Bản dịch
PS 2.5 — Giảng về Ly Tham Ái
2.5. Virāgakathā
Ly tham ái là Đạo, sự giải thoát là Quả.
Ly tham ái là Đạo là (có ý nghĩa) thế nào? Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức loại bỏ tà kiến, loại bỏ các phiền não xu hướng theo điều ấy và các uẩn, loại bỏ tất cả các hiện tướng ở ngoại phần.
Ly tham ái có đối tượng là ly tham ái, có hành xứ là ly tham ái, được hiện khởi ở ly tham ái, được tồn tại ở ly tham ái, được thiết lập ở ly tham ái.*
Ly tham ái: Có hai ly tham ái: Niết Bàn là ly tham ái, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là ly tham ái. ‘Bảy chi phần đồng sanh đi đến ly tham ái,’* như thế ly tham ái là đạo lộ. ‘Bằng đạo lộ ấy, chư Phật và các Thinh Văn đi đến Niết Bàn là hướng chưa đi,’ như thế là đạo lộ có tám chi phần. ‘Cho đến các đạo lộ của các học thuyết khác của số đông Sa-môn và Bà-la-môn, chính Thánh Đạo tám chi phần này là tột đỉnh, hạng nhất, dẫn đầu, tối thượng, và ưu tú,’ như thế trong số các đạo lộ, tám chi phần là hạng nhất.
Chánh tư duy, theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh), loại bỏ tà tư duy. …(như trên)… Chánh ngữ, theo ý nghĩa gìn giữ, loại bỏ tà ngữ. …(như trên)… Chánh nghiệp, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, loại bỏ tà nghiệp. …(như trên)… Chánh mạng, theo ý nghĩa trong sạch, loại bỏ tà mạng. …(như trên)… Chánh tinh tấn, theo ý nghĩa ra sức, loại bỏ tà tinh tấn. …(như trên)… Chánh niệm, theo ý nghĩa thiết lập, loại bỏ tà niệm. …(như trên)… Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, loại bỏ tà định, loại bỏ các phiền não xu hướng theo điều ấy và các uẩn, loại bỏ tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Ly tham ái có đối tượng là ly tham ái, có hành xứ là ly tham ái, được hiện khởi ở ly tham ái, được tồn tại ở ly tham ái, được thiết lập ở ly tham ái.
Ly tham ái: Có hai ly tham ái: Niết Bàn là ly tham ái, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là ly tham ái. ‘Bảy chi phần đồng sanh đi đến ly tham ái,’ như thế ly tham ái là đạo lộ. ‘Bằng đạo lộ ấy, chư Phật và các Thinh Văn đi đến Niết Bàn là hướng chưa đi,’ như thế là đạo lộ có tám chi phần. ‘Cho đến các đạo lộ của các học thuyết khác của số đông Sa-môn và Bà-la-môn, chính Thánh Đạo tám chi phần này là tột đỉnh, hạng nhất, dẫn đầu, tối thượng, và ưu tú,’ như thế trong số các đạo lộ, tám chi phần là hạng nhất.
Vào sát-na Đạo Nhất Lai, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức …(như trên)… Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn loại bỏ sự ràng buộc của ái dục, sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển, loại bỏ các phiền não xu hướng theo điều ấy và các uẩn, loại bỏ tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Ly tham ái có đối tượng là ly tham ái, có hành xứ là ly tham ái, được hiện khởi ở ly tham ái, được tồn tại ở ly tham ái, được thiết lập ở ly tham ái.
Ly tham ái: Có hai ly tham ái: Niết Bàn là ly tham ái, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là ly tham ái. ‘Bảy chi phần đồng sanh đi đến ly tham ái,’ như thế ly tham ái là đạo lộ. ‘Bằng đạo lộ ấy, chư Phật và các Thinh Văn đi đến Niết Bàn là hướng chưa đi,’ như thế là đạo lộ có tám chi phần. ‘Cho đến các đạo lộ của các học thuyết khác của số đông Sa-môn và Bà-la-môn, chính Thánh Đạo tám chi phần này là tột đỉnh, hạng nhất, dẫn đầu, tối thượng, và ưu tú;’ như thế trong số các đạo lộ, tám chi phần là hạng nhất.
Vào sát-na Đạo Bất Lai, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức …(như trên)… Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn loại bỏ sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế loại bỏ các phiền não xu hướng theo điều ấy và các uẩn, loại bỏ tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Ly tham ái có đối tượng là ly tham ái …(như trên)… như thế trong số các đạo lộ, tám chi phần là hạng nhất.
Vào sát-na Đạo A-la-hán, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức …(nt)… Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn loại bỏ ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, ngã mạn ngủ ngầm, ái hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm, loại bỏ các phiền não xu hướng theo điều ấy và các uẩn, loại bỏ tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Ly tham ái có đối tượng là ly tham ái, có hành xứ là ly tham ái, được hiện khởi ở ly tham ái, được tồn tại ở ly tham ái, được thiết lập ở ly tham ái.
Ly tham ái: Có hai ly tham ái: Niết Bàn là ly tham ái, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là ly tham ái. ‘Bảy chi phần đồng sanh đi đến ly tham ái,’ như thế ly tham ái là đạo lộ. ‘Bằng đạo lộ ấy, chư Phật và các Thinh Văn đi đến Niết Bàn là hướng chưa đi,’ như thế là đạo lộ có tám chi phần. ‘Cho đến các đạo lộ của các học thuyết khác của số đông Sa-môn và Bà-la-môn, chính Thánh Đạo tám chi phần này là tột đỉnh, hạng nhất, dẫn đầu, tối thượng, và ưu tú,’ như thế trong số các đạo lộ, tám chi phần là hạng nhất.
Ly tham ái là nhận thức, tức là chánh kiến. Ly tham ái là sự gắn chặt (tâm vào cảnh), tức là chánh tư duy. Ly tham ái là sự gìn giữ, tức là chánh ngữ. Ly tham ái là nguồn sanh khởi, tức là chánh nghiệp. Ly tham ái là sự trong sạch, tức là chánh mạng. Ly tham ái là sự ra sức, tức là chánh tinh tấn. Ly tham ái là sự thiết lập, tức là chánh niệm. Ly tham ái là sự không tản mạn, tức là chánh định.
Ly tham ái là sự thiết lập, tức là niệm giác chi. Ly tham ái là sự suy xét, tức là trạch pháp giác chi. Ly tham ái là sự ra sức, tức là cần giác chi. Ly tham ái là sự lan tỏa, tức là hỷ giác chi. Ly tham ái là sự an tịnh, tức là tịnh giác chi. Ly tham ái là sự không tản mạn, tức là định giác chi. Ly tham ái là sự phân biệt rõ, tức là xả giác chi.
Ly tham ái là không dao động ở sự không có đức tin, tức là tín lực. Ly tham ái là không dao động ở sự biếng nhác, tức là tấn lực. Ly tham ái là không dao động ở sự buông lung, tức là niệm lực. Ly tham ái là không dao động ở sự phóng dật, tức là định lực. Ly tham ái là không dao động ở sự vô minh, tức là tuệ lực.
