sanh khởi, theo nghĩa là soi sáng.
Cakkhuṃ dhammo, ñāṇaṃ dhammo, paññā dhammo, vijjā dhammo, āloko dhammo. Ime pañca dhammā dhammapaṭisambhidāya ārammaṇā ceva honti gocarā ca. Ye tassā ārammaṇā te tassā gocarā. Ye tassā gocarā te tassā ārammaṇā. Tena vuccati – ‘‘dhammesu ñāṇaṃ dhammapaṭisambhidā’’.
The eye is a dhamma, knowledge is a dhamma, wisdom is a dhamma, true knowledge is a dhamma, light is a dhamma. These five dhammas are both the objects and the domains of the analytical knowledge of the Dhamma. Whatever are its objects, those are its domains. Whatever are its domains, those are its objects. Therefore, it is said: 'Knowledge in dhammas is the analytical knowledge of the Dhamma.'
Nhãn là pháp, trí là pháp, tuệ là pháp, minh là pháp, ánh sáng là pháp. Năm pháp này vừa là đối tượng, vừa là hành xứ của Pháp vô ngại giải. Những gì là đối tượng của pháp ấy thì cũng là hành xứ của pháp ấy. Những gì là hành xứ của pháp ấy thì cũng là đối tượng của pháp ấy. Do đó, được gọi là: ‘Trí tuệ về các pháp là Pháp vô ngại giải’.
Dassanaṭṭho attho, ñātaṭṭho attho, pajānanaṭṭho attho, paṭivedhaṭṭho attho, obhāsaṭṭho attho. Ime pañca atthā atthapaṭisambhidāya ārammaṇā ceva honti gocarā ca. Ye tassā ārammaṇā te tassā gocarā. Ye tassā gocarā te tassā ārammaṇā. Tena vuccati – ‘‘atthesu ñāṇaṃ atthapaṭisambhidā’’.
The meaning of seeing is a meaning, the meaning of knowing is a meaning, the meaning of discerning is a meaning, the meaning of penetration is a meaning, the meaning of illumination is a meaning. These five meanings are both the objects and the domains of the analytical knowledge of meaning. Whatever are its objects, those are its domains. Whatever are its domains, those are its objects. Therefore, it is said: 'Knowledge in meanings is the analytical knowledge of meaning.'
Nghĩa là thấy là nghĩa, nghĩa là biết là nghĩa, nghĩa là biết rõ là nghĩa, nghĩa là thâm nhập là nghĩa, nghĩa là soi sáng là nghĩa. Năm nghĩa này vừa là đối tượng, vừa là hành xứ của Nghĩa vô ngại giải. Những gì là đối tượng của pháp ấy thì cũng là hành xứ của pháp ấy. Những gì là hành xứ của pháp ấy thì cũng là đối tượng của pháp ấy. Do đó, được gọi là: ‘Trí tuệ về các nghĩa là Nghĩa vô ngại giải’.
Pañca dhamme sandassetuṃ byañjananiruttābhilāpā, pañca atthe sandassetuṃ byañjananiruttābhilāpā. Imā dasa niruttiyo niruttipaṭisambhidāya ārammaṇā ceva honti gocarā ca. Ye tassā ārammaṇā te tassā gocarā. Ye tassā gocarā te tassā ārammaṇā. Tena vuccati – ‘‘niruttīsu ñāṇaṃ niruttipaṭisambhidā’’.
There are expressions, language, and speech to demonstrate the five dhammas; there are expressions, language, and speech to demonstrate the five meanings. These ten linguistic expressions are both the objects and the domains of the analytical knowledge of language. Whatever are its objects, those are its domains. Whatever are its domains, those are its objects. Therefore, it is said: 'Knowledge in language is the analytical knowledge of language.'
Các từ ngữ, ngôn ngữ, cách diễn đạt để chỉ rõ năm pháp; các từ ngữ, ngôn ngữ, cách diễn đạt để chỉ rõ năm nghĩa. Mười loại từ ngữ này vừa là đối tượng, vừa là hành xứ của Từ vô ngại giải. Những gì là đối tượng của pháp ấy thì cũng là hành xứ của pháp ấy. Những gì là hành xứ của pháp ấy thì cũng là đối tượng của pháp ấy. Do đó, được gọi là: ‘Trí tuệ về các từ ngữ là Từ vô ngại giải’.
Pañcasu dhammesu ñāṇāni, pañcasu atthesu ñāṇāni, dasasu niruttīsu ñāṇāni. Imāni vīsati ñāṇāni paṭibhānapaṭisambhidāya ārammaṇā ceva honti gocarā ca. Ye tassā ārammaṇā te tassā gocarā. Ye tassā gocarā te tassā ārammaṇā. Tena vuccati – ‘‘paṭibhānesu ñāṇaṃ paṭibhānapaṭisambhidā’’.
Knowledges in the five phenomena, knowledges in the five meanings, knowledges in the ten expressions—these twenty knowledges are both the objects and the ranges of the analytical knowledge of ready wit. Whatever are its objects, those are its ranges. Whatever are its ranges, those are its objects. Therefore, it is said: 'Knowledge in ready wit is the analytical knowledge of ready wit.'
Các trí tuệ về năm pháp, các trí tuệ về năm nghĩa, các trí tuệ về mười từ ngữ. Hai mươi trí tuệ này vừa là đối tượng, vừa là hành xứ của Biện tài vô ngại giải. Những gì là đối tượng của pháp ấy thì cũng là hành xứ của pháp ấy. Những gì là hành xứ của pháp ấy thì cũng là đối tượng của pháp ấy. Do đó, được gọi là: ‘Trí tuệ về các biện tài là Biện tài vô ngại giải’.
Dukkhe ariyasacce pannarasa dhammā, pannarasa atthā, tiṃsa niruttiyo, saṭṭhi ñāṇāni.
In the Noble Truth of Suffering, there are fifteen phenomena, fifteen meanings, thirty expressions, and sixty knowledges.
Trong Thánh đế về Khổ có mười lăm pháp, mười lăm nghĩa, ba mươi từ ngữ, sáu mươi trí tuệ.
[Kha] ‘‘‘idaṃ dukkhasamudayaṃ ariyasacca’nti pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi. ‘Taṃ kho panidaṃ dukkhasamudayaṃ ariyasaccaṃ pahātabba’nti…pe… pahīnanti pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe. … āloko udapādi…pe…’’.
‘This is the Noble Truth of the Origin of Suffering’—in regard to things unheard before, the eye arose… the light arose. ‘This very Noble Truth of the Origin of Suffering is to be abandoned’… it has been abandoned—in regard to things unheard before, the eye arose… the light arose…
[Kha] “‘Đây là Thánh đế về Nguồn Gốc của Khổ’, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn đã sanh khởi... tóm tắt... ánh sáng đã sanh khởi. ‘Thánh đế về Nguồn Gốc của Khổ này cần phải được đoạn tận’... tóm tắt... ‘đã được đoạn tận’, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn đã sanh khởi... tóm tắt... ánh sáng đã sanh khởi... tóm tắt...”
Dukkhasamudaye ariyasacce pannarasa dhammā, pannarasa atthā, tiṃsa niruttiyo, saṭṭhi ñāṇāni.
In the Noble Truth of the Origin of Suffering, there are fifteen phenomena, fifteen meanings, thirty expressions, and sixty knowledges.
Trong Thánh đế về Nguồn Gốc của Khổ có mười lăm pháp, mười lăm nghĩa, ba mươi từ ngữ, sáu mươi trí tuệ.
[Ga] ‘‘‘idaṃ dukkhanirodhaṃ ariyasacca’nti pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi. ‘Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodhaṃ ariyasaccaṃ sacchikātabba’nti…pe… sacchikatanti pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi…pe…’’.
