Bản dịch
PS 2.4 — Giảng về Từ Ái
2.4. Mettākathā
[Duyên khởi ở Sāvatthī]
“Này các tỳ khưu, khi từ tâm giải thoát* là được rèn luyện, được tu tập, được làm cho sung mãn, được tạo thành phương tiện, được tạo thành nền tảng, được thiết lập, được tích lũy, được khởi đầu tốt đẹp và tĩnh lặng, mười một điều lợi ích là có thể mong mỏi. Mười một là gì? (Vị ấy) ngủ an lạc, thức dậy an lạc, không nhìn thấy mộng mị xấu xa, được loài người thương mến, được phi nhân thương mến, chư Thiên hộ trì, lửa hoặc thuốc độc hoặc dao gươm không hại được vị ấy, tâm được định nhanh chóng, sắc mặt trầm tỉnh, từ trần không mê mờ, (nếu) chưa thấu triệt pháp tối thượng thì được sanh về thế giới Phạm thiên. Này các tỳ khưu, khi từ tâm giải thoát là được rèn luyện, được tu tập, được làm cho sung mãn, được tạo thành phương tiện, được tạo thành nền tảng, được thiết lập, được tích lũy, được khởi đầu tốt đẹp và tĩnh lặng, mười một điều lợi ích này là có thể mong mỏi.
Có (loại) từ tâm giải thoát có sự lan tỏa không giới hạn, có (loại) từ tâm giải thoát có sự lan tỏa giới hạn, có (loại) từ tâm giải thoát có sự lan tỏa khắp các phương.
Từ tâm giải thoát có sự lan tỏa không giới hạn là với bao nhiêu biểu hiện? Từ tâm giải thoát có sự lan tỏa giới hạn là với bao nhiêu biểu hiện? Từ tâm giải thoát có sự lan tỏa khắp các phương là với bao nhiêu biểu hiện?
Từ tâm giải thoát có sự lan tỏa không giới hạn là với năm biểu hiện. Từ tâm giải thoát có sự lan tỏa giới hạn là với bảy biểu hiện. Từ tâm giải thoát có sự lan tỏa khắp các phương là với mười biểu hiện.
Từ tâm giải thoát có sự lan tỏa không giới hạn là với năm biểu hiện gì? ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, không độc hại, không khổ sở, hãy sống được an lạc cho bản thân. Tất cả các sinh mạng …(nt)… Tất cả các hiện hữu …(nt)… Tất cả các cá nhân …(nt)… Tất cả các hạng có bản ngã hãy là không thù nghịch, không độc hại, không khổ sở, hãy sống được an lạc cho bản thân.’ Từ tâm giải thoát có sự lan tỏa không giới hạn là với năm biểu hiện này.
Từ tâm giải thoát có sự lan tỏa giới hạn là với bảy biểu hiện gì? ‘Tất cả nữ nhân hãy là không thù nghịch, không độc hại, không khổ sở, hãy sống được an lạc cho bản thân. Tất cả nam nhân … Tất cả Thánh nhân … Tất cả phàm nhân … Tất cả chư thiên … Tất cả loài người … Tất cả hàng đọa xứ hãy là không thù nghịch, không độc hại, không khổ sở, hãy sống được an lạc cho bản thân.’ Từ tâm giải thoát có sự lan tỏa giới hạn là với bảy biểu hiện này.
Từ tâm giải thoát có sự lan tỏa khắp các hướng là với mười biểu hiện gì? ‘Tất cả chúng sanh ở hướng đông hãy là không thù nghịch, không độc hại, không khổ sở, hãy sống được an lạc cho bản thân. Tất cả chúng sanh ở hướng tây … Tất cả chúng sanh ở hướng bắc … Tất cả chúng sanh ở hướng nam … Tất cả chúng sanh ở hướng đông nam … Tất cả chúng sanh ở hướng tây bắc … Tất cả chúng sanh ở hướng đông bắc … Tất cả chúng sanh ở hướng tây nam … Tất cả chúng sanh ở hướng dưới … Tất cả chúng sanh ở hướng trên hãy là không thù nghịch, không độc hại, không khổ sở, hãy sống được an lạc cho bản thân.’ ‘Tất cả các sinh mạng ở hướng đông … các hiện hữu … các cá nhân … các hạng có bản ngã … Tất cả nữ nhân … Tất cả nam nhân … Tất cả Thánh nhân … Tất cả phàm nhân … Tất cả chư thiên … Tất cả loài người … Tất cả hàng đọa xứ ở hướng đông … Tất cả hàng đọa xứ ở hướng tây … Tất cả hàng đọa xứ ở hướng bắc … Tất cả hàng đọa xứ ở hướng nam … Tất cả hàng đọa xứ ở hướng đông nam … Tất cả hàng đọa xứ ở hướng tây bắc … Tất cả hàng đọa xứ ở hướng đông bắc … Tất cả hàng đọa xứ ở hướng tây nam … Tất cả hàng đọa xứ ở hướng dưới …(như trên)… Tất cả hàng đọa xứ ở hướng trên hãy là không thù nghịch, không độc hại, không khổ sở, hãy sống được an lạc cho bản thân.’ Từ tâm giải thoát có sự lan tỏa khắp các hướng là với mười biểu hiện này.
Đối với tất cả chúng sanh, xua đi sự áp bức bằng sự không áp bức, xua đi sự hãm hại bằng sự không hãm hại, xua đi sự bực bội bằng sự không bực bội, xua đi sự hủy hoại bằng sự không hủy hoại, xua đi sự quấy rối bằng sự không quấy rối rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch chớ có thù nghịch, hãy được an lạc chớ bị khổ đau, bản thân hãy được an lạc bản thân chớ bị khổ đau.’ ‘Thể hiện từ ái đến tất cả chúng sanh với tám biểu hiện này’ là từ ái. ‘Suy xét về pháp ấy’ là tâm. ‘Được giải thoát khỏi sự xâm nhập của tất cả các độc hại’ là giải thoát. ‘Từ ái và tâm và giải thoát’ là từ tâm giải thoát.
Cương quyết với đức tin rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi tín quyền.
Ra sức tinh tấn rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi tấn quyền.
Thiết lập niệm rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi niệm quyền.
Tập trung tâm rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi định quyền.
Nhận biết bằng tuệ rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi tuệ quyền.
Năm quyền này là sự rèn luyện của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được rèn luyện nhờ vào năm quyền này. Năm quyền này là sự tu tập của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được tu tập nhờ vào năm quyền này. Năm quyền này là được làm cho sung mãn nhờ vào từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được làm cho sung mãn nhờ vào năm quyền này. Năm quyền này là sự tô điểm của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được tô điểm khéo léo nhờ vào năm quyền này. Năm quyền này là sự bảo trì của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được bảo trì tốt đẹp nhờ vào năm quyền này. Năm quyền này là sự phụ trợ của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được phụ trợ tốt đẹp nhờ vào năm quyền này.
Đối với từ tâm giải thoát, năm quyền này là sự rèn luyện, là sự tu tập, là được làm cho sung mãn, là sự tô điểm, là sự bảo trì, là sự phụ trợ, là có sự toàn vẹn, là đồng hành, là đồng sanh, là đã được nối liền, là đã được liên kết, là sự tiến vào, là sự tạo niềm tin, là sự an trụ, là sự giải thoát, là sự chạm đến ‘Điều này là an tịnh,’ là đã được tạo thành phương tiện, là đã được tạo thành nền tảng, là đã được thiết lập, là đã được tích lũy, là đã được khởi đầu tốt đẹp và tĩnh lặng, là đã được tu tập tốt đẹp, là đã được khẳng định tốt đẹp, là đã được hiện khởi tốt đẹp, là đã được giải thoát tốt đẹp; chúng làm cho sanh trưởng, làm cho sáng tỏ, làm cho rạng rỡ.