Ly tham ái là sự cương quyết, tức là tín quyền. Ly tham ái là sự ra sức, tức là tấn quyền. Ly tham ái là sự thiết lập, tức là niệm quyền. Ly tham ái là sự không tản mạn, tức là định quyền. Ly tham ái là sự nhận thức, tức là tuệ quyền.
Các quyền, theo ý nghĩa chủ đạo, là ly tham ái. Lực, theo ý nghĩa không thể bị lay chuyển, là ly tham ái. Các giác chi, theo ý nghĩa dẫn xuất, là ly tham ái. Đạo, theo ý nghĩ chủng tử, là ly tham ái. Sự thiết lập niệm, theo ý nghĩa thiết lập, là ly tham ái. Các chân lý, theo ý nghĩa của thực thể, là ly tham ái. Chỉ tịnh, theo ý nghĩa không tản mạn, là ly tham ái. Minh sát theo ý nghĩa quán xét, là ly tham ái. Chỉ tịnh và minh sát, theo ý nghĩa nhất vị, là ly tham ái. Sự kết hợp chung, theo ý nghĩa không vượt quá, là ly tham ái. Giới thanh tịnh, theo ý nghĩa thu thúc, là ly tham ái. Tâm thanh tịnh, theo ý nghĩa không tản mạn, là ly tham ái. Kiến thanh tịnh, theo ý nghĩa nhận thức, là ly tham ái. Giải thoát, theo ý nghĩa thoát khỏi, là ly tham ái. Minh, theo ý nghĩa thấu triệt, là ly tham ái. Giải thoát, theo ý nghĩa buông bỏ, là ly tham ái. Trí về sự đoạn tận, theo ý nghĩa đoạn trừ, là ly tham ái. Ước muốn, theo ý nghĩa nguồn cội, là ly tham ái. Tác ý, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, là ly tham ái. Xúc, theo ý nghĩa liên kết, là ly tham ái. Thọ, theo ý nghĩahội tụ, là ly tham ái. Định, theo ý nghĩa dẫn đầu, là ly tham ái. Niệm, theo ý nghĩa chủ đạo, là ly tham ái. Tuệ, theo ý nghĩa cao thượng trong các pháp thiện, là ly tham ái. Giải thoát, theo ý nghĩa của cốt lỏi, là ly tham ái. Niết Bàn liên quan đến bất tử, theo ý nghĩa kết thúc, là ly tham ái.
Sự nhận thức là Đạo, tức là chánh kiến. Sự gắn chặt (tâm vào cảnh) là Đạo, tức là chánh tư duy …nt)… Niết Bàn liên quan đến bất tử, theo ý nghĩa kết thúc, là Đạo. Ly tham ái là Đạo là (có ý nghĩa) như thế.
Sự giải thoát là Quả là (có ý nghĩa) thế nào? Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức được giải thoát khỏi tà kiến, được giải thoát khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, được giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được hiện khởi ở giải thoát, được tồn tại ở giải thoát, được thiết lập ở giải thoát.
Sự giải thoát: Có hai sự giải thoát: ‘Niết Bàn là sự giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là sự giải thoát;’ như thế, giải thoát là Quả.
Chánh tư duy, theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh), giải thoát khỏi tà tư duy, giải thoát khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và các uẩn, giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được hiện khởi ở giải thoát, được tồn tại ở giải thoát, được thiết lập ở giải thoát.
Sự giải thoát: Có hai sự giải thoát: ‘Niết Bàn là sự giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là sự giải thoát;’ như thế, giải thoát là Quả.
Chánh ngữ, theo ý nghĩa gìn giữ, giải thoát khỏi tà ngữ … Chánh nghiệp, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, giải thoát khỏi tà nghiệp … Chánh mạng, theo ý nghĩa trong sạch, giải thoát khỏi tà mạng … Chánh tinh tấn, theo ý nghĩa ra sức, giải thoát khỏi tà tinh tấn … Chánh niệm, theo ý nghĩa thiết lập, giải thoát khỏi tà niệm … Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, giải thoát khỏi tà định, giải thoát khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được hiện khởi ở giải thoát, được tồn tại ở giải thoát, được thiết lập ở giải thoát.
Sự giải thoát: Có hai sự giải thoát: ‘Niết Bàn là sự giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là sự giải thoát;’ như thế, sự giải thoát là Quả.
Vào sát-na Quả Nhất Lai, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức …(như trên)… Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn giải thoát khỏi sự ràng buộc của ái dục, sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển, giải thoát khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được hiện khởi ở giải thoát, được tồn tại ở giải thoát, được thiết lập ở giải thoát.
Sự giải thoát: Có hai sự giải thoát: ‘Niết Bàn là sự giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là sự giải thoát;’ như thế, giải thoát là Quả.
Vào sát-na Quả Bất Lai, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức …(như trên)… Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn giải thoát khỏi sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế giải thoát khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được hiện khởi ở giải thoát, được tồn tại ở giải thoát, được thiết lập ở giải thoát.
Sự giải thoát: Có hai sự giải thoát: …(nt)… giải thoát là Quả.
Vào sát-na Quả A-la-hán, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức …(như trên)… Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn giải thoát khỏi ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, ngã mạn ngủ ngầm, ái hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm, giải thoát khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được tồn tại ở giải thoát, được thiết lập ở giải thoát.
Sự giải thoát: Có hai sự giải thoát: ‘Niết Bàn là sự giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là sự giải thoát;’ như thế, giải thoát là Quả.
Giải thoát là sự nhận thức, tức là chánh kiến. …(như trên)… Giải thoát là sự không tản mạn, tức là chánh định. Giải thoát là sự thiết lập, tức là niệm giác chi. …(như trên)… Giải thoát là sự phân biệt rõ, tức là xả giác chi. Giải thoát là không dao động ở sự không có đức tin, tức là tín lực. …(như trên)… Giải thoát là không dao động ở vô minh, tức là tuệ lực. Giải thoát là sự cương quyết, tức là tín quyền …(như trên)… Giải thoát là sự nhận thức, tức là tuệ quyền.