‘This is the Noble Truth of the Cessation of Suffering’—in regard to things unheard before, the eye arose… the light arose. ‘This Noble Truth of the Cessation of Suffering is to be directly experienced’… it has been directly experienced—in regard to things unheard before, the eye arose… the light arose…
[Ga] “‘Đây là Thánh đế về sự Diệt Khổ’, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn đã sanh khởi... tóm tắt... ánh sáng đã sanh khởi. ‘Thánh đế về sự Diệt Khổ này cần phải được chứng ngộ’... tóm tắt... ‘đã được chứng ngộ’, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn đã sanh khởi... tóm tắt... ánh sáng đã sanh khởi... tóm tắt...”
Dukkhanirodhe ariyasacce pannarasa dhammā, pannarasa atthā, tiṃsa niruttiyo, saṭṭhi ñāṇāni.
In the Noble Truth of the Cessation of Suffering, there are fifteen phenomena, fifteen meanings, thirty expressions, and sixty knowledges.
Trong Thánh đế về sự Diệt Khổ có mười lăm pháp, mười lăm nghĩa, ba mươi từ ngữ, sáu mươi trí tuệ.
[Gha] ‘‘‘idaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasacca’nti pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi. ‘Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ bhāvetabba’nti…pe… bhāvitanti pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi…pe…’’.
‘This is the Noble Truth of the Path Leading to the Cessation of Suffering’—in regard to things unheard before, the eye arose… the light arose. ‘This Noble Truth of the Path Leading to the Cessation of Suffering is to be developed’… it has been developed—in regard to things unheard before, the eye arose… the light arose…
[Gha] “‘Đây là Thánh đế về Con Đường đưa đến sự Diệt Khổ’, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn đã sanh khởi... tóm tắt... ánh sáng đã sanh khởi. ‘Thánh đế về Con Đường đưa đến sự Diệt Khổ này cần phải được tu tập’... tóm tắt... ‘đã được tu tập’, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn đã sanh khởi... tóm tắt... ánh sáng đã sanh khởi... tóm tắt...”
Dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ariyasacce pannarasa dhammā, pannarasa atthā, tiṃsa niruttiyo, saṭṭhi ñāṇāni.
In the Noble Truth of the Path Leading to the Cessation of Suffering, there are fifteen phenomena, fifteen meanings, thirty expressions, and sixty knowledges.
Trong Thánh đế về Con Đường đưa đến sự Diệt Khổ có mười lăm pháp, mười lăm nghĩa, ba mươi từ ngữ, sáu mươi trí tuệ.
Catūsu ariyasaccesu saṭṭhi dhammā, saṭṭhi atthā, vīsatisataniruttiyo, cattālīsañca dve ca ñāṇasatāni.
In the four Noble Truths, there are sixty dhammas, sixty meanings, one hundred and twenty expressions, and two hundred and forty knowledges.
Trong bốn Thánh đế có sáu mươi pháp, sáu mươi nghĩa, một trăm hai mươi từ ngữ, và hai trăm bốn mươi trí tuệ.
2. Satipaṭṭhānavāro
2. The Section on the Establishments of Mindfulness
2. Phần Niệm Xứ
31. ‘‘‘Ayaṃ kāye kāyānupassanā’ti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi. Sā kho panāyaṃ kāye kāyānupassanā bhāvetabbāti me, bhikkhave,…pe… bhāvitāti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi’’.
31. Bhikkhus, ‘This is the contemplation of the body in the body’—thus to me, concerning dhammas unheard before, the eye arose... light arose. ‘And that very contemplation of the body in the body is to be developed’—thus to me, Bhikkhus... ‘It has been developed’—thus to me, Bhikkhus, concerning dhammas unheard before, the eye arose... light arose.
31. “Này các Tỳ khưu, ‘Đây là sự quán thân trên thân’, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn đã sanh khởi... tóm tắt... ánh sáng đã sanh khởi nơi ta. Này các Tỳ khưu, ‘Sự quán thân trên thân ấy cần phải được tu tập’... tóm tắt... Này các Tỳ khưu, ‘đã được tu tập’, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn đã sanh khởi... tóm tắt... ánh sáng đã sanh khởi nơi ta.”
‘‘Ayaṃ vedanāsu…pe… ayaṃ citte…pe… ayaṃ dhammesu dhammānupassanāti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi. Sā kho panāyaṃ dhammesu dhammānupassanā bhāvetabbā ti…pe… bhāvitāti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi’’.
‘This is the contemplation of feelings in feelings’... ‘This is the contemplation of the mind in the mind’... ‘This is the contemplation of dhammas in dhammas’—thus to me, Bhikkhus, concerning dhammas unheard before, the eye arose... light arose. ‘And that very contemplation of dhammas in dhammas is to be developed’... ‘It has been developed’—thus to me, Bhikkhus, concerning dhammas unheard before, the eye arose... light arose.
“‘Đây là sự quán thọ trên các thọ’... tóm tắt... ‘Đây là sự quán tâm trên tâm’... tóm tắt... Này các Tỳ khưu, ‘Đây là sự quán pháp trên các pháp’, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn đã sanh khởi... tóm tắt... ánh sáng đã sanh khởi nơi ta. ‘Sự quán pháp trên các pháp ấy cần phải được tu tập’... tóm tắt... Này các Tỳ khưu, ‘đã được tu tập’, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn đã sanh khởi... tóm tắt... ánh sáng đã sanh khởi nơi ta.”
[Ka] ‘‘‘ayaṃ kāye kāyānupassanā’ti pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi…pe… sā kho panāyaṃ kāye kāyānupassanā bhāvetabbāti…pe… bhāvitāti pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi’’.
[Ka] ‘This is the contemplation of the body in the body’—thus, concerning dhammas unheard before, the eye arose... light arose... ‘And that very contemplation of the body in the body is to be developed’... ‘It has been developed’—thus, concerning dhammas unheard before, the eye arose, knowledge arose, wisdom arose, true knowledge arose, and light arose.
[Ka] “‘Đây là sự quán thân trên thân’, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn đã sanh khởi... tóm tắt... ánh sáng đã sanh khởi... tóm tắt... ‘Sự quán thân trên thân ấy cần phải được tu tập’... tóm tắt... ‘đã được tu tập’, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi.”
Cakkhuṃ udapādīti – kenaṭṭhena? Ñāṇaṃ udapādīti – kenaṭṭhena? Paññā udapādīti – kenaṭṭhena? Vijjā udapādīti – kenaṭṭhena? Āloko udapādīti – kenaṭṭhena? Cakkhuṃ udapādīti – dassanaṭṭhena. Ñāṇaṃ udapādīti – ñātaṭṭhena. Paññā udapādīti – pajānanaṭṭhena. Vijjā udapādīti – paṭivedhaṭṭhena. Āloko udapādīti – obhāsaṭṭhena.
‘The eye arose’—in what sense? ‘Knowledge arose’—in what sense? ‘Wisdom arose’—in what sense? ‘True knowledge arose’—in what sense? ‘Light arose’—in what sense? ‘The eye arose’—in the sense of seeing. ‘Knowledge arose’—in the sense of knowing. ‘Wisdom arose’—in the sense of discerning. ‘True knowledge arose’—in the sense of penetration. ‘Light arose’—in the sense of radiance.
Tuệ nhãn đã sanh khởi – với ý nghĩa nào? Trí đã sanh khởi – với ý nghĩa nào? Tuệ đã sanh khởi – với ý nghĩa nào? Minh đã sanh khởi – với ý nghĩa nào? Ánh sáng đã sanh khởi – với ý nghĩa nào? Tuệ nhãn đã sanh khởi – với ý nghĩa là thấy. Trí đã sanh khởi – với ý nghĩa là biết. Tuệ đã sanh khởi – với ý nghĩa là biết một cách phân biệt. Minh đã sanh khởi – với ý nghĩa là thâm nhập. Ánh sáng đã sanh khởi – với ý nghĩa là chiếu sáng.
Cakkhuṃ dhammo, ñāṇaṃ dhammo, paññā dhammo, vijjā dhammo, āloko dhammo. Ime pañca dhammā dhammapaṭisambhidāya ārammaṇā ceva honti gocarā ca. Ye tassā ārammaṇā te tassā gocarā. Ye tassā gocarā te tassā ārammaṇā. Tena vuccati – ‘‘dhammesu ñāṇaṃ dhammapaṭisambhidā’’.