(Khi tác ý) rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc,’ như thế (vị ấy) không rung động bởi sự không có đức tin; từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi tín lực.
(Khi tác ý) rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc,’ như thế (vị ấy) không rung động bởi sự biếng nhác; từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi tấn lực.
(Khi tác ý) rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc,’ như thế (vị ấy) không rung động bởi sự buông lung; từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi niệm lực.
(Khi tác ý) rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc,’ như thế (vị ấy) không rung động bởi sự phóng dật; từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi định lực.
(Khi tác ý) rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc,’ như thế (vị ấy) không rung động bởi vô minh; từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi tuệ lực.
Năm lực này là sự rèn luyện của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được rèn luyện nhờ vào năm lực này. Năm lực này là sự tu tập của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được tu tập nhờ vào năm lực này. Năm lực này là được làm cho sung mãn nhờ vào từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được làm cho sung mãn nhờ vào năm lực này. Năm lực này là sự tô điểm của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được tô điểm khéo léo nhờ vào năm lực này. Năm lực này là sự bảo trì của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được bảo trì tốt đẹp nhờ vào năm lực này. Năm lực này là sự phụ trợ của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được phụ trợ tốt đẹp nhờ vào năm lực này.
Đối với từ tâm giải thoát, năm quyền này là sự rèn luyện, là sự tu tập, đã được làm cho sung mãn, là sự tô điểm, là sự bảo trì, là sự phụ trợ, là có sự toàn vẹn, là đồng hành, là đồng sanh, là đã được nối liền, là đã được liên kết, là sự tiến vào, là sự tạo niềm tin, là sự an trụ, là sự giải thoát, là sự chạm đến ‘Điều này là an tịnh,’ là đã được tạo thành phương tiện, là đã được tạo thành nền tảng, là đã được thiết lập, là đã được tích lũy, là đã được khởi đầu tốt đẹp và tĩnh lặng, là đã được tu tập tốt đẹp, là đã được khẳng định tốt đẹp, là đã được hiện khởi tốt đẹp, là đã được giải thoát tốt đẹp; chúng làm cho sanh trưởng, làm cho sáng tỏ, làm cho rạng rỡ.
Thiết lập niệm rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi niệm giác chi.
Suy xét bằng tuệ rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi trạch pháp giác chi.
Ra sức tinh tấn rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi cần giác chi.
Làm an tịnh sự bực bội rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi hỷ giác chi.
Làm an tịnh sự thô xấu rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi tịnh giác chi.
Tập trung tâm rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi định giác chi.
Phân biệt rõ các phiền não bằng trí rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi xả giác chi.
Bảy giác chi này là sự rèn luyện của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được rèn luyện nhờ vào bảy giác chi này.
Bảy giác chi này là sự tu tập của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được tu tập nhờ vào bảy giác chi này.
Bảy giác chi này là được làm cho sung mãn nhờ vào từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được làm cho sung mãn nhờ vào bảy giác chi này.
Bảy giác chi này là sự tô điểm của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được tô điểm khéo léo nhờ vào bảy giác chi này.
Bảy giác chi này là sự bảo trì của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được bảo trì tốt đẹp nhờ vào bảy giác chi này.
Bảy giác chi này là sự phụ trợ của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được phụ trợ tốt đẹp nhờ vào bảy giác chi này.
Đối với từ tâm giảì thoát, bảy giác chi này là sự rèn luyện, là sự tu tập, đã được làm cho sung mãn, là sự tô điểm, là sự bảo trì, là sự phụ trợ, có sự toàn vẹn, là đồng hành, là đồng sanh, là đã được nối liền, là đã được liên kết, là sự tiến vào, là sự tạo niềm tin, là sự an trụ, là sự giải thoát, là sự chạm đến ‘Điều này là an tịnh,’ là đã được tạo thành phương tiện, là đã được tạo thành nền tảng, là đã được thiết lập, là đã được tích lũy, là đã được khởi đầu tốt đẹp và tĩnh lặng, là đã được tu tập tốt đẹp, là đã được khẳng định tốt đẹp, là đã được hiện khởi tốt đẹp, là đã được giải thoát tốt đẹp; chúng làm cho sanh trưởng, làm cho sáng tỏ, làm cho rạng rỡ.
Nhận thức đúng đắn rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi chánh kiến.
Gắn chặt đúng đắn (tâm vào cảnh) rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi chánh tư duy.
Gìn giữ đúng đắn rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi chánh ngữ.
Làm cho sanh khởi đúng đắn rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi chánh nghiệp.
Làm cho trong sạch rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi chánh mạng.
Ra sức đúng đắn rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi chánh tinh tấn.
Thiết lập đúng đắn rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi chánh niệm.
Tập trung (tâm) đúng đắn rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi chánh định.
Tám chi đạo này là sự rèn luyện của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được rèn luyện nhờ vào tám chi đạo này. Tám chi đạo này là sự tu tập của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được tu tập nhờ vào tám chi đạo này. Tám chi đạo này là được làm cho sung mãn nhờ vào từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được làm cho sung mãn nhờ vào tám chi đạo này. Tám chi đạo này là sự tô điểm của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được tô điểm khéo léo nhờ vào tám chi đạo này. Tám chi đạo này là sự bảo trì của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được bảo trì tốt đẹp nhờ vào tám chi đạo này. Tám chi đạo này là sự phụ trợ của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được phụ trợ tốt đẹp nhờ vào tám chi đạo này.
Đối với từ tâm giải thoát, tám chi đạo này là sự rèn luyện, là sự tu tập, đã được làm cho sung mãn, là sự tô điểm, là sự bảo trì, là sự phụ trợ, có sự toàn vẹn, là đồng hành, là đồng sanh, là đã được nối liền, là đã được liên kết, là sự tiến vào, là sự tạo niềm tin, là sự an trụ, là sự giải thoát, là sự chạm đến ‘Điều này là an tịnh,’ là đã được tạo thành phương tiện, là đã được tạo thành nền tảng, là đã được thiết lập, là đã được tích lũy, là đã được khởi đầu tốt đẹp và tĩnh lặng, là đã được tu tập tốt đẹp, là đã được khẳng định tốt đẹp, là đã được hiện khởi tốt đẹp, là đã được giải thoát tốt đẹp; chúng làm cho sanh trưởng, làm cho sáng tỏ, làm cho rạng rỡ.
Đối với tất cả các sinh mạng … Đối với tất cả các hiện hữu … Đối với tất cả các cá nhân … Đối với tất cả các hạng có bản ngã … Đối với tất cả nữ nhân … Đối với tất cả nam nhân … Đối với tất cả Thánh nhân … Đối với tất cả phàm nhân … Đối với tất cả chư thiên … Đối với tất cả loài người … Đối với tất cả hàng đọa xứ, xua đi sự áp bức bằng sự không áp bức, xua đi sự hãm hại bằng sự không hãm hại, xua đi sự bực bội bằng sự không bực bội, xua đi sự hủy hoại bằng sự không hủy hoại, xua đi sự quấy rối bằng sự không quấy rối rằng: ‘Tất cả chúng sanh hãy là không thù nghịch chớ có thù nghịch, hãy được an lạc chớ bị khổ đau, bản thân hãy được an lạc bản thân chớ bị khổ đau.’ ‘Thể hiện từ ái đến tất cả hàng đọa xứ với tám biểu hiện này’ là từ ái. ‘Suy xét về pháp ấy’ là tâm. ‘Được giải thoát khỏi sự xâm nhập của tất cả các độc hại’ là giải thoát. ‘Từ ái và tâm và giải thoát’ là từ tâm giải thoát.
Cương quyết với đức tin rằng: ‘Tất cả hàng đọa xứ hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi tín quyền …(như trên)…; chúng làm cho sanh trưởng, làm cho sáng tỏ, làm cho rạng rỡ.