Các quyền, theo ý nghĩa chủ đạo, là sự giải thoát. Các lực, theo ý nghĩa không bị dao động, là sự giải thoát. Các giác chi, theo ý nghĩa dẫn xuất, là sự giải thoát. Đạo, theo ý nghĩ chủng tử, là sự giải thoát. Sự thiết lập niệm, theo ý nghĩa thiết lập, là sự giải thoát. Chánh cần, theo ý nghĩa nỗ lực là sự giải thoát. Các nền tảng của thần thông, theo ý nghĩa thành tựu, là sự giải thoát. Các chân lý, theo ý nghĩa thực thể, là sự giải thoát. Chỉ tịnh, theo ý nghĩa không tản mạn, là sự giải thoát. Minh sát theo ý nghĩa quán xét, là sự giải thoát. Chỉ tịnh và minh sát, theo ý nghĩa nhất vị, là sự giải thoát. Sự kết hợp chung, theo ý nghĩa không vượt quá, là sự giải thoát. Giới thanh tịnh, theo ý nghĩa thu thúc, là sự giải thoát. Tâm thanh tịnh, theo ý nghĩa không tản mạn, là sự giải thoát. Kiến thanh tịnh, theo ý nghĩa nhận thức, là sự giải thoát. Giải thoát, theo ý nghĩa thoát khỏi, là sự giải thoát. Minh, theo ý nghĩa thấu triệt, là sự giải thoát. Giải thoát, theo ý nghĩa buông bỏ, là sự giải thoát. Trí về vô thủ, theo ý nghĩa an tịnh, là sự giải thoát. Ước muốn, theo ý nghĩa nguồn cội, là sự giải thoát. Tác ý, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, là sự giải thoát. Xúc, theo ý nghĩa liên kết, là sự giải thoát. Thọ, theo ý nghĩa hội tụ, là sự giải thoát. Định, theo ý nghĩa dẫn đầu, là sự giải thoát. Niệm, theo ý nghĩa chủ đạo, là sự giải thoát. Tuệ, theo ý nghĩa cao thượng trong các pháp thiện, là sự giải thoát. Giải thoát, theo ý nghĩa của cốt lỏi, là sự giải thoát. Niết Bàn liên quan đến bất tử, theo ý nghĩa kết thúc, là sự giải thoát. Sự giải thoát là Quả là (có ý nghĩa) như thế.
Ly tham ái là Đạo, sự giải thoát là Quả là (có ý nghĩa) như thế.
Phần Giảng về Ly Tham Ái được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Virāgoti dve virāgā – nibbānañca virāgo, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe virāgā hontīti – virāgā. Sahajātāni sattaṅgāni virāgaṃ gacchantīti – virāgo maggo. Etena maggena buddhā ca sāvakā ca agataṃ disaṃ nibbānaṃ gacchantīti – aṭṭhaṅgiko maggo. Yāvatā puthusamaṇabrāhmaṇānaṃ parappavādānaṃ maggā, ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo aggo ca seṭṭho ca pāmokkho † ca uttamo ca pavaro cāti – maggānaṃ aṭṭhaṅgiko seṭṭho.
Regarding 'dispassion,' there are two kinds of dispassion: Nibbāna is dispassion, and all phenomena that arise with Nibbāna as their object are also called dispassion. The seven co-arisen factors go towards dispassion; therefore, dispassion is the path. By this path, the Buddhas and their disciples go to the unreached direction, Nibbāna; therefore, it is the Eightfold Path. Among all the paths of the many ascetics and brahmins of other doctrines, this Noble Eightfold Path is the foremost, the best, the chief, the highest, and the most excellent; therefore, among paths, the Eightfold Path is the best.
Về ‘ly tham’, có hai sự ly tham: Niết-bàn là sự ly tham, và tất cả các pháp sanh khởi do có Niết-bàn làm đối tượng đều là sự ly tham – đó là các sự ly tham. Bảy chi đồng sanh đi đến sự ly tham – đó là sự ly tham là đạo. Do đạo này, các vị Phật và các vị thinh văn đi đến phương xứ chưa từng đến là Niết-bàn – đó là Bát chi đạo. Trong tất cả các con đường của các Sa-môn, Bà-la-môn khác nhau theo ngoại đạo, chỉ có Thánh đạo Tám chi này là cao cả, là tối thắng, là chủ yếu, là tối thượng, và là ưu việt. Do đó, trong các con đường, Bát chi đạo là tối thắng.
Abhiniropanaṭṭhena sammāsaṅkappo micchāsaṅkappā virajjati. Pariggahaṭṭhena sammāvācā micchāvācāya virajjati. Samuṭṭhānaṭṭhena sammākammanto micchākammantā virajjati. Vodānaṭṭhena sammāājīvo micchāājīvā virajjati. Paggahaṭṭhena sammāvāyāmo micchāvāyāmā virajjati. Upaṭṭhānaṭṭhena sammāsati micchāsatiyā virajjati. Avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi micchāsamādhito virajjati. Tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca virajjati. Bahiddhā ca sabbanimittehi virajjati. Virāgo virāgārammaṇo virāgagocaro virāge samudāgato virāge ṭhito virāge patiṭṭhito.
By way of directing towards, Right Thought is detached from wrong thought. By way of encompassing, Right Speech is detached from wrong speech. By way of originating, Right Action is detached from wrong action. By way of purification, Right Livelihood is detached from wrong livelihood. By way of exertion, Right Effort is detached from wrong effort. By way of establishment, Right Mindfulness is detached from wrong mindfulness. By way of non-distraction, Right Concentration is detached from wrong concentration. It is detached from the defilements and aggregates that follow accordingly, and it is detached from all external signs. Dispassion has Nibbāna as its object, has Nibbāna as its resort, arises well in Nibbāna, stands in Nibbāna, and is established in Nibbāna.
Do ý nghĩa hướng tâm, chánh tư duy ly tham khỏi tà tư duy. Do ý nghĩa bao gồm, chánh ngữ ly tham khỏi tà ngữ. Do ý nghĩa khởi lên, chánh nghiệp ly tham khỏi tà nghiệp. Do ý nghĩa thanh lọc, chánh mạng ly tham khỏi tà mạng. Do ý nghĩa nỗ lực, chánh tinh tấn ly tham khỏi tà tinh tấn. Do ý nghĩa an trú, chánh niệm ly tham khỏi tà niệm. Do ý nghĩa không phân tán, chánh định ly tham khỏi tà định. Vị ấy ly tham khỏi các phiền não đi theo sau đó và các uẩn. Và ly tham khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Sự ly tham có sự ly tham làm đối tượng, có sự ly tham làm hành xứ, đã sanh khởi tốt đẹp trong sự ly tham, đứng vững trong sự ly tham, được an lập trong sự ly tham.
Virāgoti dve virāgā – nibbānañca virāgo, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe virāgā hontīti – virāgā. Sahajātāni sattaṅgāni virāgaṃ gacchantīti – virāgo maggo. Etena maggena buddhā ca sāvakā ca agataṃ disaṃ nibbānaṃ gacchantīti – aṭṭhaṅgiko maggo. Yāvatā puthusamaṇabrāhmaṇānaṃ parappavādānaṃ maggā, ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo aggo ca seṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro cāti – maggānaṃ aṭṭhaṅgiko seṭṭho.
Regarding 'dispassion,' there are two kinds of dispassion: Nibbāna is dispassion, and all phenomena that arise with Nibbāna as their object are dispassions. The seven co-arisen factors go to dispassion; therefore, the path is called dispassion. By this path, the Buddhas and their disciples go to the unreached direction, Nibbāna; therefore, it is the Eightfold Path. To whatever extent there are paths of various ascetics and brahmins of other doctrines, this very Noble Eightfold Path is the foremost, the best, the chief, the highest, and the most excellent; therefore, of all paths, the Eightfold Path is the best.