The eye of wisdom is the Dhamma, knowledge is the Dhamma, wisdom is the Dhamma, direct knowledge is the Dhamma, light is the Dhamma. These five Dhammas are both the objects and the domains of the analytical knowledge of the Dhamma. Whatever are its objects, those are its domains. Whatever are its domains, those are its objects. Therefore, it is said: ‘Knowledge in the Dhammas is the analytical knowledge of the Dhamma.’
Tuệ nhãn là pháp, trí là pháp, tuệ là pháp, minh là pháp, ánh sáng là pháp. Năm pháp này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của pháp vô ngại giải. Những gì là đối tượng của pháp vô ngại giải ấy thì cũng là hành xứ của nó. Những gì là hành xứ của pháp vô ngại giải ấy thì cũng là đối tượng của nó. Do đó được nói rằng: ‘Trí về các pháp là pháp vô ngại giải’.
Dassanaṭṭho attho, ñātaṭṭho attho, pajānanaṭṭho attho, paṭivedhaṭṭho attho, obhāsaṭṭho attho. Ime pañca atthā atthapaṭisambhidāya ārammaṇā ceva honti gocarā ca. Ye tassā ārammaṇā te tassā gocarā. Ye tassā gocarā te tassā ārammaṇā. Tena vuccati – ‘‘atthesu ñāṇaṃ atthapaṭisambhidā’’.
The nature of seeing is the meaning, the nature of knowing is the meaning, the nature of understanding is the meaning, the nature of penetrating is the meaning, the nature of illuminating is the meaning. These five meanings are both the objects and the domains of the analytical knowledge of meaning. Whatever are its objects, those are its domains. Whatever are its domains, those are its objects. Therefore, it is said: ‘Knowledge in meanings is the analytical knowledge of meaning.’
Ý nghĩa thấy là nghĩa, ý nghĩa biết là nghĩa, ý nghĩa biết một cách phân biệt là nghĩa, ý nghĩa thâm nhập là nghĩa, ý nghĩa chiếu sáng là nghĩa. Năm nghĩa này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của nghĩa vô ngại giải. Những gì là đối tượng của nghĩa vô ngại giải ấy thì cũng là hành xứ của nó. Những gì là hành xứ của nghĩa vô ngại giải ấy thì cũng là đối tượng của nó. Do đó được nói rằng: ‘Trí về các nghĩa là nghĩa vô ngại giải’.
Pañca dhamme sandassetuṃ byañjananiruttābhilāpā, pañca atthe sandassetuṃ byañjananiruttābhilāpā. Imā dasa niruttiyo niruttipaṭisambhidāya ārammaṇā ceva honti gocarā ca. Ye tassā ārammaṇā te tassā gocarā. Ye tassā gocarā te tassā ārammaṇā. Tena vuccati – ‘‘niruttīsu ñāṇaṃ niruttipaṭisambhidā’’.
To show the five causes (dhammas), there are expressions; to show the five results (atthas), there are expressions. These ten expressions are both the objects and the domains of the analytical knowledge of language. Whatever are its objects, those are its domains. Whatever are its domains, those are its objects. Therefore, it is said: ‘Knowledge in expressions is the analytical knowledge of language.’
Những cách diễn đạt, ngôn ngữ, văn tự để chỉ rõ năm pháp; những cách diễn đạt, ngôn ngữ, văn tự để chỉ rõ năm nghĩa. Mười ngôn ngữ này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của từ vô ngại giải. Những gì là đối tượng của từ vô ngại giải ấy thì cũng là hành xứ của nó. Những gì là hành xứ của từ vô ngại giải ấy thì cũng là đối tượng của nó. Do đó được nói rằng: ‘Trí về các ngôn ngữ là từ vô ngại giải’.
Pañcasu dhammesu ñāṇāni, pañcasu atthesu ñāṇāni, dasasu niruttīsu ñāṇāni. Imāni vīsati ñāṇāni paṭibhānapaṭisambhidāya ārammaṇā ceva honti gocarā ca. Ye tassā ārammaṇā te tassā gocarā. Ye tassā gocarā te tassā ārammaṇā. Tena vuccati – ‘‘paṭibhānesu ñāṇaṃ paṭibhānapaṭisambhidā’’.
The knowledges in the five causes (dhammas), the knowledges in the five results (atthas), and the knowledges in the ten expressions—these twenty knowledges are both the objects and the domains of the analytical knowledge of ready wit. Whatever are its objects, those are its domains. Whatever are its domains, those are its objects. Therefore, it is said: ‘Knowledge in these instances of ready wit is the analytical knowledge of ready wit.’
Các trí về năm pháp, các trí về năm nghĩa, các trí về mười ngôn ngữ. Hai mươi trí này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của biện tài vô ngại giải. Những gì là đối tượng của biện tài vô ngại giải ấy thì cũng là hành xứ của nó. Những gì là hành xứ của biện tài vô ngại giải ấy thì cũng là đối tượng của nó. Do đó được nói rằng: ‘Trí về các biện tài là biện tài vô ngại giải’.
Kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhāne pannarasa dhammā, pannarasa atthā, tiṃsa niruttiyo, saṭṭhi ñāṇāni.
In the establishment of mindfulness of contemplation of the body in the body, there are fifteen causes (dhammas), fifteen results (atthas), thirty expressions, and sixty knowledges.
Trong niệm xứ quán thân trên thân có mười lăm pháp, mười lăm nghĩa, ba mươi ngôn ngữ, sáu mươi trí.
[Kha-gha] ‘‘ayaṃ vedanāsu…pe… ayaṃ citte…pe… ayaṃ dhammesu dhammānupassanāti pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi…pe… sā kho panāyaṃ dhammesu dhammānupassanā bhāvetabbā ti…pe… bhāvitāti pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi…pe…’’.
[Kha-gha] ‘This is the contemplation of feelings in feelings… This is the contemplation of the mind in the mind… This is the contemplation of phenomena in phenomena.’ Thus, in regard to these teachings unheard before, the eye of wisdom arose, knowledge arose, wisdom arose, direct knowledge arose, light arose… ‘And this contemplation of phenomena in phenomena is to be developed.’… ‘It has been developed.’ Thus, in regard to these teachings unheard before, the eye of wisdom arose, knowledge arose, wisdom arose, direct knowledge arose, light arose…
[Kha-gha] ‘Đây là (quán) ở các cảm thọ... (lược)... đây là (quán) ở tâm... (lược)... đây là quán pháp ở các pháp’ – đối với các pháp chưa từng được nghe trước đây, tuệ nhãn đã sanh khởi... (lược)... ánh sáng đã sanh khởi... (lược)... ‘Quán pháp ở các pháp ấy cần được tu tập’... (lược)... ‘đã được tu tập’ – đối với các pháp chưa từng được nghe trước đây, tuệ nhãn đã sanh khởi... (lược)... ánh sáng đã sanh khởi... (lược)...
Dhammesu dhammānupassanā satipaṭṭhāne pannarasa dhammā, pannarasa atthā, tiṃsa niruttiyo, saṭṭhi ñāṇāni.
In the contemplation of phenomena as phenomena within the establishment of mindfulness, there are fifteen phenomena, fifteen meanings, thirty expressions, and sixty knowledges.
Trong niệm xứ quán pháp ở các pháp có mười lăm pháp, mười lăm nghĩa, ba mươi ngôn ngữ, sáu mươi trí.
Catūsu satipaṭṭhānesu saṭṭhi dhammā, saṭṭhi atthā, vīsatisataniruttiyo, cattālīsañca dve ca ñāṇasatāni.
In the four establishments of mindfulness, there are sixty phenomena, sixty meanings, one hundred and twenty expressions, and two hundred and forty knowledges.
Trong bốn niệm xứ có sáu mươi pháp, sáu mươi nghĩa, một trăm hai mươi ngôn ngữ, hai trăm bốn mươi trí.
3. Iddhipādavāro
3. The Section on the Bases of Spiritual Power
3. Phần về Thần Túc
32. ‘‘Ayaṃ chandasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgato iddhipādoti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi. So kho panāyaṃ chandasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgato iddhipādo bhāvetabboti me, bhikkhave…pe… bhāvitoti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi.