Đối với tất cả chúng sanh ở hướng đông … Đối với tất cả chúng sanh ở hướng tây … Đối với tất cả chúng sanh ở hướng bắc … Đối với tất cả chúng sanh ở hướng nam … Đối với tất cả chúng sanh ở hướng đông nam … Đối với tất cả chúng sanh ở hướng tây bắc … Đối với tất cả chúng sanh ở hướng đông bắc … Đối với tất cả chúng sanh ở hướng tây nam … Đối với tất cả chúng sanh ở hướng dưới … Đối với tất cả chúng sanh ở hướng trên, xua đi sự áp bức bằng sự không áp bức, xua đi sự hãm hại bằng sự không hãm hại, xua đi sự bực bội bằng sự không bực bội, xua đi sự hủy hoại bằng sự không hủy hoại, xua đi sự quấy rối bằng sự không quấy rối rằng: ‘Tất cả chúng sanh ở hướng trên hãy là không thù nghịch chớ có thù nghịch, hãy được an lạc chớ bị khổ đau, bản thân hãy được an lạc bản thân chớ bị khổ đau.’ ‘Thể hiện từ ái đến tất cả hàng đọa xứ với tám biểu hiện này’ là từ ái. ‘Suy xét về pháp ấy’ là tâm. ‘Được giải thoát khỏi sự xâm nhập của tất cả các độc hại’ là giải thoát. ‘Từ ái và tâm và giải thoát’ là từ tâm giải thoát.
Cương quyết với đức tin rằng: ‘Tất cả hàng đọa xứ ở hướng trên hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi tín quyền …(như trên)…; chúng làm cho sanh trưởng, làm cho sáng tỏ, làm cho rạng rỡ.
Đối với tất cả các sinh mạng ở hướng đông … Đối với tất cả các hiện hữu … Đối với tất cả các cá nhân … Đối với tất cả các hạng có bản ngã … Đối với tất cả nữ nhân … Đối với tất cả nam nhân … Đối với tất cả Thánh nhân … Đối với tất cả phàm nhân … Đối với tất cả chư thiên … Đối với tất cả loài người … Đối với tất cả hàng đọa xứ … Đối với tất cả hàng đọa xứ ở hướng tây … Đối với tất cả hàng đọa xứ ở hướng bắc … Đối với tất cả hàng đọa xứ ở hướng nam … Đối với tất cả hàng đọa xứ ở hướng đông nam … Đối với tất cả hàng đọa xứ ở hướng tây bắc … Đối với tất cả hàng đọa xứ ở hướng đông bắc … Đối với tất cả hàng đọa xứ ở hướng tây nam … Đối với tất cả hàng đọa xứ ở hướng dưới … Đối với tất cả hàng đọa xứ ở hướng trên, xua đi sự áp bức bằng sự không áp bức, xua đi sự hãm hại bằng sự không hãm hại, xua đi sự bực bội bằng sự không bực bội, xua đi sự hủy hoại bằng sự không hủy hoại, xua đi sự quấy rối bằng sự không quấy rối rằng: ‘Tất cả hàng đọa xứ ở hướng trên hãy là không thù nghịch chớ có thù nghịch, hãy được an lạc chớ bị khổ đau, bản thân hãy được an lạc bản thân chớ bị khổ đau.’ ‘Thể hiện từ ái đến tất cả hàng đọa xứ với tám biểu hiện này’ là từ ái. ‘Suy xét về pháp ấy’ là tâm. ‘Được giải thoát khỏi sự xâm nhập của tất cả các độc hại’ là giải thoát. ‘Từ ái và tâm và giải thoát’ là từ tâm giải thoát.
Cương quyết với đức tin rằng: ‘Tất cả hàng đọa xứ ở hướng trên hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi tín quyền. Ra sức tinh tấn rằng: ‘Tất cả hàng đọa xứ ở hướng trên hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi tấn quyền. Thiết lập niệm rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi niệm quyền. Tập trung tâm rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi định quyền. Nhận biết bằng tuệ rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi tuệ quyền.
Năm quyền này là sự rèn luyện của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được rèn luyện nhờ vào năm quyền này. …(như trên)…; chúng làm cho sanh trưởng, làm cho sáng tỏ, làm cho rạng rỡ.
Không dao động ở sự không có đức tin rằng: ‘Tất cả hàng đọa xứ ở hướng trên hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi tín quyền. Không dao động ở sự biếng nhác rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi tấn lực. Không dao động ở sự buông lung rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi niệm lực. Không dao động ở sự phóng dật rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi định lực. Không dao động ở vô minh rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi tuệ lực.
Năm lực này là sự rèn luyện của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được rèn luyện nhờ vào năm quyền này. …(như trên)…; chúng làm cho sanh trưởng, làm cho sáng tỏ, làm cho rạng rỡ.
Thiết lập niệm rằng: ‘Tất cả hàng đọa xứ ở hướng trên hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi niệm giác chi. Suy xét bằng tuệ rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi trạch pháp giác chi. Ra sức tinh tấn rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi cần giác chi. Làm an tịnh sự bực bội rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi hỷ giác chi. Làm an tịnh sự thô xấu rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi tịnh giác chi. Tập trung tâm rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi định giác chi. Phân biệt rõ các phiền não bằng trí rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi xả giác chi.
Bảy giác chi này là sự rèn luyện của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được rèn luyện nhờ bảy giác chi này. …(như trên)…; chúng làm cho sanh trưởng, làm cho sáng tỏ, làm cho rạng rỡ.
Nhận thức đúng đắn rằng: ‘Tất cả hàng đọa xứ ở hướng trên hãy là không thù nghịch, được yên ổn, được an lạc;’ như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi chánh kiến. Gắn chặt đúng đắn (tâm vào cảnh) rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi chánh tư duy. Gìn giữ đúng đắn rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi chánh ngữ. Làm cho sanh khởi đúng đắn rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi chánh nghiệp. Làm cho trong sạch rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi chánh mạng. Ra sức đúng đắn rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi chánh tinh tấn. Thiết lập đúng đắn rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi chánh niệm. Tập trung (tâm) đúng đắn rằng: …(như trên)… như thế từ tâm giải thoát là được tăng cường bởi chánh định.
Tám chi đạo này là sự rèn luyện của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được rèn luyện nhờ vào tám chi đạo này. …(như trên)… Tám chi đạo này là sự phụ trợ của từ tâm giải thoát, từ tâm giải thoát được phụ trợ tốt đẹp nhờ vào tám chi đạo này.
Đối với từ tâm giải thoát, tám chi đạo này là sự rèn luyện, là sự tu tập, đã được làm cho sung mãn, là sự tô điểm, là sự bảo trì, là sự phụ trợ, có sự toàn vẹn, là đồng hành, là đồng sanh, là đã được nối liền, là đã được liên kết, là sự tiến vào, là sự tạo niềm tin, là sự an trụ, là sự giải thoát, là sự chạm đến ‘Điều này là an tịnh,’ là đã được tạo thành phương tiện, là đã được tạo thành nền tảng, là đã được thiết lập, là đã được tích lũy, là đã được khởi đầu tốt đẹp và tĩnh lặng, là đã được tu tập tốt đẹp, là đã được khẳng định tốt đẹp, là đã được hiện khởi tốt đẹp, là đã được giải thoát tốt đẹp; chúng làm cho sanh trưởng, làm cho sáng tỏ, làm cho rạng rỡ.
Phần Giảng về Từ Ái được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Katamehi pañcahākārehi anodhiso pharaṇā mettācetovimutti? Sabbe sattā averā abyāpajjā † anīghā sukhī attānaṃ pariharantu. Sabbe pāṇā…pe… sabbe bhūtā…pe… sabbe puggalā…pe… sabbe attabhāvapariyāpannā averā abyāpajjā anīghā sukhī attānaṃ pariharantūti. Imehi pañcahākārehi anodhiso pharaṇā mettācetovimutti.