Về 'ly tham' (virāga), có hai loại ly tham: Niết-bàn là ly tham, và tất cả các pháp sanh khởi do có Niết-bàn làm đối tượng đều là những trạng thái ly tham — đó gọi là ly tham. Bảy chi phần đồng sanh đi đến sự ly tham — đó gọi là Đạo ly tham. Nhờ đạo lộ này, các đức Phật và các thinh văn đi đến phương xứ chưa từng đến là Niết-bàn — đó gọi là Bát chi đạo. Trong số các đạo lộ của nhiều Sa-môn và Bà-la-môn thuộc các giáo thuyết khác, chính Thánh đạo tám chi này là cao nhất, tối thắng, hàng đầu, tối thượng và ưu việt nhất. Vì thế, trong các đạo lộ, Bát chi đạo là tối thắng.
Sakadāgāmimaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi…pe… avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi oḷārikā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā oḷārikā kāmarāgānusayā paṭighānusayā virajjati, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca virajjati, bahiddhā ca sabbanimittehi virajjati. Virāgo virāgārammaṇo virāgagocaro virāge samudāgato virāge ṭhito virāge patiṭṭhito.
At the moment of the once-returner's path, Right View by way of seeing... (and so on)... up to Right Concentration by way of non-distraction is detached from the gross fetter of sensual desire and the fetter of aversion, and from the gross latent tendency of sensual desire and the latent tendency of aversion. It is detached from the defilements and aggregates that follow accordingly, and it is detached from all external signs. Dispassion has Nibbāna as its object, has Nibbāna as its resort, arises well in Nibbāna, stands in Nibbāna, and is established in Nibbāna.
Trong sát-na đạo Nhất Lai, chánh kiến do ý nghĩa thấy...v.v... chánh định do ý nghĩa không tán loạn, ly tham khỏi tham ái dục giới kiết sử và sân kiết sử thô thiển, khỏi tham ái dục giới tùy miên và sân tùy miên thô thiển; và ly tham khỏi các phiền não tùy hành và các uẩn; và ly tham khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Sự ly tham có sự ly tham làm đối tượng, có sự ly tham làm hành xứ, đã sanh khởi tốt đẹp trong sự ly tham, đứng vững trong sự ly tham, được an lập trong sự ly tham.
Virāgoti dve virāgā – nibbānañca virāgo, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe virāgā hontīti – virāgā. Sahajātāni sattaṅgāni virāgaṃ gacchantīti – virāgo maggo. Etena maggena buddhā ca sāvakā ca agataṃ disaṃ nibbānaṃ gacchantīti – aṭṭhaṅgiko maggo. Yāvatā puthusamaṇabrāhmaṇānaṃ parappavādānaṃ maggā. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo aggo ca seṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro cāti – maggānaṃ aṭṭhaṅgiko seṭṭho.
Regarding 'Dispassion' (`virāgo`): there are two kinds of dispassion. Nibbāna is dispassion, and all dhammas that arise having Nibbāna as their object are free from passion; therefore, they are called 'dispassion'. The seven co-arisen factors go to dispassion; therefore, dispassion is the path. By this path, the Buddhas and their disciples go to Nibbāna, the unreached direction; therefore, it is the Eightfold Path. Among whatever paths there are of the many ascetics and brahmins of other doctrines, this very Noble Eightfold Path is the foremost, the best, the chief, the highest, and the most excellent. Therefore, of paths, the Eightfold Path is the best.
Về từ ‘virāga’ (ly tham), có hai loại ly tham: Niết-bàn là ly tham, và tất cả các pháp sanh khởi do có Niết-bàn làm đối tượng đều là ly tham, nên (được gọi là) ly tham. Bảy chi phần đồng sanh đi đến sự ly tham, nên (được gọi là) ly tham, là đạo. Do đạo lộ này, các vị Phật và các vị thinh văn đi đến Niết-bàn là phương xứ chưa từng đến, nên (được gọi là) Bát chi đạo. Có bao nhiêu đạo lộ của các Sa-môn, Bà-la-môn số đông theo ngoại giáo. Thánh đạo tám chi này là cao cả, là tối thắng, là chủ yếu, là tối thượng, và là ưu việt. Do đó, trong các đạo lộ, Bát chi đạo là tối thắng.
Anāgāmimaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi…pe… avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi anusahagatā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā anusahagatā kāmarāgānusayā paṭighānusayā virajjati, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca virajjati, bahiddhā ca sabbanimittehi virajjati. Virāgo virāgārammaṇo…pe… maggānaṃ aṭṭhaṅgiko seṭṭho.
At the moment of the non-returner's path, right view in the sense of seeing... (and so on)... right concentration in the sense of non-distraction is dispassionate towards the subtle fetter of sensual lust and the fetter of aversion, and the subtle underlying tendency of sensual lust and the underlying tendency of aversion. It is dispassionate towards the defilements and aggregates that follow in their wake, and is dispassionate towards all external signs. Dispassion has dispassion as its object... (and so on)... Of paths, the Eightfold Path is the best.
Trong sát-na đạo Bất Lai, chánh kiến do ý nghĩa thấy...v.v... chánh định do ý nghĩa không tán loạn, ly tham khỏi tham ái dục giới kiết sử và sân kiết sử vi tế, khỏi tham ái dục giới tùy miên và sân tùy miên vi tế; và ly tham khỏi các phiền não tùy hành và các uẩn; và ly tham khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Sự ly tham có sự ly tham làm đối tượng...v.v... trong các đạo lộ, Bát chi đạo là tối thắng.
Arahattamaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi…pe… avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi rūparāgā arūparāgā mānā uddhaccā avijjāya mānānusayā bhavarāgānusayā avijjānusayā virajjati, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca virajjati, bahiddhā ca sabbanimittehi virajjati virāgo virāgārammaṇo virāgagocaro virāge samudāgato virāge ṭhito virāge patiṭṭhito.
At the moment of the Arahant path, right view in the sense of seeing... (and so on)... right concentration in the sense of non-distraction is dispassionate towards lust for form, lust for the formless, conceit, restlessness, ignorance, the underlying tendency of conceit, the underlying tendency of lust for existence, and the underlying tendency of ignorance. It is dispassionate towards the defilements and aggregates that follow in their wake, and is dispassionate towards all external signs. Dispassion has dispassion as its object, has dispassion as its resort, has arisen well in dispassion, is established in dispassion, and is firmly established in dispassion.
Trong sát-na đạo A-la-hán, chánh kiến do ý nghĩa thấy...v.v... chánh định do ý nghĩa không tán loạn, ly tham khỏi tham ái sắc giới, tham ái vô sắc giới, ngã mạn, trạo cử, vô minh, ngã mạn tùy miên, hữu ái tùy miên, vô minh tùy miên; và ly tham khỏi các phiền não tùy hành và các uẩn; và ly tham khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Sự ly tham có sự ly tham làm đối tượng, có sự ly tham làm hành xứ, đã sanh khởi tốt đẹp trong sự ly tham, đứng vững trong sự ly tham, được an lập trong sự ly tham.
Virāgoti dve virāgā – nibbānañca virāgo, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe virāgā hontīti – virāgā. Sahajātāni sattaṅgāni virāgaṃ gacchantīti – virāgo maggo. Etena maggena buddhā ca sāvakā ca agataṃ disaṃ nibbānaṃ gacchantīti – aṭṭhaṅgiko maggo. Yāvatā puthusamaṇabrāhmaṇānaṃ parappavādānaṃ maggā. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo aggo ca seṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro cāti – maggānaṃ aṭṭhaṅgiko seṭṭho.