32. “‘This is the basis of spiritual power endowed with concentration of desire and volitional formations of striving’—in me, bhikkhus, with regard to doctrines unheard before, the eye arose… light arose. ‘And this basis of spiritual power endowed with concentration of desire and volitional formations of striving is to be developed’—in me, bhikkhus… ‘It has been developed’—in me, bhikkhus, with regard to doctrines unheard before, the eye arose… light arose.”
32. ‘Này các Tỳ khưu, đối với Ta, đây là thần túc được trang bị định do dục và các hành tinh cần’ – đối với các pháp chưa từng được nghe trước đây, tuệ nhãn đã sanh khởi... (lược)... ánh sáng đã sanh khởi. ‘Này các Tỳ khưu, đối với Ta, thần túc được trang bị định do dục và các hành tinh cần ấy cần được tu tập’... (lược)... ‘Này các Tỳ khưu, đối với Ta, đã được tu tập’ – đối với các pháp chưa từng được nghe trước đây, tuệ nhãn đã sanh khởi... (lược)... ánh sáng đã sanh khởi.
‘‘Ayaṃ vīriyasamādhi…pe… ayaṃ cittasamādhi…pe… ayaṃ vīmaṃsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgato iddhipādoti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi. So kho panāyaṃ vīmaṃsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgato iddhipādo bhāvetabboti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi’’.
“‘This is the basis of spiritual power endowed with concentration of energy… this is the basis of spiritual power endowed with concentration of mind… this is the basis of spiritual power endowed with concentration of investigation and volitional formations of striving’—in me, bhikkhus, with regard to doctrines unheard before, the eye arose… light arose. ‘And this basis of spiritual power endowed with concentration of investigation and volitional formations of striving is to be developed’—in me, bhikkhus, with regard to doctrines unheard before, the eye arose… light arose.”
‘Đây là định do tấn... (lược)... đây là định do tâm... (lược)... Này các Tỳ khưu, đối với Ta, đây là thần túc được trang bị định do thẩm và các hành tinh cần’ – đối với các pháp chưa từng được nghe trước đây, tuệ nhãn đã sanh khởi... (lược)... ánh sáng đã sanh khởi. ‘Này các Tỳ khưu, đối với Ta, thần túc được trang bị định do thẩm và các hành tinh cần ấy cần được tu tập’ – đối với các pháp chưa từng được nghe trước đây, tuệ nhãn đã sanh khởi... (lược)... ánh sáng đã sanh khởi’.
[Ka] ‘‘‘ayaṃ chandasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgato iddhipādo’ti pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi…pe… so kho panāyaṃ chandasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgato iddhipādo bhāvetabboti…pe… bhāvitoti pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi’’.
[Ka] “‘This is the basis of spiritual power endowed with concentration of desire and volitional formations of striving’—in regard to doctrines unheard before, the eye arose… light arose… ‘And this basis of spiritual power endowed with concentration of desire and volitional formations of striving is to be developed’… ‘It has been developed’—in regard to doctrines unheard before, the eye arose, knowledge arose, wisdom arose, true knowledge arose, light arose.”
[Ka] “‘Đây là thần túc được trang bị định do dục và các hành tinh cần’ – đối với các pháp chưa từng được nghe trước đây, tuệ nhãn đã sanh khởi... (lược)... ánh sáng đã sanh khởi... (lược)... ‘Thần túc được trang bị định do dục và các hành tinh cần ấy cần được tu tập’... (lược)... ‘đã được tu tập’ – đối với các pháp chưa từng được nghe trước đây, tuệ nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi’.
Cakkhuṃ udapādīti – kenaṭṭhena? Ñāṇaṃ udapādīti – kenaṭṭhena? Paññā udapādīti – kenaṭṭhena? Vijjā udapādīti – kenaṭṭhena? Āloko udapādīti – kenaṭṭhena? Cakkhuṃ udapādīti – dassanaṭṭhena. Ñāṇaṃ udapādīti – ñātaṭṭhena. Paññā udapādīti – pajānanaṭṭhena. Vijjā udapādīti – paṭivedhaṭṭhena. Āloko udapādīti – obhāsaṭṭhena.
“The eye arose”—in what sense? “Knowledge arose”—in what sense? “Wisdom arose”—in what sense? “True knowledge arose”—in what sense? “Light arose”—in what sense? “The eye arose”—in the sense of seeing. “Knowledge arose”—in the sense of knowing. “Wisdom arose”—in the sense of understanding. “True knowledge arose”—in the sense of penetration. “Light arose”—in the sense of illumination.
Tuệ nhãn đã sanh khởi – với ý nghĩa nào? Trí đã sanh khởi – với ý nghĩa nào? Tuệ đã sanh khởi – với ý nghĩa nào? Minh đã sanh khởi – với ý nghĩa nào? Ánh sáng đã sanh khởi – với ý nghĩa nào? Tuệ nhãn đã sanh khởi – với ý nghĩa là thấy. Trí đã sanh khởi – với ý nghĩa là biết. Tuệ đã sanh khởi – với ý nghĩa là biết một cách phân biệt. Minh đã sanh khởi – với ý nghĩa là thâm nhập. Ánh sáng đã sanh khởi – với ý nghĩa là chiếu sáng.
Cakkhuṃ dhammo, ñāṇaṃ dhammo, paññā dhammo, vijjā dhammo, āloko dhammo. Ime pañca dhammā dhammapaṭisambhidāya ārammaṇā ceva honti gocarā ca. Ye tassā ārammaṇā te tassā gocarā. Ye tassā gocarā te tassā ārammaṇā. Tena vuccati – ‘‘dhammesu ñāṇaṃ dhammapaṭisambhidā’’.
The eye is a phenomenon, knowledge is a phenomenon, wisdom is a phenomenon, true knowledge is a phenomenon, light is a phenomenon. These five phenomena are both the objects and the range for the analytical knowledge of phenomena. Whatever are its objects, they are its range. Whatever is its range, they are its objects. Therefore, it is said: ‘Knowledge in phenomena is the analytical knowledge of phenomena.’
Nhãn là pháp, trí là pháp, tuệ là pháp, minh là pháp, ánh sáng là pháp. Năm pháp này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của Pháp Vô Ngại Giải. Những gì là đối tượng của pháp ấy, chúng là hành xứ của pháp ấy. Những gì là hành xứ của pháp ấy, chúng là đối tượng của pháp ấy. Do đó được nói rằng: ‘Trí về các pháp là Pháp Vô Ngại Giải’.
Dassanaṭṭho attho, ñātaṭṭho attho, pajānanaṭṭho attho, paṭivedhaṭṭho attho, obhāsaṭṭho attho. Ime pañca atthā atthapaṭisambhidāya ārammaṇā ceva honti gocarā ca. Ye tassā ārammaṇā te tassā gocarā. Ye tassā gocarā te tassā ārammaṇā. Tena vuccati – ‘‘atthesu ñāṇaṃ atthapaṭisambhidā’’.
The meaning of seeing, the meaning of knowing, the meaning of understanding, the meaning of penetrating, the meaning of illuminating—these five meanings are both the objects and the range of the analytical knowledge of meaning. Whatever are its objects, they are its range. Whatever is its range, they are its objects. Therefore, it is said: ‘Knowledge in meanings is the analytical knowledge of meaning.’
Ý nghĩa thấy là nghĩa, ý nghĩa biết là nghĩa, ý nghĩa biết rõ là nghĩa, ý nghĩa thâm nhập là nghĩa, ý nghĩa chiếu sáng là nghĩa. Năm nghĩa này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của Nghĩa Vô Ngại Giải. Những gì là đối tượng của pháp ấy, chúng là hành xứ của pháp ấy. Những gì là hành xứ của pháp ấy, chúng là đối tượng của pháp ấy. Do đó được nói rằng: ‘Trí về các nghĩa là Nghĩa Vô Ngại Giải’.