In what five modes is there the liberation of mind through loving-kindness as an unspecified pervasion? “May all beings be free from enmity, free from ill-will, free from distress, and may they maintain themselves in happiness.” “May all living beings…” “May all creatures…” “May all persons…” “May all those included in a personal existence be free from enmity, free from ill-will, free from distress, and may they maintain themselves in happiness.” In these five modes, there is the liberation of mind through loving-kindness as an unspecified pervasion.
Tâm giải thoát do từ bi biến mãn không có giới hạn có năm cách là những cách nào? Mong rằng tất cả chúng sanh không oán thù, không sân hận, không đau khổ, được sống an lạc, tự bảo hộ mình. Mong rằng tất cả sinh vật… này… tất cả sinh linh… này… tất cả cá nhân… này… tất cả chúng sanh có thân không oán thù, không sân hận, không đau khổ, được sống an lạc, tự bảo hộ mình. Tâm giải thoát do từ bi biến mãn không có giới hạn có năm cách này.
Katamehi sattahākārehi odhiso pharaṇā mettācetovimutti? Sabbā itthiyo averā abyāpajjā anīghā sukhī attānaṃ pariharantu. Sabbe purisā…pe… sabbe ariyā…pe… sabbe anariyā…pe… sabbe devā…pe… sabbe manussā…pe… sabbe vinipātikā averā abyāpajjā anīghā sukhī attānaṃ pariharantūti. Imehi sattahākārehi odhiso pharaṇā mettācetovimutti.
In what seven modes is the specified pervasion of the liberation of mind through loving-kindness? "May all women be free from enmity, free from ill-will, free from distress, and may they maintain themselves in happiness. May all men... may all noble ones... may all non-noble ones... may all deities... may all humans... may all those in states of woe be free from enmity, free from ill-will, free from distress, and may they maintain themselves in happiness." In these seven modes is the specified pervasion of the liberation of mind through loving-kindness.
Tâm giải thoát do từ bi biến mãn có giới hạn có bảy cách là những cách nào? Mong rằng tất cả nữ giới không oán thù, không sân hận, không đau khổ, được sống an lạc, tự bảo hộ mình. Mong rằng tất cả nam giới… này… tất cả bậc Thánh… này… tất cả phàm phu… này… tất cả chư thiên… này… tất cả loài người… này… tất cả chúng sanh ở đọa xứ không oán thù, không sân hận, không đau khổ, được sống an lạc, tự bảo hộ mình. Tâm giải thoát do từ bi biến mãn có giới hạn có bảy cách này.
Katamehi dasahākārehi disāpharaṇā mettācetovimutti? Sabbe puratthimāya disāya sattā averā abyāpajjā anīghā sukhī attānaṃ pariharantu. Sabbe pacchimāya disāya sattā…pe… sabbe uttarāya disāya sattā…pe… sabbe dakkhiṇāya disāya sattā…pe… sabbe puratthimāya anudisāya sattā…pe… sabbe pacchimāya anudisāya sattā…pe… sabbe uttarāya anudisāya sattā…pe… sabbe dakkhiṇāya anudisāya sattā…pe… sabbe heṭṭhimāya disāya sattā…pe… sabbe uparimāya disāya sattā averā abyāpajjā anīghā sukhī attānaṃ pariharantu. Sabbe puratthimāya disāya pāṇā…pe… bhūtā… puggalā… attabhāvapariyāpannā… sabbā itthiyo… sabbe purisā… sabbe ariyā… sabbe anariyā… sabbe devā… sabbe manussā… sabbe vinipātikā averā abyāpajjā anīghā sukhī attānaṃ pariharantu. Sabbe pacchimāya disāya vinipātikā…pe… sabbe uttarāya disāya vinipātikā… sabbe dakkhiṇāya disāya vinipātikā… sabbe puratthimāya anudisāya vinipātikā… sabbe pacchimāya anudisāya vinipātikā… sabbe uttarāya anudisāya vinipātikā… sabbe dakkhiṇāya anudisāya vinipātikā… sabbe heṭṭhimāya disāya vinipātikā… sabbe uparimāya disāya vinipātikā averā abyāpajjā anīghā sukhī attānaṃ pariharantūti. Imehi dasahākārehi disāpharaṇā mettācetovimutti.
By what ten modes is the directional pervasion of the liberation of mind through loving-kindness? "May all beings in the eastern direction be free from enmity, free from ill-will, free from distress, and may they maintain themselves in happiness. May all beings in the western direction... may all beings in the northern direction... may all beings in the southern direction... may all beings in the eastern intermediate direction... may all beings in the western intermediate direction... may all beings in the northern intermediate direction... may all beings in the southern intermediate direction... may all beings in the lower direction... may all beings in the upper direction be free from enmity, free from ill-will, free from distress, and may they maintain themselves in happiness. May all living beings in the eastern direction... may all creatures... may all individuals... may all those included in a personal existence... may all women... may all men... may all noble ones... may all non-noble ones... may all deities... may all humans... may all those in states of woe be free from enmity, free from ill-will, free from distress, and may they maintain themselves in happiness. May all those in states of woe in the western direction... may all those in states of woe in the northern direction... may all those in states of woe in the southern direction... may all those in states of woe in the eastern intermediate direction... may all those in states of woe in the western intermediate direction... may all those in states of woe in the northern intermediate direction... may all those in states of woe in the southern intermediate direction... may all those in states of woe in the lower direction... may all those in states of woe in the upper direction be free from enmity, free from ill-will, free from distress, and may they maintain themselves in happiness." By these ten modes is the directional pervasion of the liberation of mind through loving-kindness.
Tâm giải thoát do từ bi biến mãn theo các phương có mười cách là những cách nào? Mong rằng tất cả chúng sanh ở phương đông không oán thù, không sân hận, không đau khổ, được sống an lạc, tự bảo hộ mình. Mong rằng tất cả chúng sanh ở phương tây… này… tất cả chúng sanh ở phương bắc… này… tất cả chúng sanh ở phương nam… này… tất cả chúng sanh ở phương đông nam… này… tất cả chúng sanh ở phương tây bắc… này… tất cả chúng sanh ở phương đông bắc… này… tất cả chúng sanh ở phương tây nam… này… tất cả chúng sanh ở phương dưới… này… Mong rằng tất cả chúng sanh ở phương trên không oán thù, không sân hận, không đau khổ, được sống an lạc, tự bảo hộ mình. Mong rằng tất cả sinh vật ở phương đông… này… sinh linh… cá nhân… chúng sanh có thân… tất cả nữ giới… tất cả nam giới… tất cả bậc Thánh… tất cả phàm phu… tất cả chư thiên… tất cả loài người… tất cả chúng sanh ở đọa xứ không oán thù, không sân hận, không đau khổ, được sống an lạc, tự bảo hộ mình. Mong rằng tất cả chúng sanh ở đọa xứ ở phương tây… này… tất cả chúng sanh ở đọa xứ ở phương bắc… tất cả chúng sanh ở đọa xứ ở phương nam… tất cả chúng sanh ở đọa xứ ở phương đông nam… tất cả chúng sanh ở đọa xứ ở phương tây bắc… tất cả chúng sanh ở đọa xứ ở phương đông bắc… tất cả chúng sanh ở đọa xứ ở phương tây nam… tất cả chúng sanh ở đọa xứ ở phương dưới… Mong rằng tất cả chúng sanh ở đọa xứ ở phương trên không oán thù, không sân hận, không đau khổ, được sống an lạc, tự bảo hộ mình. Tâm giải thoát do từ bi biến mãn theo các phương có mười cách này.