Regarding 'Dispassion' (`virāgo`): there are two kinds of dispassion. Nibbāna is dispassion, and all dhammas that arise having Nibbāna as their object are free from passion; therefore, they are called 'dispassion'. The seven co-arisen factors go to dispassion; therefore, dispassion is the path. By this path, the Buddhas and their disciples go to Nibbāna, the unreached direction; therefore, it is the Eightfold Path. Among whatever paths there are of the many ascetics and brahmins of other doctrines, this very Noble Eightfold Path is the foremost, the best, the chief, the highest, and the most excellent. Therefore, of paths, the Eightfold Path is the best.
Về từ ‘virāga’ (ly tham), có hai loại ly tham: Niết-bàn là ly tham, và tất cả các pháp sanh khởi do có Niết-bàn làm đối tượng đều là ly tham, nên (được gọi là) ly tham. Bảy chi phần đồng sanh đi đến sự ly tham, nên (được gọi là) ly tham, là đạo. Do đạo lộ này, các vị Phật và các vị thinh văn đi đến Niết-bàn là phương xứ chưa từng đến, nên (được gọi là) Bát chi đạo. Có bao nhiêu đạo lộ của các Sa-môn, Bà-la-môn số đông theo ngoại giáo. Thánh đạo tám chi này là cao cả, là tối thắng, là chủ yếu, là tối thượng, và là ưu việt. Do đó, trong các đạo lộ, Bát chi đạo là tối thắng.
Dassanavirāgo sammādiṭṭhi. Abhiniropanavirāgo sammāsaṅkappo. Pariggahavirāgo sammāvācā. Samuṭṭhānavirāgo sammākammanto. Vodānavirāgo sammāājīvo. Paggahavirāgo sammāvāyāmo. Upaṭṭhānavirāgo sammāsati. Avikkhepavirāgo sammāsamādhi. Upaṭṭhānavirāgo satisambojjhaṅgo. Pavicayavirāgo dhammavicayasambojjhaṅgo. Paggahavirāgo vīriyasambojjhaṅgo. Pharaṇavirāgo pītisambojjhaṅgo. Upasamavirāgo passaddhisambojjhaṅgo. Avikkhepavirāgo samādhisambojjhaṅgo. Paṭisaṅkhānavirāgo upekkhāsambojjhaṅgo. Assaddhiye akampiyavirāgo saddhābalaṃ. Kosajje akampiyavirāgo vīriyabalaṃ. Pamāde akampiyavirāgo satibalaṃ. Uddhacce akampiyavirāgo samādhibalaṃ. Avijjāya akampiyavirāgo paññābalaṃ. Adhimokkhavirāgo saddhindriyaṃ. Paggahavirāgo vīriyindriyaṃ. Upaṭṭhānavirāgo satindriyaṃ. Avikkhepavirāgo samādhindriyaṃ. Dassanavirāgo paññindriyaṃ. Ādhipateyyaṭṭhena indriyāni virāgo. Akampiyaṭṭhena balaṃ virāgo. Niyyānaṭṭhena bojjhaṅgā virāgo. Hetuṭṭhena maggo virāgo. Upaṭṭhānaṭṭhena satipaṭṭhānā virāgo. Padahanaṭṭhena sammappadhānā virāgo. Ijjhanaṭṭhena iddhipādā virāgo. Tathaṭṭhena saccā virāgo. Avikkhepaṭṭhena samatho virāgo. Anupassanaṭṭhena vipassanā virāgo. Ekarasaṭṭhena samathavipassanā virāgo. Anativattanaṭṭhena yuganaddhaṃ virāgo. Saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi virāgo. Avikkhepaṭṭhena cittavisuddhi virāgo. Dassanaṭṭhena diṭṭhivisuddhi virāgo. Vimuttaṭṭhena vimokkho virāgo. Paṭivedhaṭṭhena vijjā virāgo. Pariccāgaṭṭhena vimutti virāgo. Samucchedaṭṭhena khaye ñāṇaṃ virāgo. Chando mūlaṭṭhena virāgo. Manasikāro samuṭṭhānaṭṭhena virāgo. Phasso samodhānaṭṭhena virāgo. Vedanā samosaraṇaṭṭhena virāgo. Samādhi pamukhaṭṭhena virāgo. Sati ādhipateyyaṭṭhena virāgo. Paññā tatuttaraṭṭhena virāgo. Vimutti sāraṭṭhena virāgo. Amatogadhaṃ nibbānaṃ pariyosānaṭṭhena maggo.
Dispassion of seeing is Right View. Dispassion of directing [the mind] is Right Intention. Dispassion of comprehension is Right Speech. Dispassion of origination is Right Action. Dispassion of purification is Right Livelihood. Dispassion of exertion is Right Effort. Dispassion of establishment is Right Mindfulness. Dispassion of non-distraction is Right Concentration. Dispassion of establishment is the enlightenment factor of mindfulness. Dispassion of investigation is the enlightenment factor of investigation of phenomena. Dispassion of exertion is the enlightenment factor of energy. Dispassion of pervasion is the enlightenment factor of rapture. Dispassion of appeasement is the enlightenment factor of tranquility. Dispassion of non-distraction is the enlightenment factor of concentration. Dispassion of reflection is the enlightenment factor of equanimity. The dispassion of being unshakable by lack of faith is the power of faith. The dispassion of being unshakable by laziness is the power of energy. The dispassion of being unshakable by heedlessness is the power of mindfulness. The dispassion of being unshakable by restlessness is the power of concentration. The dispassion of being unshakable by ignorance is the power of wisdom. Dispassion of conviction is the faculty of faith. Dispassion of exertion is the faculty of energy. Dispassion of establishment is the faculty of mindfulness. Dispassion of non-distraction is the faculty of concentration. Dispassion of seeing is the faculty of wisdom. The faculties are dispassion in the sense of dominance. The powers are dispassion in the sense of being unshakable. The enlightenment factors are dispassion in the sense of leading out. The path is dispassion in the sense of cause. The foundations of mindfulness are dispassion in the sense of establishment. The right strivings are dispassion in the sense of striving. The bases of spiritual power are dispassion in the sense of accomplishment. The truths are dispassion in the sense of being actual. Serenity is dispassion in the sense of non-distraction. Insight is dispassion in the sense of contemplation. Serenity and insight are dispassion in the sense of having a single function. Coupling is dispassion in the sense of non-transgression. The purification of virtue is dispassion in the sense of restraint. The purification of mind is dispassion in the sense of non-distraction. The purification of view is dispassion in the sense of seeing. Deliverance is dispassion in the sense of liberation. True knowledge is dispassion in the sense of penetration. Liberation is dispassion in the sense of relinquishment. The knowledge of destruction is dispassion in the sense of eradication. Desire is dispassion in the sense of being a root. Attention is dispassion in the sense of origination. Contact is dispassion in the sense of convergence. Feeling is dispassion in the sense of gathering. Concentration is dispassion in the sense of being foremost. Mindfulness is dispassion in the sense of dominance. Wisdom is dispassion in the sense of being supreme. Liberation is dispassion in the sense of essence. Nibbāna, which plunges into the deathless, is the path in the sense of culmination.