Pañca dhamme sandassetuṃ byañjananiruttābhilāpā, pañca atthe sandassetuṃ byañjananiruttābhilāpā. Imā dasa niruttiyo niruttipaṭisambhidāya ārammaṇā ceva honti gocarā ca. Ye tassā ārammaṇā te tassā gocarā. Ye tassā gocarā te tassā ārammaṇā. Tena vuccati – ‘‘niruttīsu ñāṇaṃ niruttipaṭisambhidā’’.
There are linguistic expressions to show the five phenomena, and linguistic expressions to show the five meanings. These ten expressions are both the objects and the range of the analytical knowledge of language. Whatever are its objects, they are its range. Whatever is its range, they are its objects. Therefore, it is said: ‘Knowledge in language is the analytical knowledge of language.’
Các ngôn từ ngữ nguyên để trình bày rõ năm pháp nhân, các ngôn từ ngữ nguyên để trình bày rõ năm pháp quả. Mười ngữ nguyên này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của Vô ngại giải về ngữ. Những gì là đối tượng của Vô ngại giải ấy thì là hành xứ của Vô ngại giải ấy. Những gì là hành xứ của Vô ngại giải ấy thì là đối tượng của Vô ngại giải ấy. Do đó, được gọi là: ‘Trí tuệ về các ngữ nguyên là Vô ngại giải về ngữ’.
Pañcasu dhammesu ñāṇāni, pañcasu atthesu ñāṇāni, dasasu niruttīsu ñāṇāni. Imāni vīsati ñāṇāni paṭibhānapaṭisambhidāya ārammaṇā ceva honti gocarā ca. Ye tassā ārammaṇā te tassā gocarā. Ye tassā gocarā te tassā ārammaṇā. Tena vuccati – ‘‘paṭibhānesu ñāṇaṃ paṭibhānapaṭisambhidā’’.
Knowledges in the five phenomena, knowledges in the five meanings, knowledges in the ten expressions—these twenty knowledges are both the objects and the range of the analytical knowledge of ready wit. Whatever are its objects, they are its range; whatever is its range, they are its objects. Therefore it is said, ‘Knowledge in ready wit is the analytical knowledge of ready wit.’
Các trí tuệ về năm pháp nhân, các trí tuệ về năm pháp quả, các trí tuệ về mười ngữ nguyên. Hai mươi trí tuệ này vừa là đối tượng vừa là hành xứ của Vô ngại giải về biện tài. Những gì là đối tượng của Vô ngại giải ấy thì là hành xứ của Vô ngại giải ấy. Những gì là hành xứ của Vô ngại giải ấy thì là đối tượng của Vô ngại giải ấy. Do đó, được gọi là: ‘Trí tuệ về các biện tài là Vô ngại giải về biện tài’.
Chandasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgate iddhipāde pannarasa dhammā, pannarasa atthā, tiṃsa niruttiyo, saṭṭhi ñāṇāni.
In the basis of spiritual power endowed with concentration of desire and volitional formations of striving, there are fifteen causes, fifteen results, thirty expressions, and sixty knowledges.
Trong thần túc được trang bị định do dục làm chủ và các hành tinh tấn có mười lăm pháp nhân, mười lăm pháp quả, ba mươi ngữ nguyên, sáu mươi trí tuệ.
[Kha-gha] ‘‘ayaṃ vīriyasamādhi…pe… ayaṃ cittasamādhi…pe… ayaṃ vīmaṃsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgato iddhipādoti pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi…pe… so kho panāyaṃ vīmaṃsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgato iddhipādo bhāvetabboti…pe… bhāvitoti pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi…pe…’’.
“This is the basis of spiritual power endowed with concentration of energy… This is the basis of spiritual power endowed with concentration of mind… This is the basis of spiritual power endowed with concentration of investigation and volitional formations of striving”—thus, in regard to doctrines unheard before, the eye arose… light arose… “And this basis of spiritual power endowed with concentration of investigation and volitional formations of striving is to be developed”… “It has been developed”—thus, in regard to doctrines unheard before, the eye arose… light arose…
[Kha-gha] ‘Đây là định do cần... ...đây là định do tâm... ...đây là thần túc được trang bị định do thẩm làm chủ và các hành tinh tấn,’ đối với các pháp chưa từng được nghe trước đây, nhãn đã sanh khởi... ...ánh sáng đã sanh khởi... ...‘Thần túc được trang bị định do thẩm làm chủ và các hành tinh tấn ấy cần được tu tập’... ...‘đã được tu tập,’ đối với các pháp chưa từng được nghe trước đây, nhãn đã sanh khởi... ...ánh sáng đã sanh khởi...
Vīmaṃsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgate iddhipāde pannarasa dhammā, pannarasa atthā, tiṃsa niruttiyo, saṭṭhi ñāṇāni.
In the basis of spiritual power endowed with concentration of investigation and volitional formations of striving, there are fifteen causes, fifteen results, thirty expressions, and sixty knowledges.
Trong thần túc được trang bị định do thẩm làm chủ và các hành tinh tấn có mười lăm pháp nhân, mười lăm pháp quả, ba mươi ngữ nguyên, sáu mươi trí tuệ.
Catūsu iddhipādesu saṭṭhi dhammā, saṭṭhi atthā, vīsatisataniruttiyo, cattālīsañca dve ca ñāṇasatāni.
In the four bases of spiritual power, there are sixty causes, sixty results, one hundred and twenty expressions, and two hundred and forty knowledges.
Trong bốn thần túc có sáu mươi pháp nhân, sáu mươi pháp quả, một trăm hai mươi ngữ nguyên, và hai trăm bốn mươi trí tuệ.
4. Sattabodhisattavāro
4. The Chapter on the Seven Bodhisattas
4. Phần về Bảy Vị Bồ Tát
33. ‘‘‘Samudayo samudayo’ti kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi. ‘Nirodho nirodho’ti kho, bhikkhave, vipassissa bodhisattassa pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi’’. Vipassissa bodhisattassa veyyākaraṇe dasa dhammā, dasa atthā, vīsati niruttiyo, cattālīsaṃ † ñāṇāni.
33. ‘Origination, origination’—thus, bhikkhus, for the Bodhisatta Vipassī, concerning doctrines unheard before, vision arose… light arose. ‘Cessation, cessation’—thus, bhikkhus, for the Bodhisatta Vipassī, concerning doctrines unheard before, vision arose… light arose. In the Bodhisatta Vipassī’s exposition, there are ten causes, ten results, twenty expressions, and forty knowledges.
33. ‘Này các Tỳ khưu, ‘Tập khởi, tập khởi,’ đối với Bồ-tát Vipassī, về các pháp chưa từng được nghe trước đây, nhãn đã sanh khởi... ...ánh sáng đã sanh khởi. Này các Tỳ khưu, ‘Diệt, diệt,’ đối với Bồ-tát Vipassī, về các pháp chưa từng được nghe trước đây, nhãn đã sanh khởi... ...ánh sáng đã sanh khởi.’ Trong phần ký thuyết của Bồ-tát Vipassī có mười pháp nhân, mười pháp quả, hai mươi ngữ nguyên, bốn mươi trí tuệ.
‘‘‘Samudayo samudayo’ti kho, bhikkhave, sikhissa bodhisattassa…pe… vessabhussa bodhisattassa…pe… kakusandhassa bodhisattassa…pe… koṇāgamanassa bodhisattassa…pe… kassapassa bodhisattassa pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi. ‘Nirodho nirodho’ti kho, bhikkhave, kassapassa bodhisattassa pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi’’. Kassapassa bodhisattassa veyyākaraṇe dasa dhammā, dasa atthā, vīsati niruttiyo, cattālīsa ñāṇāni.
‘Origination, origination’—thus, bhikkhus, for the Bodhisatta Sikhī, for the Bodhisatta Vessabhū, for the Bodhisatta Kakusandha, for the Bodhisatta Koṇāgamana, and for the Bodhisatta Kassapa, concerning doctrines unheard before, vision arose... light arose. ‘Cessation, cessation’—thus, bhikkhus, for the Bodhisatta Kassapa, concerning doctrines unheard before, vision arose... light arose. In the exposition of the Bodhisatta Kassapa, there are ten principles, ten meanings, twenty expressions, and forty knowledges.