1. Indriyavāro
1. The Section on the Faculties
1. Phẩm về các Quyền
23. Sabbesaṃ sattānaṃ pīḷanaṃ vajjetvā apīḷanāya, upaghātaṃ vajjetvā anupaghātena, santāpaṃ vajjetvā asantāpena, pariyādānaṃ vajjetvā apariyādānena, vihesaṃ vajjetvā avihesāya, sabbe sattā averino hontu mā verino, sukhino hontu mā dukkhino, sukhitattā hontu mā dukkhitattāti – imehi aṭṭhahākārehi sabbe satte mettāyatīti – mettā. Taṃ dhammaṃ cetayatīti – ceto. Sabbabyāpādapariyuṭṭhānehi vimuccatīti – vimutti. Mettā ca ceto ca vimutti cāti – mettācetovimutti.
23. By avoiding the affliction of all beings through non-affliction, by avoiding injury through non-injury, by avoiding torment through non-torment, by avoiding the destruction of life through non-destruction of life, by avoiding vexation through non-vexation; 'May all beings be without enmity, not with enmity; may they be happy, not suffering; may they be of happy self, not of suffering self'—with these eight aspects, one loves all beings; therefore, it is called Mettā (loving-kindness). One conceives that state; therefore, it is called Ceto (mind). One is liberated from all uprisings of ill will; therefore, it is called Vimutti (liberation). It is Mettā, it is Ceto, and it is Vimutti; therefore, it is called Mettācetovimutti (the mind-liberation of loving-kindness).
23. Đối với tất cả chúng sanh, bằng cách không bức hại sau khi đã từ bỏ sự bức hại, bằng cách không sát hại sau khi đã từ bỏ sự sát hại, bằng cách không làm phiền não sau khi đã từ bỏ sự phiền não, bằng cách không tận diệt sau khi đã từ bỏ sự tận diệt, bằng cách không não hại sau khi đã từ bỏ sự não hại, mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, đừng có oán thù; mong được an lạc, đừng bị đau khổ; mong có tự thân an lạc, đừng có tự thân đau khổ – với tám cách này, vị ấy yêu thương tất cả chúng sanh, vì vậy gọi là ‘từ’ (mettā). Vị ấy suy nghĩ về pháp ấy, vì vậy gọi là ‘tâm’ (ceto). Vị ấy được giải thoát khỏi tất cả sự khởi lên của sân hận, vì vậy gọi là ‘giải thoát’ (vimutti). Vừa là từ, vừa là tâm, vừa là giải thoát, vì vậy gọi là ‘tâm giải thoát do từ bi’ (mettācetovimutti).
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – saddhāya adhimuccati. Saddhindriyaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
‘May all beings be without enmity, may they be safe, may they be happy’—thus one resolves with faith. The mind-liberation of loving-kindness is developed by the faculty of faith.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, được an ổn, được an lạc’ – vị ấy quyết định với đức tin. Tâm giải thoát do từ bi được tu tập bởi tín quyền.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – vīriyaṃ paggaṇhāti. Vīriyindriyaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
‘May all beings be without enmity, may they be safe, may they be happy’—thus one exerts energy. The mind-liberation of loving-kindness is developed by the faculty of energy.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, được an ổn, được an lạc’ – vị ấy nỗ lực tinh tấn. Tâm giải thoát do từ bi được tu tập bởi tấn quyền.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – satiṃ upaṭṭhāpeti. Satindriyaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
‘May all beings be without enmity, may they be safe, may they be happy’—thus one establishes mindfulness. The mind-liberation of loving-kindness is developed by the faculty of mindfulness.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, được an ổn, được an lạc’ – vị ấy thiết lập chánh niệm. Tâm giải thoát do từ bi được tu tập bởi niệm quyền.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – cittaṃ samādahati. Samādhindriyaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
‘May all beings be without enmity, may they be safe, may they be happy’—thus one concentrates the mind. The mind-liberation of loving-kindness is developed by the faculty of concentration.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, được an ổn, được an lạc’ – vị ấy định tâm. Tâm giải thoát do từ bi được tu tập bởi định quyền.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – paññāya pajānāti. Paññindriyaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
‘May all beings be without enmity, may they be safe, may they be happy’—thus one understands with wisdom. The mind-liberation of loving-kindness is developed by the faculty of wisdom.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, được an ổn, được an lạc’ – vị ấy biết rõ bằng trí tuệ. Tâm giải thoát do từ bi được tu tập bởi tuệ quyền.
Imāni pañcindriyāni mettāya cetovimuttiyā āsevanā honti. Imehi pañcahi indriyehi mettācetovimutti āsevīyati. Imāni pañcindriyāni mettāya cetovimuttiyā bhāvanā honti. Imehi pañcahi indriyehi mettācetovimutti bhāvīyati. Imāni pañcindriyāni mettāya cetovimuttiyā bahulīkatā honti. Imehi pañcahi indriyehi mettācetovimutti bahulīkarīyati. Imāni pañcindriyāni mettāya cetovimuttiyā alaṅkārā honti. Imehi pañcahi indriyehi mettācetovimutti svālaṅkatā hoti. Imāni pañcindriyāni mettāya cetovimuttiyā parikkhārā honti. Imehi pañcahi indriyehi mettācetovimutti suparikkhatā hoti. Imāni pañcindriyāni mettāya cetovimuttiyā parivārā honti. Imehi pañcahi indriyehi mettācetovimutti suparivutā hoti. Imāni pañcindriyāni mettāya cetovimuttiyā āsevanā honti, bhāvanā honti, bahulīkatā honti, alaṅkārā honti, parikkhārā honti, parivārā honti, pāripūrī honti, sahagatā honti, sahajātā honti, saṃsaṭṭhā honti, sampayuttā honti, pakkhandanā honti, pasīdanā † honti, santiṭṭhanā honti, vimuccanā honti, ‘‘etaṃ santa’’nti phassanā honti, yānīkatā honti, vatthukatā honti, anuṭṭhitā honti, paricitā honti, susamāraddhā honti, subhāvitā honti, svādhiṭṭhitā honti, susamuggatā honti, suvimuttā honti, nibbattenti jotenti patāpenti.
These five faculties are the association for the liberation of mind through loving-kindness. By these five faculties, the liberation of mind through loving-kindness is associated with. These five faculties are the development for the liberation of mind through loving-kindness. By these five faculties, the liberation of mind through loving-kindness is developed. These five faculties are the repeated practice for the liberation of mind through loving-kindness. By these five faculties, the liberation of mind through loving-kindness is repeatedly practiced. These five faculties are the ornaments for the liberation of mind through loving-kindness. By these five faculties, the liberation of mind through loving-kindness is well-ornamented. These five faculties are the requisites for the liberation of mind through loving-kindness. By these five faculties, the liberation of mind through loving-kindness is well-furnished with requisites. These five faculties are the retinue for the liberation of mind through loving-kindness. By these five faculties, the liberation of mind through loving-kindness is well-attended. These five faculties are the association, development, repeated practice, ornaments, requisites, retinue, fulfillment, co-existence, co-nascence, intermixture, association, plunging into, clarification, establishment, liberation, the touching of 'this is peace,' being made a vehicle, being made a basis, being undertaken, being familiarized, being well-aroused, being well-developed, being well-established, being well-risen, and being well-liberated for the liberation of mind through loving-kindness; they produce, illuminate, and make radiant.