Sự ly tham thấy là chánh kiến. Sự ly tham hướng đến là chánh tư duy. Sự ly tham thâu nhiếp là chánh ngữ. Sự ly tham khởi tác là chánh nghiệp. Sự ly tham thanh lọc là chánh mạng. Sự ly tham nỗ lực là chánh tinh tấn. Sự ly tham an trú là chánh niệm. Sự ly tham không tán loạn là chánh định. Sự ly tham an trú là niệm giác chi. Sự ly tham thẩm sát là trạch pháp giác chi. Sự ly tham nỗ lực là tấn giác chi. Sự ly tham biến mãn là hỷ giác chi. Sự ly tham an tịnh là khinh an giác chi. Sự ly tham không tán loạn là định giác chi. Sự ly tham quán xét là xả giác chi. Đối với sự không có lòng tin, sự ly tham không lay động là tín lực. Đối với sự lười biếng, sự ly tham không lay động là tấn lực. Đối với sự phóng dật, sự ly tham không lay động là niệm lực. Đối với sự trạo cử, sự ly tham không lay động là định lực. Đối với sự vô minh, sự ly tham không lay động là tuệ lực. Sự ly tham quyết định là tín quyền. Sự ly tham nỗ lực là tấn quyền. Sự ly tham an trú là niệm quyền. Sự ly tham không tán loạn là định quyền. Sự ly tham thấy là tuệ quyền. Do ý nghĩa làm chủ, các quyền là ly tham. Do ý nghĩa không lay động, các lực là ly tham. Do ý nghĩa xuất ly, các giác chi là ly tham. Do ý nghĩa là nhân, đạo là ly tham. Do ý nghĩa an trú, các niệm xứ là ly tham. Do ý nghĩa tinh cần, các chánh cần là ly tham. Do ý nghĩa thành tựu, các như ý túc là ly tham. Do ý nghĩa chân thật, các đế là ly tham. Do ý nghĩa không tán loạn, chỉ là ly tham. Do ý nghĩa quán chiếu, quán là ly tham. Do ý nghĩa một vị, chỉ-quán là ly tham. Do ý nghĩa không vượt qua, song hành là ly tham. Do ý nghĩa phòng hộ, giới thanh tịnh là ly tham. Do ý nghĩa không tán loạn, tâm thanh tịnh là ly tham. Do ý nghĩa thấy, kiến thanh tịnh là ly tham. Do ý nghĩa giải thoát, thắng giải là ly tham. Do ý nghĩa thông đạt, minh là ly tham. Do ý nghĩa từ bỏ, giải thoát là ly tham. Do ý nghĩa đoạn tận, diệt trí là ly tham. Dục do ý nghĩa là cội rễ là ly tham. Tác ý do ý nghĩa là khởi điểm là ly tham. Xúc do ý nghĩa là sự hội tụ là ly tham. Thọ do ý nghĩa là sự quy tụ là ly tham. Định do ý nghĩa là chủ yếu là ly tham. Niệm do ý nghĩa làm chủ là ly tham. Tuệ do ý nghĩa vượt trội là ly tham. Giải thoát do ý nghĩa là cốt lõi là ly tham. Niết-bàn, nơi đi vào bất tử, do ý nghĩa là cứu cánh, là đạo.
Dassanamaggo sammādiṭṭhi, abhiniropanamaggo sammāsaṅkappo…pe… amatogadhaṃ nibbānaṃ pariyosānaṭṭhena maggo. Evaṃ virāgo maggo.
Right View is the path of seeing; Right Intention is the path of directing. … Nibbāna, the entry to the deathless, is the path in the sense of being the consummation. Thus, dispassion is the path.
Chánh kiến là đạo lộ của sự thấy, chánh tư duy là đạo lộ của sự hướng đến... Níp-bàn, sự thể nhập vào bất tử, là đạo lộ theo ý nghĩa là sự kết thúc. Như vậy, sự ly tham là đạo lộ.
29. Kathaṃ vimutti phalaṃ? Sotāpattiphalakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi micchādiṭṭhiyā vimuttā hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vimuttā hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi vimuttā hoti, vimutti vimuttārammaṇā vimuttigocarā vimuttiyā samudāgatā vimuttiyā ṭhitā vimuttiyā patiṭṭhitā. Vimuttīti dve muttiyo – nibbānañca vimutti, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe ca vimuttā hontīti – vimutti phalaṃ.
29. How is liberation the fruit? At the moment of the fruit of stream-entry, Right View is liberated from wrong view in the sense of seeing. It is also liberated from the defilements and aggregates that follow it, and it is liberated from all external signs. Liberation has liberation as its object, liberation as its sphere; it arises well in liberation, is established in liberation, and is firmly established in liberation. Regarding 'liberation', there are two liberations: Nibbāna is liberation, and all phenomena that arise with Nibbāna as their object are also liberated—therefore, liberation is the fruit.
29. Thế nào là giải thoát quả? Trong sát-na của quả Dự lưu, do ý nghĩa thấy nên chánh kiến được giải thoát khỏi tà kiến, được giải thoát khỏi các phiền não đi theo sau và khỏi các uẩn, và được giải thoát khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được sanh khởi tốt đẹp trong sự giải thoát, được an trú trong sự giải thoát, được thiết lập vững chắc trong sự giải thoát. Về 'giải thoát', có hai sự giải thoát: Níp-bàn là giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên có Níp-bàn làm đối tượng cũng được giải thoát. Do đó, giải thoát là quả.
Abhiniropanaṭṭhena sammāsaṅkappo micchāsaṅkappā vimutto hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vimutto hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi vimutto hoti, vimutti vimuttārammaṇā vimuttigocarā vimuttiyā samudāgatā vimuttiyā ṭhitā vimuttiyā patiṭṭhitā. Vimuttīti dve vimuttiyo – nibbānañca vimutti, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe vimuttā hontīti – vimutti phalaṃ.
In the sense of directing, Right Intention is liberated from wrong intention. It is also liberated from the defilements and aggregates that follow it, and it is liberated from all external signs. Liberation has liberation as its object, liberation as its sphere; it arises well in liberation, is established in liberation, and is firmly established in liberation. Regarding 'liberation', there are two liberations: Nibbāna is liberation, and all phenomena that arise with Nibbāna as their object are also liberated—therefore, liberation is the fruit.
Do ý nghĩa hướng đến nên chánh tư duy được giải thoát khỏi tà tư duy, được giải thoát khỏi các phiền não đi theo sau và khỏi các uẩn, và được giải thoát khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được sanh khởi tốt đẹp trong sự giải thoát, được an trú trong sự giải thoát, được thiết lập vững chắc trong sự giải thoát. Về 'giải thoát', có hai sự giải thoát: Níp-bàn là giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên có Níp-bàn làm đối tượng cũng được giải thoát. Do đó, giải thoát là quả.