‘Này các Tỳ khưu, ‘Tập khởi, tập khởi,’ đối với Bồ-tát Sikhī... ...đối với Bồ-tát Vessabhū... ...đối với Bồ-tát Kakusandha... ...đối với Bồ-tát Koṇāgamana... ...đối với Bồ-tát Kassapa, về các pháp chưa từng được nghe trước đây, nhãn đã sanh khởi... ...ánh sáng đã sanh khởi. Này các Tỳ khưu, ‘Diệt, diệt,’ đối với Bồ-tát Kassapa, về các pháp chưa từng được nghe trước đây, nhãn đã sanh khởi... ...ánh sáng đã sanh khởi.’ Trong phần ký thuyết của Bồ-tát Kassapa có mười pháp nhân, mười pháp quả, hai mươi ngữ nguyên, bốn mươi trí tuệ.
‘‘‘Samudayo samudayo’ti kho, bhikkhave, gotamassa bodhisattassa pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi. ‘Nirodho nirodho’ti kho, bhikkhave, gotamassa bodhisattassa pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi’’. Gotamassa bodhisattassa veyyākaraṇe dasa dhammā, dasa atthā, vīsati niruttiyo, cattālīsa ñāṇāni.
‘Origination, origination’—thus, bhikkhus, for the Bodhisatta Gotama, concerning doctrines unheard before, vision arose... light arose. ‘Cessation, cessation’—thus, bhikkhus, for the Bodhisatta Gotama, concerning doctrines unheard before, vision arose... light arose. In the exposition of the Bodhisatta Gotama, there are ten principles, ten meanings, twenty expressions, and forty knowledges.
‘Này các Tỳ khưu, ‘Tập khởi, tập khởi,’ đối với Bồ-tát Gotama, về các pháp chưa từng được nghe trước đây, nhãn đã sanh khởi... ...ánh sáng đã sanh khởi. Này các Tỳ khưu, ‘Diệt, diệt,’ đối với Bồ-tát Gotama, về các pháp chưa từng được nghe trước đây, nhãn đã sanh khởi... ...ánh sáng đã sanh khởi.’ Trong phần ký thuyết của Bồ-tát Gotama có mười pháp nhân, mười pháp quả, hai mươi ngữ nguyên, bốn mươi trí tuệ.
Sattannaṃ bodhisattānaṃ sattasu veyyākaraṇesu sattati dhammā, sattati atthā, cattālīsasataṃ † niruttiyo, asīti ca dve ca ñāṇasatāni.
In the seven expositions of the seven Bodhisattas, there are seventy principles, seventy meanings, one hundred and forty expressions, and two hundred and eighty knowledges.
Trong bảy phần ký thuyết của bảy vị Bồ-tát có bảy mươi pháp nhân, bảy mươi pháp quả, một trăm bốn mươi ngữ nguyên, và hai trăm tám mươi trí tuệ.
5. Abhiññādivāro
5. The Chapter on Direct Knowledges, etc.
5. Phần về Thắng Trí, v.v.
34. ‘‘‘Yāvatā abhiññāya abhiññaṭṭho ñāto diṭṭho vidito sacchikato phassito paññāya. Aphassito paññāya abhiññaṭṭho natthī’ti – cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi’’. Abhiññāya abhiññaṭṭhe pañcavīsati dhammā, pañcavīsati atthā, paññāsa niruttiyo, sataṃ ñāṇāni.
34. ‘To the extent that the meaning of direct knowledge is known, seen, understood, realized, and contacted by wisdom. A meaning of direct knowledge not contacted by wisdom does not exist’—thus, vision arose, knowledge arose, wisdom arose, true knowledge arose, light arose. In the meaning of direct knowledge, there are twenty-five principles, twenty-five meanings, fifty expressions, and one hundred knowledges.
34. ‘Trong chừng mực nào ý nghĩa của thắng trí được biết, được thấy, được hiểu rõ, được chứng ngộ, được xúc chạm bởi trí tuệ; không có ý nghĩa của thắng trí nào không được xúc chạm bởi trí tuệ’ – nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi.’ Trong ý nghĩa của thắng trí có hai mươi lăm pháp nhân, hai mươi lăm pháp quả, năm mươi ngữ nguyên, một trăm trí tuệ.
‘‘‘Yāvatā pariññāya pariññaṭṭho…pe… yāvatā pahānassa pahānaṭṭho…pe… yāvatā bhāvanāya bhāvanaṭṭho…pe… yāvatā sacchikiriyāya sacchikiriyaṭṭho ñāto diṭṭho vidito sacchikato phassito paññāya. Aphassito paññāya sacchikiriyaṭṭho natthī’ti – cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi’’. Sacchikiriyāya sacchikiriyaṭṭhe pañcavīsati dhammā, pañcavīsati atthā, paññāsa niruttiyo, sataṃ ñāṇāni.
‘To whatever extent the meaning of full understanding…pe… to whatever extent the meaning of abandoning…pe… to whatever extent the meaning of development…pe… to whatever extent the meaning of realization is known, seen, understood, realized, and penetrated by wisdom. There is no meaning of realization that is not penetrated by wisdom.’ Thus, vision arose, knowledge arose, wisdom arose, true knowledge arose, and light arose. In the meaning of realization of realization, there are twenty-five qualities, twenty-five meanings, fifty expressions, and one hundred kinds of knowledge.
‘Trong chừng mực nào ý nghĩa của sự liễu tri... ...trong chừng mực nào ý nghĩa của sự đoạn tận... ...trong chừng mực nào ý nghĩa của sự tu tập... ...trong chừng mực nào ý nghĩa của sự chứng ngộ được biết, được thấy, được hiểu rõ, được chứng ngộ, được xúc chạm bởi trí tuệ; không có ý nghĩa của sự chứng ngộ nào không được xúc chạm bởi trí tuệ’ – nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi.’ Trong ý nghĩa của sự chứng ngộ có hai mươi lăm pháp nhân, hai mươi lăm pháp quả, năm mươi ngữ nguyên, một trăm trí tuệ.
Abhiññāya abhiññaṭṭhe, pariññāya pariññaṭṭhe, pahānāya pahānaṭṭhe, bhāvanāya bhāvanaṭṭhe, sacchikiriyāya sacchikiriyaṭṭhe pañcavīsasataṃ dhammā, pañcavīsasataṃ atthā, aḍḍhateyyāni niruttisatāni, pañca ñāṇasatāni.
In the meaning of direct knowledge of direct knowledge; in the meaning of full understanding of full understanding; in the meaning of abandoning of abandoning; in the meaning of development of development; and in the meaning of realization of realization, there are one hundred and twenty-five qualities, one hundred and twenty-five meanings, two hundred and fifty expressions, and five hundred kinds of knowledge.
Trong ý nghĩa của thắng trí, trong ý nghĩa của sự liễu tri, trong ý nghĩa của sự đoạn tận, trong ý nghĩa của sự tu tập, trong ý nghĩa của sự chứng ngộ có một trăm hai mươi lăm pháp nhân, một trăm hai mươi lăm pháp quả, hai trăm năm mươi ngữ nguyên, và năm trăm trí tuệ.
6. Khandhādivāro
6. The Chapter on the Aggregates, etc.
6. Phần về Các Uẩn, v.v.
35. ‘‘‘Yāvatā khandhānaṃ khandhaṭṭho, ñāto diṭṭho vidito sacchikato phassito paññāya. Aphassito paññāya khandhaṭṭho natthī’ti – cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi’’. Khandhānaṃ khandhaṭṭhe pañcavīsati dhammā, pañcavīsati atthā, paññāsa niruttiyo, sataṃ ñāṇāni.
35. ‘To whatever extent the meaning of the aggregates is known, seen, understood, realized, and penetrated by wisdom. There is no meaning of the aggregates that is not penetrated by wisdom.’ Thus, vision arose, knowledge arose, wisdom arose, true knowledge arose, and light arose. In the meaning of the aggregates of the aggregates, there are twenty-five qualities, twenty-five meanings, fifty expressions, and one hundred kinds of knowledge.