Pariggahaṭṭhena sammāvācā micchāvācāya vimuttā hoti, samuṭṭhānaṭṭhena sammākammanto micchākammantā vimutto hoti, vodānaṭṭhena sammāājīvo micchāājīvā vimutto hoti, paggahaṭṭhena sammāvāyāmo micchāvāyāmā vimutto hoti, upaṭṭhānaṭṭhena sammāsati micchāsatiyā vimuttā hoti, avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi micchāsamādhito vimutto hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vimutto hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi vimutto hoti, vimutti vimuttārammaṇā vimuttigocarā vimuttiyā samudāgatā vimuttiyā ṭhitā vimuttiyā patiṭṭhitā. Vimuttīti. Dve vimuttiyo – nibbānañca vimutti, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe vimuttā hontīti – vimutti phalaṃ.
By way of comprehension, Right Speech is liberated from wrong speech. By way of origination, Right Action is liberated from wrong action. By way of purification, Right Livelihood is liberated from wrong livelihood. By way of exertion, Right Effort is liberated from wrong effort. By way of establishment, Right Mindfulness is liberated from wrong mindfulness. By way of non-distraction, Right Concentration is liberated from wrong concentration; it is liberated from the defilements and aggregates that follow in accordance with it, and it is liberated from all external signs. This liberation has liberation as its object, liberation as its sphere; it arises well in liberation, abides in liberation, and is firmly established in liberation. Regarding 'liberation': there are two liberations—Nibbāna is liberation, and all phenomena that arise with Nibbāna as their object are liberated. Therefore, liberation is the fruit.
Do ý nghĩa thâu nhiếp nên chánh ngữ được giải thoát khỏi tà ngữ; do ý nghĩa làm khởi sanh nên chánh nghiệp được giải thoát khỏi tà nghiệp; do ý nghĩa trong sạch nên chánh mạng được giải thoát khỏi tà mạng; do ý nghĩa nỗ lực nên chánh tinh tấn được giải thoát khỏi tà tinh tấn; do ý nghĩa hiện khởi nên chánh niệm được giải thoát khỏi tà niệm; do ý nghĩa không tán loạn nên chánh định được giải thoát khỏi tà định, được giải thoát khỏi các phiền não đi theo sau và khỏi các uẩn, và được giải thoát khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được sanh khởi tốt đẹp trong sự giải thoát, được an trú trong sự giải thoát, được thiết lập vững chắc trong sự giải thoát. Về 'giải thoát', có hai sự giải thoát: Níp-bàn là giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên có Níp-bàn làm đối tượng cũng được giải thoát. Do đó, giải thoát là quả.
Sakadāgāmiphalakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi…pe… avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi oḷārikā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā oḷārikā kāmarāgānusayā paṭighānusayā vimutto hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vimutto hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi vimutto hoti, vimutti vimuttārammaṇā vimuttigocarā vimuttiyā samudāgatā vimuttiyā ṭhitā vimuttiyā patiṭṭhitā. Vimuttīti dve vimuttiyo – nibbānañca vimutti, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe vimuttā hontīti – vimutti phalaṃ.
At the moment of the fruit of once-returning, Right View by way of seeing... (and so on)... Right Concentration by way of non-distraction is liberated from the coarse fetter of sensual desire and the fetter of aversion, and from the coarse underlying tendency of sensual desire and the underlying tendency of aversion; it is liberated from the defilements and aggregates that follow in accordance with them, and it is liberated from all external signs. This liberation has liberation as its object, liberation as its sphere; it arises well in liberation, abides in liberation, and is firmly established in liberation. Regarding 'liberation': there are two liberations—Nibbāna is liberation, and all phenomena that arise with Nibbāna as their object are liberated. Therefore, liberation is the fruit.
Trong sát-na của quả Nhất lai, do ý nghĩa thấy nên chánh kiến... do ý nghĩa không tán loạn nên chánh định được giải thoát khỏi dục ái kiết sử và sân kiết sử thô thiển, khỏi dục ái tùy miên và sân tùy miên thô thiển, được giải thoát khỏi các phiền não đi theo sau và khỏi các uẩn, và được giải thoát khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được sanh khởi tốt đẹp trong sự giải thoát, được an trú trong sự giải thoát, được thiết lập vững chắc trong sự giải thoát. Về 'giải thoát', có hai sự giải thoát: Níp-bàn là giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên có Níp-bàn làm đối tượng cũng được giải thoát. Do đó, giải thoát là quả.
Anāgāmiphalakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi…pe… avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi anusahagatā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā anusahagatā kāmarāgānusayā paṭighānusayā vimutto hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vimutto hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi vimutto hoti, vimutti vimuttārammaṇā vimuttigocarā vimuttiyā samudāgatā vimuttiyā ṭhitā vimuttiyā patiṭṭhitā…pe….
At the moment of the fruit of non-returning, Right View by way of seeing... (and so on)... Right Concentration by way of non-distraction is liberated from the subtle fetters of sensual desire and aversion, and from the subtle underlying tendencies of sensual desire and aversion; it is liberated from the defilements and aggregates that follow in accordance with them, and it is liberated from all external signs. This liberation has liberation as its object, liberation as its sphere; it arises well in liberation, abides in liberation, and is firmly established in liberation... (and so on)...
Trong sát-na của quả Bất lai, do ý nghĩa thấy nên chánh kiến... do ý nghĩa không tán loạn nên chánh định được giải thoát khỏi dục ái kiết sử và sân kiết sử vi tế, khỏi dục ái tùy miên và sân tùy miên vi tế, được giải thoát khỏi các phiền não đi theo sau và khỏi các uẩn, và được giải thoát khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được sanh khởi tốt đẹp trong sự giải thoát, được an trú trong sự giải thoát, được thiết lập vững chắc trong sự giải thoát...
Arahattaphalakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi…pe… avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi rūparāgā arūparāgā mānā uddhaccā avijjāya mānānusayā bhavarāgānusayā avijjānusayā vimutto hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vimutto hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi vimutto hoti, vimutti vimuttārammaṇā vimuttigocarā vimuttiyā samudāgatā vimuttiyā ṭhitā vimuttiyā patiṭṭhitā. Vimuttīti dve vimuttiyo – nibbānañca vimutti, ye ca nibbānārammaṇatā jātā dhammā sabbe vimuttā hontīti – vimutti phalaṃ.
At the moment of the fruit of Arahantship, right view by way of seeing... and so on... right concentration by way of non-distraction. One is liberated from lust for form, lust for the formless, conceit, restlessness, ignorance, the underlying tendency of conceit, the underlying tendency of lust for existence, and the underlying tendency of ignorance; and is liberated from the defilements and aggregates that follow accordingly; and is liberated from all external signs. Liberation has liberation as its object, liberation as its sphere; it has arisen well in liberation, is established in liberation, and is firmly established in liberation. Regarding 'liberation,' there are two liberations: Nibbāna is liberation, and all phenomena that have arisen with Nibbāna as their object are liberated—therefore, liberation is the fruit.
Trong sát-na của quả A-la-hán, do ý nghĩa thấy nên chánh kiến... do ý nghĩa không tán loạn nên chánh định được giải thoát khỏi sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh, khỏi mạn tùy miên, hữu ái tùy miên, và vô minh tùy miên, được giải thoát khỏi các phiền não đi theo sau và khỏi các uẩn, và được giải thoát khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được sanh khởi tốt đẹp trong sự giải thoát, được an trú trong sự giải thoát, được thiết lập vững chắc trong sự giải thoát. Về 'giải thoát', có hai sự giải thoát: Níp-bàn là giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên có Níp-bàn làm đối tượng cũng được giải thoát. Do đó, giải thoát là quả.
Dassanavimutti sammādiṭṭhi…pe… avikkhepavimutti sammāsamādhi, upaṭṭhānavimutti satisambojjhaṅgo, paṭisaṅkhānavimutti upekkhāsambojjhaṅgo. Assaddhiye akampiyavimutti saddhābalaṃ…pe… avijjāya akampiyavimutti paññābalaṃ. Adhimokkhavimutti saddhindriyaṃ…pe… dassanavimutti paññindriyaṃ.
Liberation by seeing is right view... and so on... liberation by non-distraction is right concentration; liberation by establishment is the enlightenment factor of mindfulness; liberation by reflection is the enlightenment factor of equanimity. Liberation by being unshakable in the face of faithlessness is the power of faith... and so on... liberation by being unshakable in the face of ignorance is the power of wisdom. Liberation by conviction is the faculty of faith... and so on... liberation by seeing is the faculty of wisdom.
Chánh kiến là sự giải thoát bằng sự thấy... Chánh định là sự giải thoát bằng sự không tán loạn, niệm giác chi là sự giải thoát bằng sự hiện khởi, xả giác chi là sự giải thoát bằng sự thẩm sát. Tín lực là sự giải thoát không lay động khỏi sự không có lòng tin... Tuệ lực là sự giải thoát không lay động khỏi vô minh. Tín quyền là sự giải thoát bằng sự quyết đoán... Tuệ quyền là sự giải thoát bằng sự thấy.
Ādhipateyyaṭṭhena indriyā vimutti. Akampiyaṭṭhena balā vimutti, niyyānaṭṭhena bojjhaṅgā vimutti, hetuṭṭhena maggo vimutti, upaṭṭhānaṭṭhena satipaṭṭhānā vimutti, padahanaṭṭhena sammappadhānā vimutti, ijjhanaṭṭhena iddhipādā vimutti, tathaṭṭhena saccā vimutti, avikkhepaṭṭhena samatho vimutti, anupassanaṭṭhena vipassanā vimutti, ekarasaṭṭhena samathavipassanā vimutti, anativattanaṭṭhena yuganaddhaṃ vimutti, saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi vimutti, avikkhepaṭṭhena cittavisuddhi vimutti, dassanaṭṭhena diṭṭhivisuddhi vimutti, vimuttaṭṭhena vimokkho vimutti, paṭivedhaṭṭhena vijjā vimutti, pariccāgaṭṭhena vimutti vimutti, paṭippassaddhiyaṭṭhena anuppāde ñāṇaṃ vimutti, chando mūlaṭṭhena vimutti, manasikāro samuṭṭhānaṭṭhena vimutti, phasso samodhānaṭṭhena vimutti, vedanā samosaraṇaṭṭhena vimutti, samādhi pamukhaṭṭhena vimutti, sati ādhipateyyaṭṭhena vimutti, paññā tatuttaraṭṭhena vimutti, vimutti sāraṭṭhena vimutti, amatogadhaṃ nibbānaṃ pariyosānaṭṭhena vimutti. Evaṃ vimutti phalaṃ. Evaṃ virāgo maggo, vimutti phalanti.
In the sense of sovereignty, the faculties are liberation. In the sense of being unshakable, the powers are liberation. In the sense of leading out, the factors of enlightenment are liberation. In the sense of being the cause, the path is liberation. In the sense of establishment, the foundations of mindfulness are liberation. In the sense of exertion, the right efforts are liberation. In the sense of success, the bases of spiritual power are liberation. In the sense of truth, the truths are liberation. In the sense of non-distraction, tranquility is liberation. In the sense of contemplation, insight is liberation. In the sense of single function, tranquility and insight are liberation. In the sense of non-transgression, the yoked pair is liberation. In the sense of restraint, the purification of virtue is liberation. In the sense of non-distraction, the purification of mind is liberation. In the sense of seeing, the purification of view is liberation. In the sense of being liberated, freedom is liberation. In the sense of penetration, knowledge is liberation. In the sense of relinquishment, liberation is liberation. In the sense of calming, the knowledge of non-arising is liberation. In the sense of being the root, volition is liberation. In the sense of being the origin, attention is liberation. In the sense of convergence, contact is liberation. In the sense of being the gathering place, feeling is liberation. In the sense of being foremost, concentration is liberation. In the sense of sovereignty, mindfulness is liberation. In the sense of being superior, wisdom is liberation. In the sense of being the essence, liberation is liberation. In the sense of culmination, Nibbāna, the immersion in the Deathless, is liberation. Thus, liberation is the fruit. Thus, dispassion is the path, and liberation is the fruit.
Do ý nghĩa là làm chủ, các căn là giải thoát. Do ý nghĩa là không lay động, các lực là giải thoát. Do ý nghĩa là xuất ly, các giác chi là giải thoát. Do ý nghĩa là nhân, đạo là giải thoát. Do ý nghĩa là an trú, các niệm xứ là giải thoát. Do ý nghĩa là tinh tấn, các chánh cần là giải thoát. Do ý nghĩa là thành tựu, các như ý túc là giải thoát. Do ý nghĩa là chân thật, các sự thật là giải thoát. Do ý nghĩa là không tán loạn, chỉ là giải thoát. Do ý nghĩa là tùy quán, quán là giải thoát. Do ý nghĩa là một vị, chỉ-quán là giải thoát. Do ý nghĩa là không vượt qua, song hành là giải thoát. Do ý nghĩa là phòng hộ, giới thanh tịnh là giải thoát. Do ý nghĩa là không tán loạn, tâm thanh tịnh là giải thoát. Do ý nghĩa là thấy, kiến thanh tịnh là giải thoát. Do ý nghĩa là giải thoát, thắng giải là giải thoát. Do ý nghĩa là thông đạt, minh là giải thoát. Do ý nghĩa là xả ly, giải thoát là giải thoát. Do ý nghĩa là an tịnh, vô sanh trí là giải thoát. Do ý nghĩa là căn bản, dục là giải thoát. Do ý nghĩa là khởi lên, tác ý là giải thoát. Do ý nghĩa là hội tụ, xúc là giải thoát. Do ý nghĩa là tập hợp, thọ là giải thoát. Do ý nghĩa là hàng đầu, định là giải thoát. Do ý nghĩa là làm chủ, niệm là giải thoát. Do ý nghĩa là vượt trội hơn, tuệ là giải thoát. Do ý nghĩa là cốt tủy, giải thoát là giải thoát. Do ý nghĩa là cứu cánh, Niết-bàn là nơi bất tử thâm sâu là giải thoát. Như vậy, giải thoát là quả. Như vậy, ly tham là đạo, giải thoát là quả.
Virāgakathā niṭṭhitā.
The discourse on dispassion is concluded.
Phần luận về ly tham đã kết thúc.