35. ‘Trong chừng mực nào ý nghĩa của các uẩn được biết, được thấy, được hiểu rõ, được chứng ngộ, được xúc chạm bởi trí tuệ; không có ý nghĩa của uẩn nào không được xúc chạm bởi trí tuệ’ – nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi.’ Trong ý nghĩa của các uẩn có hai mươi lăm pháp nhân, hai mươi lăm pháp quả, năm mươi ngữ nguyên, một trăm trí tuệ.
‘‘‘Yāvatā dhātūnaṃ dhātuṭṭho…pe… yāvatā āyatanānaṃ āyatanaṭṭho…pe… yāvatā saṅkhatānaṃ saṅkhataṭṭho…pe… yāvatā asaṅkhatassa asaṅkhataṭṭho ñāto diṭṭho vidito sacchikato phassito paññāya. Aphassito paññāya asaṅkhataṭṭho natthī’ti – cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi’’. Asaṅkhatassa asaṅkhataṭṭhe pañcavīsati dhammā, pañcavīsati atthā, paññāsa niruttiyo, sataṃ ñāṇāni.
‘To whatever extent the meaning of the elements…pe… to whatever extent the meaning of the sense bases…pe… to whatever extent the meaning of the conditioned…pe… to whatever extent the meaning of the unconditioned is known, seen, understood, realized, and penetrated by wisdom. There is no meaning of the unconditioned that is not penetrated by wisdom.’ Thus, vision arose…pe… light arose. In the meaning of the unconditioned of the unconditioned, there are twenty-five qualities, twenty-five meanings, fifty expressions, and one hundred kinds of knowledge.
“‘Chừng nào ý nghĩa của các giới... (lược)... chừng nào ý nghĩa của các xứ... (lược)... chừng nào ý nghĩa của các pháp hữu vi... (lược)... chừng nào ý nghĩa của pháp vô vi đã được biết, đã được thấy, đã được liễu tri, đã được chứng ngộ, đã được xúc chạm bằng trí tuệ. Không có ý nghĩa của pháp vô vi nào không được xúc chạm bằng trí tuệ’ – nhãn đã sanh khởi... (lược)... ánh sáng đã sanh khởi.” Trong ý nghĩa của pháp vô vi có hai mươi lăm pháp, hai mươi lăm nghĩa, năm mươi ngữ, một trăm trí.
Khandhānaṃ khandhaṭṭhe, dhātūnaṃ dhātuṭṭhe, āyatanānaṃ āyatanaṭṭhe saṅkhatānaṃ saṅkhataṭṭhe, asaṅkhatassa asaṅkhataṭṭhe pañcavīsatisataṃ dhammā, pañcavīsatisataṃ atthā, aḍḍhateyyāni niruttisatāni, pañca ñāṇasatāni.
Regarding the aggregates, in the meaning of aggregates; regarding the elements, in the meaning of elements; regarding the sense bases, in the meaning of sense bases; regarding the conditioned, in the meaning of the conditioned; regarding the unconditioned, in the meaning of the unconditioned—there are one hundred and twenty-five states, one hundred and twenty-five meanings, two hundred and fifty expressions, and five hundred kinds of knowledge.
Trong ý nghĩa của các uẩn, trong ý nghĩa của các giới, trong ý nghĩa của các xứ, trong ý nghĩa của các pháp hữu vi, trong ý nghĩa của pháp vô vi có một trăm hai mươi lăm pháp, một trăm hai mươi lăm nghĩa, hai trăm năm mươi ngữ, năm trăm trí.
7. Saccavāro
7. The Section on Truth
7. Phẩm về Thánh Đế
36. ‘‘‘Yāvatā dukkhassa dukkhaṭṭho, ñāto diṭṭho vidito sacchikato phassito paññāya. Aphassito paññāya dukkhaṭṭho natthī’ti – cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi’’. Dukkhassa dukkhaṭṭhe pañcavīsati dhammā, pañcavīsati atthā, paññāsa niruttiyo, sataṃ ñāṇāni.
36. ‘Insofar as the meaning of suffering as suffering is known, seen, understood, realized, and contacted by wisdom; there is no meaning of suffering as suffering that is not contacted by wisdom’—thus, the eye arose, knowledge arose, wisdom arose, clear knowledge arose, light arose. In the meaning of suffering as suffering, there are twenty-five causal states, twenty-five resultant states, fifty expressions, and one hundred kinds of knowledge.
36. “‘Chừng nào ý nghĩa của khổ đã được biết, đã được thấy, đã được liễu tri, đã được chứng ngộ, đã được xúc chạm bằng trí tuệ. Không có ý nghĩa của khổ nào không được xúc chạm bằng trí tuệ’ – nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi.” Trong ý nghĩa của khổ có hai mươi lăm pháp, hai mươi lăm nghĩa, năm mươi ngữ, một trăm trí.
‘‘‘Yāvatā samudayassa samudayaṭṭho…pe… yāvatā nirodhassa nirodhaṭṭho…pe… yāvatā maggassa maggaṭṭho ñāto diṭṭho vidito sacchikato phassito paññāya. Aphassito paññāya maggaṭṭho natthī’ti – cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi’’. Maggassa maggaṭṭhe pañcavīsati dhammā, pañcavīsati atthā, paññāsa niruttiyo, sataṃ ñāṇāni.
‘Insofar as the meaning of origination as origination… and so on… insofar as the meaning of cessation as cessation… and so on… insofar as the meaning of the path as the path is known, seen, understood, realized, and contacted by wisdom; there is no meaning of the path as the path that is not contacted by wisdom’—thus, the eye arose… and so on… light arose. In the meaning of the path as the path, there are twenty-five causal states, twenty-five resultant states, fifty expressions, and one hundred kinds of knowledge.
“‘Chừng nào ý nghĩa của tập... (lược)... chừng nào ý nghĩa của diệt... (lược)... chừng nào ý nghĩa của đạo đã được biết, đã được thấy, đã được liễu tri, đã được chứng ngộ, đã được xúc chạm bằng trí tuệ. Không có ý nghĩa của đạo nào không được xúc chạm bằng trí tuệ’ – nhãn đã sanh khởi... (lược)... ánh sáng đã sanh khởi.” Trong ý nghĩa của đạo có hai mươi lăm pháp, hai mươi lăm nghĩa, năm mươi ngữ, một trăm trí.
Catūsu ariyasaccesu sataṃ dhammā, sataṃ atthā, dve niruttisatāni, cattāri ñāṇasatāni.
In the four Noble Truths, there are one hundred causal states, one hundred resultant states, two hundred expressions, and four hundred kinds of knowledge.
Trong bốn Thánh đế có một trăm pháp, một trăm nghĩa, hai trăm ngữ, bốn trăm trí.
8. Paṭisambhidāvāro
8. The Section on Analytical Knowledges
8. Phẩm về Vô Ngại Giải
37. ‘‘‘Yāvatā atthapaṭisambhidāya atthapaṭisambhidaṭṭho, ñāto diṭṭho vidito sacchikato phassito paññāya. Aphassito paññāya atthapaṭisambhidaṭṭho natthī’ti – cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi’’. Atthapaṭisambhidāya atthapaṭisambhidaṭṭhe pañcavīsati dhammā, pañcavīsati atthā, paññāsa niruttiyo, sataṃ ñāṇāni.
37. ‘Insofar as the meaning of the analytical knowledge of meaning as the analytical knowledge of meaning is known, seen, understood, realized, and contacted by wisdom; there is no meaning of the analytical knowledge of meaning as the analytical knowledge of meaning that is not contacted by wisdom’—thus, the eye arose… and so on… light arose. In the meaning of the analytical knowledge of meaning as the analytical knowledge of meaning, there are twenty-five phenomena, twenty-five meanings, fifty expressions, and one hundred kinds of knowledge.
37. “‘Chừng nào ý nghĩa của Nghĩa Vô Ngại Giải đã được biết, đã được thấy, đã được liễu tri, đã được chứng ngộ, đã được xúc chạm bằng trí tuệ. Không có ý nghĩa của Nghĩa Vô Ngại Giải nào không được xúc chạm bằng trí tuệ’ – nhãn đã sanh khởi... (lược)... ánh sáng đã sanh khởi.” Trong ý nghĩa của Nghĩa Vô Ngại Giải có hai mươi lăm pháp, hai mươi lăm nghĩa, năm mươi ngữ, một trăm trí.
‘‘‘Yāvatā dhammapaṭisambhidāya dhammapaṭisambhidaṭṭho…pe… yāvatā niruttipaṭisambhidāya niruttipaṭisambhidaṭṭho…pe… yāvatā paṭibhānapaṭisambhidāya paṭibhānapaṭisambhidaṭṭho, ñāto diṭṭho vidito sacchikato phassito paññāya. Aphassito paññāya paṭibhānapaṭisambhidaṭṭho natthī’ti – cakkhuṃ udapādi …pe… āloko udapādi’’. Paṭibhānapaṭisambhidaṭṭhe pañcavīsati dhammā, pañcavīsati atthā, paññāsa niruttiyo, sataṃ ñāṇāni.
'To whatever extent the meaning of the analytical knowledge of Dhamma... (etc.) ...to whatever extent the meaning of the analytical knowledge of language... (etc.) ...to whatever extent the meaning of the analytical knowledge of ready wit is known, seen, understood, realized, and contacted by wisdom; there is no meaning of the analytical knowledge of ready wit that is not contacted by wisdom'—the eye [of wisdom] arose... (etc.) ...light arose. In the meaning of the analytical knowledge of ready wit, there are twenty-five phenomena, twenty-five meanings, fifty expressions, and one hundred knowledges.
“‘Chừng nào ý nghĩa của Pháp Vô Ngại Giải... (lược)... chừng nào ý nghĩa của Ngữ Vô Ngại Giải... (lược)... chừng nào ý nghĩa của Biện Tài Vô Ngại Giải đã được biết, đã được thấy, đã được liễu tri, đã được chứng ngộ, đã được xúc chạm bằng trí tuệ. Không có ý nghĩa của Biện Tài Vô Ngại Giải nào không được xúc chạm bằng trí tuệ’ – nhãn đã sanh khởi... (lược)... ánh sáng đã sanh khởi.” Trong ý nghĩa của Biện Tài Vô Ngại Giải có hai mươi lăm pháp, hai mươi lăm nghĩa, năm mươi ngữ, một trăm trí.
Catūsu paṭisambhidāsu sataṃ dhammā, sataṃ atthā, dve niruttisatāni, cattāri ñāṇasatāni.
In the four analytical knowledges, there are one hundred phenomena, one hundred meanings, two hundred expressions, and four hundred knowledges.
Trong bốn Vô Ngại Giải có một trăm pháp, một trăm nghĩa, hai trăm ngữ, bốn trăm trí.
9. Chabuddhadhammavāro
9. The Section on the Six Buddha Qualities
9. Phẩm về Sáu Phật Pháp
38. ‘‘‘Yāvatā indriyaparopariyatte ñāṇaṃ, ñātaṃ diṭṭhaṃ viditaṃ sacchikataṃ phassitaṃ paññāya. Aphassitaṃ paññāya indriyaparopariyatte ñāṇaṃ natthī’ti – cakkhuṃ udapādi…pe… āloko udapādi’’. Indriyaparopariyatte ñāṇe pañcavīsati dhammā, pañcavīsati atthā, paññāsa niruttiyo, sataṃ ñāṇāni.
38. 'To whatever extent the knowledge of the disposition of the faculties of other beings is known, seen, understood, realized, and contacted by wisdom; there is no knowledge of the disposition of the faculties of other beings that is not contacted by wisdom'—the eye [of wisdom] arose... (etc.) ...light arose. In the knowledge of the disposition of the faculties of other beings, there are twenty-five phenomena, twenty-five meanings, fifty expressions, and one hundred knowledges.
38. “‘Chừng nào trí biết các căn cao thấp đã được biết, đã được thấy, đã được liễu tri, đã được chứng ngộ, đã được xúc chạm bằng trí tuệ. Không có trí biết các căn cao thấp nào không được xúc chạm bằng trí tuệ’ – nhãn đã sanh khởi... (lược)... ánh sáng đã sanh khởi.” Trong trí biết các căn cao thấp có hai mươi lăm pháp, hai mươi lăm nghĩa, năm mươi ngữ, một trăm trí.
‘‘‘Yāvatā sattānaṃ āsayānusaye ñāṇaṃ…pe… yāvatā yamakapāṭihīre ñāṇaṃ …pe… yāvatā mahākaruṇāsamāpattiyā ñāṇaṃ…pe… yāvatā sabbaññutaññāṇaṃ…pe… yāvatā anāvaraṇaṃ ñāṇaṃ, ñātaṃ diṭṭhaṃ viditaṃ sacchikataṃ phassitaṃ paññāya. Aphassitaṃ paññāya anāvaraṇaṃ ñāṇaṃ natthī’ti – cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi’’. Anāvaraṇe ñāṇe pañcavīsati dhammā, pañcavīsati atthā, paññāsa niruttiyo, sataṃ ñāṇāni.
'To whatever extent the knowledge of the dispositions and underlying tendencies of beings... (etc.) ...to whatever extent the knowledge of the twin miracle... (etc.) ...to whatever extent the knowledge of the attainment of great compassion... (etc.) ...to whatever extent the knowledge of omniscience... (etc.) ...to whatever extent the unobstructed knowledge is known, seen, understood, realized, and contacted by wisdom; there is no unobstructed knowledge that is not contacted by wisdom'—the eye [of wisdom] arose, knowledge arose, wisdom arose, true knowledge arose, light arose. In the unobstructed knowledge, there are twenty-five phenomena, twenty-five meanings, fifty expressions, and one hundred knowledges.
“‘Chừng nào trí biết ý muốn và tùy miên của chúng sanh... (lược)... chừng nào trí về song thông... (lược)... chừng nào trí nhập đại bi... (lược)... chừng nào trí toàn giác... (lược)... chừng nào trí vô ngại đã được biết, đã được thấy, đã được liễu tri, đã được chứng ngộ, đã được xúc chạm bằng trí tuệ. Không có trí vô ngại nào không được xúc chạm bằng trí tuệ’ – nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi.” Trong trí vô ngại có hai mươi lăm pháp, hai mươi lăm nghĩa, năm mươi ngữ, một trăm trí.
Chasu buddhadhammesu diyaḍḍhasataṃ dhammā, diyaḍḍhasataṃ atthā, tīṇi niruttisatāni, cha ñāṇasatāni.
In the six Buddha qualities, there are one hundred and fifty phenomena, one hundred and fifty meanings, three hundred expressions, and six hundred knowledges.
Trong sáu Phật pháp có một trăm năm mươi pháp, một trăm năm mươi nghĩa, ba trăm ngữ, sáu trăm trí.
Paṭisambhidādhikaraṇe † aḍḍhanavadhammasatāni †, aḍḍhanavaatthasatāni, niruttisahassañca satta ca niruttisatāni, tīṇi ca ñāṇasahassāni, cattāri ca ñāṇasatānīti.
In the section on the analytical knowledges, there are eight hundred and fifty phenomena, eight hundred and fifty meanings, one thousand seven hundred expressions, and three thousand four hundred knowledges.
Trong phần Vô Ngại Giải có tám trăm năm mươi pháp, tám trăm năm mươi nghĩa, một ngàn bảy trăm ngữ, và ba ngàn bốn trăm trí.
Paṭisambhidākathā niṭṭhitā.
The Discourse on Analytical Knowledges is concluded.
Dứt lời giải về Vô Ngại Giải.
7. Dhammacakkakathā
7. The Discourse on the Wheel of Dhamma
7. Lời giải về Chuyển Pháp Luân
1. Saccavāro
1. The Section on Truth
1. Phẩm về Thánh Đế