Năm quyền này là sự thực hành của tâm giải thoát do từ. Do năm quyền này, tâm giải thoát do từ được thực hành. Năm quyền này là sự phát triển của tâm giải thoát do từ. Do năm quyền này, tâm giải thoát do từ được phát triển. Năm quyền này là sự làm cho sung mãn của tâm giải thoát do từ. Do năm quyền này, tâm giải thoát do từ được làm cho sung mãn. Năm quyền này là sự trang hoàng của tâm giải thoát do từ. Do năm quyền này, tâm giải thoát do từ được trang hoàng tốt đẹp. Năm quyền này là vật dụng của tâm giải thoát do từ. Do năm quyền này, tâm giải thoát do từ được chuẩn bị tốt đẹp. Năm quyền này là sự tùy tùng của tâm giải thoát do từ. Do năm quyền này, tâm giải thoát do từ được tùy tùng tốt đẹp. Năm quyền này đối với tâm giải thoát do từ là sự thực hành, là sự phát triển, là sự làm cho sung mãn, là sự trang hoàng, là vật dụng, là sự tùy tùng, là sự viên mãn, là sự tương đồng, là sự đồng sanh, là sự hòa trộn, là sự tương ưng, là sự hướng đến, là sự trong sạch, là sự an trú, là sự giải thoát, là sự tiếp xúc với câu ‘đây là sự tịch tịnh,’ là được làm thành cỗ xe, là được làm thành nền tảng, là được làm cho hiện khởi, là được thực hành thuần thục, là được khéo bắt đầu, là được khéo tu tập, là được khéo an trú, là được khéo vươn lên, là được khéo giải thoát, chúng làm cho phát sanh, làm cho chiếu sáng, làm cho rực rỡ.
2. Balavāro
2. The Section on Powers
2. Phẩm Về Lực
24. Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – assaddhiye na kampati. Saddhābalaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
24. “May all beings be free from enmity, secure, and happy”—one is not shaken by lack of faith. The liberation of mind by loving-kindness is imbued with the power of faith.
24. ‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, được an ổn, được an lạc’ – vị ấy không bị lay chuyển trong sự bất tín. Tâm giải thoát do từ được thấm nhuần tín lực.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – kosajje na kampati. Vīriyabalaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
“May all beings be free from enmity, secure, and happy”—one is not shaken by laziness. The liberation of mind by loving-kindness is imbued with the power of energy.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, được an ổn, được an lạc’ – vị ấy không bị lay chuyển trong sự biếng nhác. Tâm giải thoát do từ được thấm nhuần tấn lực.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – pamāde na kampati. Satibalaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
“May all beings be free from enmity, secure, and happy”—one is not shaken by heedlessness. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with the power of mindfulness.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, được an ổn, được an lạc’ – vị ấy không bị lay chuyển trong sự dể duôi. Tâm giải thoát do từ được thấm nhuần niệm lực.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – uddhacce na kampati. Samādhibalaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
“May all beings be free from enmity, secure, and happy”—one is not shaken by restlessness. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with the power of concentration.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, được an ổn, được an lạc’ – vị ấy không bị lay chuyển trong sự trạo cử. Tâm giải thoát do từ được thấm nhuần định lực.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – avijjāya na kampati. Paññābalaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
“May all beings be free from enmity, secure, and happy”—one is not shaken by ignorance. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with the power of wisdom.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, được an ổn, được an lạc’ – vị ấy không bị lay chuyển trong sự vô minh. Tâm giải thoát do từ được thấm nhuần tuệ lực.
Imāni pañca balāni mettāya cetovimuttiyā āsevanā honti. Imehi pañcahi balehi mettācetovimutti āsevīyati. Imāni pañca balāni mettāya cetovimuttiyā bhāvanā honti. Imehi pañcahi balehi mettācetovimutti bhāvīyati. Imāni pañca balāni mettāya cetovimuttiyā bahulīkatā honti. Imehi pañcahi balehi mettācetovimutti bahulīkarīyati. Imāni pañca balāni mettāya cetovimuttiyā alaṅkārā honti. Imehi pañcahi balehi mettācetovimutti svālaṅkatā hoti. Imāni pañca balāni mettāya cetovimuttiyā parikkhārā honti. Imehi pañcahi balehi mettācetovimutti suparikkhatā hoti. Imāni pañca balāni mettāya cetovimuttiyā parivārā honti. Imehi pañcahi balehi mettācetovimutti suparivutā hoti. Imāni pañca balāni mettāya cetovimuttiyā āsevanā honti, bhāvanā honti, bahulīkatā honti, alaṅkārā honti, parikkhārā honti, parivārā honti, pāripūrī honti, sahagatā honti, sahajātā honti, saṃsaṭṭhā honti, sampayuttā honti, pakkhandanā honti, pasīdanā honti, santiṭṭhanā honti, vimuccanā honti, ‘‘etaṃ santa’’nti phassanā honti, yānīkatā honti, vatthukatā honti, anuṭṭhitā honti, paricitā honti, susamāraddhā honti, subhāvitā honti, svādhiṭṭhitā honti, susamuggatā honti, suvimuttā honti nibbattenti jotenti patāpenti.
These five powers are the cultivation of the liberation of mind by loving-kindness. By these five powers, the liberation of mind by loving-kindness is cultivated. These five powers are the development of the liberation of mind by loving-kindness. By these five powers, the liberation of mind by loving-kindness is developed. These five powers are the frequent practice of the liberation of mind by loving-kindness. By these five powers, the liberation of mind by loving-kindness is frequently practiced. These five powers are the adornments of the liberation of mind by loving-kindness. By these five powers, the liberation of mind by loving-kindness is well-adorned. These five powers are the requisites of the liberation of mind by loving-kindness. By these five powers, the liberation of mind by loving-kindness is well-equipped. These five powers are the retinue of the liberation of mind by loving-kindness. By these five powers, the liberation of mind by loving-kindness is well-attended. These five powers are the cultivation, development, frequent practice, adornments, requisites, retinue, fulfillment, accompaniment, co-arising, association, connection, plunging into, serenity, stability, liberation, the touching of 'this is peace,' being made a vehicle, being made a basis, being undertaken, being familiarized, being well-commenced, being well-developed, being well-resolved, being well-risen, and being well-liberated for the liberation of mind by loving-kindness; they generate, they illuminate, they blaze forth.
Năm lực này là sự thực hành của tâm giải thoát do từ. Do năm lực này, tâm giải thoát do từ được thực hành. Năm lực này là sự phát triển của tâm giải thoát do từ. Do năm lực này, tâm giải thoát do từ được phát triển. Năm lực này là sự làm cho sung mãn của tâm giải thoát do từ. Do năm lực này, tâm giải thoát do từ được làm cho sung mãn. Năm lực này là sự trang hoàng của tâm giải thoát do từ. Do năm lực này, tâm giải thoát do từ được trang hoàng tốt đẹp. Năm lực này là vật dụng của tâm giải thoát do từ. Do năm lực này, tâm giải thoát do từ được chuẩn bị tốt đẹp. Năm lực này là sự tùy tùng của tâm giải thoát do từ. Do năm lực này, tâm giải thoát do từ được tùy tùng tốt đẹp. Năm lực này đối với tâm giải thoát do từ là sự thực hành, là sự phát triển, là sự làm cho sung mãn, là sự trang hoàng, là vật dụng, là sự tùy tùng, là sự viên mãn, là sự tương đồng, là sự đồng sanh, là sự hòa trộn, là sự tương ưng, là sự hướng đến, là sự trong sạch, là sự an trú, là sự giải thoát, là sự tiếp xúc với câu ‘đây là sự tịch tịnh,’ là được làm thành cỗ xe, là được làm thành nền tảng, là được làm cho hiện khởi, là được thực hành thuần thục, là được khéo bắt đầu, là được khéo tu tập, là được khéo an trú, là được khéo vươn lên, là được khéo giải thoát, chúng làm cho phát sanh, làm cho chiếu sáng, làm cho rực rỡ.
3. Bojjhaṅgavāro
3. The Section on the Factors of Enlightenment
3. Phẩm Về Giác Chi
25. Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – satiṃ upaṭṭhāpeti. Satisambojjhaṅgaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
25. “May all beings be free from enmity, secure, and happy”—one establishes mindfulness. The liberation of mind by loving-kindness is imbued with the enlightenment factor of mindfulness.
25. ‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, được an ổn, được an lạc’ – vị ấy thiết lập niệm. Tâm giải thoát do từ được thấm nhuần niệm giác chi.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – paññāya pavicināti. Dhammavicayasambojjhaṅgaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
“May all beings be free from enmity, secure, and happy”—one discerns with wisdom. The liberation of mind by loving-kindness is imbued with the enlightenment factor of investigation of states.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, được an ổn, được an lạc’ – vị ấy thẩm sát bằng trí tuệ. Tâm giải thoát do từ được thấm nhuần trạch pháp giác chi.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – vīriyaṃ paggaṇhāti. Vīriyasambojjhaṅgaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
“May all beings be free from enmity, secure, and happy”—one rouses energy. The liberation of mind by loving-kindness is imbued with the enlightenment factor of energy.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, được an ổn, được an lạc’ – vị ấy khởi lên sự tinh tấn. Tâm giải thoát do từ được thấm nhuần tấn giác chi.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – pariḷāhaṃ paṭippassambheti. Pītisambojjhaṅgaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
“May all beings be free from enmity, secure, and happy”—one allays distress. The liberation of mind by loving-kindness is imbued with the enlightenment factor of joy.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, được an ổn, được an lạc’ – vị ấy làm cho lắng dịu sự thiêu đốt. Tâm giải thoát do từ được thấm nhuần hỷ giác chi.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – duṭṭhullaṃ paṭippassambheti. Passaddhisambojjhaṅgaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
“May all beings be free from enmity, secure, and happy”—one allays grossness. The liberation of mind by loving-kindness is imbued with the enlightenment factor of tranquility.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, được an ổn, được an lạc’ – vị ấy làm cho lắng dịu sự thô trược. Tâm giải thoát do từ được thấm nhuần khinh an giác chi.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – cittaṃ samādahati. Samādhisambojjhaṅgaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
“May all beings be free from enmity, secure, and happy”—one concentrates the mind. The liberation of mind by loving-kindness is imbued with the enlightenment factor of concentration.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, được an ổn, được an lạc’ – vị ấy định tâm. Tâm giải thoát do từ được thấm nhuần định giác chi.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – ñāṇena kilese paṭisaṅkhāti. Upekkhāsambojjhaṅgaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
“May all beings be free from enmity, secure, and happy”—one discerns the defilements with knowledge. The liberation of mind by loving-kindness is imbued with the enlightenment factor of equanimity.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, được an ổn, được an lạc’ – vị ấy quán xét các phiền não bằng trí tuệ. Tâm giải thoát do từ được thấm nhuần xả giác chi.
Ime satta bojjhaṅgā mettāya cetovimuttiyā āsevanā honti. Imehi sattahi bojjhaṅgehi mettācetovimutti āsevīyati. Ime satta bojjhaṅgā mettāya cetovimuttiyā bhāvanā honti. Imehi sattahi bojjhaṅgehi mettācetovimutti bhāvīyati. Ime satta bojjhaṅgā mettāya cetovimuttiyā bahulīkatā honti. Imehi sattahi bojjhaṅgehi mettācetovimutti bahulīkarīyati. Ime satta bojjhaṅgā mettāya cetovimuttiyā alaṅkārā honti. Imehi sattahi bojjhaṅgehi mettācetovimutti svālaṅkatā hoti. Ime satta bojjhaṅgā mettāya cetovimuttiyā parikkhārā honti. Imehi sattahi bojjhaṅgehi mettācetovimutti suparikkhatā hoti. Ime satta bojjhaṅgā mettāya cetovimuttiyā parivārā honti. Imehi sattahi bojjhaṅgehi mettācetovimutti suparivutā hoti. Ime satta bojjhaṅgā mettāya cetovimuttiyā āsevanā honti, bhāvanā honti, bahulīkatā honti, alaṅkārā honti, parikkhārā honti, parivārā honti, pāripūrī honti, sahagatā honti, sahajātā honti, saṃsaṭṭhā honti, sampayuttā honti, pakkhandanā honti, pasīdanā honti, santiṭṭhanā honti, vimuccanā honti, ‘‘etaṃ santa’’nti phassanā honti, yānīkatā honti, vatthukatā honti, anuṭṭhitā honti, paricitā honti, susamāraddhā honti, subhāvitā honti, svādhiṭṭhitā honti, susamuggatā honti, suvimuttā honti, nibbattenti jotenti patāpenti.
These seven factors of enlightenment are the association for the liberation of mind by loving-kindness. By means of these seven factors of enlightenment, the liberation of mind by loving-kindness is associated with. These seven factors of enlightenment are the development for the liberation of mind by loving-kindness. By means of these seven factors of enlightenment, the liberation of mind by loving-kindness is developed. These seven factors of enlightenment are the frequent practice for the liberation of mind by loving-kindness. By means of these seven factors of enlightenment, the liberation of mind by loving-kindness is frequently practiced. These seven factors of enlightenment are the adornments for the liberation of mind by loving-kindness. By means of these seven factors of enlightenment, the liberation of mind by loving-kindness is well-adorned. These seven factors of enlightenment are the requisites for the liberation of mind by loving-kindness. By means of these seven factors of enlightenment, the liberation of mind by loving-kindness is well-furnished with requisites. These seven factors of enlightenment are the retinue for the liberation of mind by loving-kindness. By means of these seven factors of enlightenment, the liberation of mind by loving-kindness is well-attended. These seven factors of enlightenment are the association, development, frequent practice, adornments, requisites, retinue, fulfillment, accompaniment, co-arising, association, conjunction, plunging into, serenity, stability, liberation, the contact with ‘this is peace,’ that which is made a vehicle, that which is made a basis, that which is undertaken, that which is familiarized, that which is well-commenced, that which is well-developed, that which is well-resolved, that which is well-arisen, and that which is well-liberated for the liberation of mind by loving-kindness; they generate, they illuminate, they make radiant.
Bảy giác chi này là sự thực hành đối với tâm giải thoát do từ bi. Do bảy giác chi này, tâm giải thoát do từ bi được thực hành. Bảy giác chi này là sự tu tập đối với tâm giải thoát do từ bi. Do bảy giác chi này, tâm giải thoát do từ bi được tu tập. Bảy giác chi này là sự làm cho sung mãn đối với tâm giải thoát do từ bi. Do bảy giác chi này, tâm giải thoát do từ bi được làm cho sung mãn. Bảy giác chi này là sự trang sức đối với tâm giải thoát do từ bi. Do bảy giác chi này, tâm giải thoát do từ bi được khéo trang sức. Bảy giác chi này là vật dụng đối với tâm giải thoát do từ bi. Do bảy giác chi này, tâm giải thoát do từ bi được khéo chuẩn bị. Bảy giác chi này là sự tùy tùng đối với tâm giải thoát do từ bi. Do bảy giác chi này, tâm giải thoát do từ bi được khéo vây quanh. Bảy giác chi này là sự thực hành, là sự tu tập, là sự làm cho sung mãn, là sự trang sức, là vật dụng, là sự tùy tùng, là sự viên mãn, là sự tương ứng, là sự đồng sanh, là sự hòa trộn, là sự tương ưng, là sự lao vào, là sự lắng trong, là sự an trú, là sự giải thoát, là sự xúc chạm với ‘đây là sự tịch tịnh,’ là được làm thành cỗ xe, là được làm thành nền tảng, là được thiết lập, là được thực hành quen thuộc, là được khéo tinh tấn, là được khéo tu tập, là được khéo an trú, là được khéo sanh khởi, là được khéo giải thoát đối với tâm giải thoát do từ bi; chúng làm cho phát sanh, làm cho chiếu sáng, làm cho rực rỡ.
4. Maggaṅgavāro
4. The Section on the Path Factors
4. Phần về Chi Đạo
26. Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – sammā passati. Sammādiṭṭhiparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
26. “May all beings be free from enmity, may they be safe, may they be happy”—this he rightly sees. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with right view.
26. ‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, mong rằng được an ổn, mong rằng được an lạc’ – vị ấy thấy một cách chân chánh. Tâm giải thoát do từ bi là được thấm nhuần bởi chánh kiến.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – sammā abhiniropeti. Sammāsaṅkappaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
“May all beings be free from enmity, may they be safe, may they be happy”—this he rightly directs his mind. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with right intention.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, mong rằng được an ổn, mong rằng được an lạc’ – vị ấy hướng tâm đến một cách chân chánh. Tâm giải thoát do từ bi là được thấm nhuần bởi chánh tư duy.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – sammā pariggaṇhāti. Sammāvācāparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
May all beings be free from enmity, may they be safe, may they be happy—thus he rightly comprehends. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with Right Speech.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, mong rằng được an ổn, mong rằng được an lạc’ – vị ấy bao trùm một cách chân chánh. Tâm giải thoát do từ bi là được thấm nhuần bởi chánh ngữ.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – sammā samuṭṭhāpeti. Sammākammantaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
May all beings be free from enmity, may they be safe, may they be happy—thus he rightly establishes. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with Right Action.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, mong rằng được an ổn, mong rằng được an lạc’ – vị ấy làm cho khởi lên một cách chân chánh. Tâm giải thoát do từ bi là được thấm nhuần bởi chánh nghiệp.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – sammā vodāpeti. Sammāājīvaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
May all beings be free from enmity, may they be safe, may they be happy—thus he rightly purifies. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with Right Livelihood.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, mong rằng được an ổn, mong rằng được an lạc’ – vị ấy làm cho trong sạch một cách chân chánh. Tâm giải thoát do từ bi là được thấm nhuần bởi chánh mạng.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – sammā paggaṇhāti. Sammāvāyāmaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
May all beings be free from enmity, may they be safe, may they be happy—thus he rightly exerts. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with Right Effort.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, mong rằng được an ổn, mong rằng được an lạc’ – vị ấy sách tấn một cách chân chánh. Tâm giải thoát do từ bi là được thấm nhuần bởi chánh tinh tấn.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – sammā upaṭṭhāpeti. Sammāsatiparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
May all beings be free from enmity, may they be safe, may they be happy—thus he rightly establishes. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with Right Mindfulness.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, mong rằng được an ổn, mong rằng được an lạc’ – vị ấy thiết lập một cách chân chánh. Tâm giải thoát do từ bi là được thấm nhuần bởi chánh niệm.
Sabbe sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – sammā samādahati. Sammāsamādhiparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
May all beings be free from enmity, may they be safe, may they be happy—thus he rightly concentrates. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with Right Concentration.
‘Mong rằng tất cả chúng sanh không có oán thù, mong rằng được an ổn, mong rằng được an lạc’ – vị ấy định tĩnh một cách chân chánh. Tâm giải thoát do từ bi là được thấm nhuần bởi chánh định.
Ime aṭṭha maggaṅgā mettāya cetovimuttiyā āsevanā honti. Imehi aṭṭhahi maggaṅgehi mettācetovimutti āsevīyati. Ime aṭṭha maggaṅgā mettāya cetovimuttiyā bhāvanā honti. Imehi aṭṭhahi maggaṅgehi mettācetovimutti bhāvīyati. Ime aṭṭha maggaṅgā mettāya cetovimuttiyā bahulīkatā honti. Imehi aṭṭhahi maggaṅgehi mettācetovimutti bahulīkarīyati. Ime aṭṭha maggaṅgā mettāya cetovimuttiyā alaṅkārā honti. Imehi aṭṭhahi maggaṅgehi mettācetovimutti svālaṅkatā honti. Ime aṭṭha maggaṅgā mettāya cetovimuttiyā parikkhārā honti. Imehi aṭṭhahi maggaṅgehi mettācetovimutti suparikkhatā hoti. Ime aṭṭha maggaṅgā mettāya cetovimuttiyā parivārā honti. Imehi aṭṭhahi maggaṅgehi mettācetovimutti suparivutā hoti. Ime aṭṭha maggaṅgā mettāya cetovimuttiyā āsevanā honti, bhāvanā honti, bahulīkatā honti, alaṅkārā honti, parikkhārā honti, parivārā honti, pāripūrī honti, sahagatā honti, sahajātā honti, saṃsaṭṭhā honti, sampayuttā honti, pakkhandanā honti, pasīdanā honti, santiṭṭhanā honti, vimuccanā honti, ‘‘etaṃ santa’’nti phassanā honti, yānīkatā honti, vatthukatā honti, anuṭṭhitā honti, paricitā honti, susamāraddhā honti, subhāvitā honti, svādhiṭṭhitā honti, susamuggatā honti, suvimuttā honti nibbattenti jotenti patāpenti.
These eight path factors are the practice for the liberation of mind through loving-kindness. By these eight path factors, the liberation of mind through loving-kindness is practiced. These eight path factors are the development for the liberation of mind through loving-kindness. By these eight path factors, the liberation of mind through loving-kindness is developed. These eight path factors are the frequent practice for the liberation of mind through loving-kindness. By these eight path factors, the liberation of mind through loving-kindness is frequently practiced. These eight path factors are the adornments for the liberation of mind through loving-kindness. By these eight path factors, the liberation of mind through loving-kindness is well-adorned. These eight path factors are the requisites for the liberation of mind through loving-kindness. By these eight path factors, the liberation of mind through loving-kindness is well-furnished. These eight path factors are the retinue for the liberation of mind through loving-kindness. By these eight path factors, the liberation of mind through loving-kindness is well-attended. These eight path factors are the practice, development, frequent practice, adornments, requisites, retinue, fulfillment, accompaniment, co-arising, intermingling, association, leaping into, clarification, firm establishment, liberation, touching as 'this is peaceful,' being made a vehicle, being made a basis, being established, being familiarized, being well-undertaken, being well-developed, being well-established, being well-arisen, and being well-liberated for the liberation of mind through loving-kindness; they bring it forth, illuminate it, and make it radiant.
Tám chi đạo này là sự thực hành đối với tâm giải thoát do từ bi. Do tám chi đạo này, tâm giải thoát do từ bi được thực hành. Tám chi đạo này là sự tu tập đối với tâm giải thoát do từ bi. Do tám chi đạo này, tâm giải thoát do từ bi được tu tập. Tám chi đạo này là sự làm cho sung mãn đối với tâm giải thoát do từ bi. Do tám chi đạo này, tâm giải thoát do từ bi được làm cho sung mãn. Tám chi đạo này là sự trang sức đối với tâm giải thoát do từ bi. Do tám chi đạo này, tâm giải thoát do từ bi được khéo trang sức. Tám chi đạo này là vật dụng đối với tâm giải thoát do từ bi. Do tám chi đạo này, tâm giải thoát do từ bi được khéo chuẩn bị. Tám chi đạo này là sự tùy tùng đối với tâm giải thoát do từ bi. Do tám chi đạo này, tâm giải thoát do từ bi được khéo vây quanh. Tám chi đạo này là sự thực hành, là sự tu tập, là sự làm cho sung mãn, là sự trang sức, là vật dụng, là sự tùy tùng, là sự viên mãn, là sự tương ứng, là sự đồng sanh, là sự hòa trộn, là sự tương ưng, là sự lao vào, là sự lắng trong, là sự an trú, là sự giải thoát, là sự xúc chạm với ‘đây là sự tịch tịnh,’ là được làm thành cỗ xe, là được làm thành nền tảng, là được thiết lập, là được thực hành quen thuộc, là được khéo tinh tấn, là được khéo tu tập, là được khéo an trú, là được khéo sanh khởi, là được khéo giải thoát đối với tâm giải thoát do từ bi; chúng làm cho phát sanh, làm cho chiếu sáng, làm cho rực rỡ.
27. Sabbesaṃ pāṇānaṃ…pe… sabbesaṃ bhūtānaṃ… sabbesaṃ puggalānaṃ… sabbesaṃ attabhāvapariyāpannānaṃ… sabbāsaṃ itthīnaṃ… sabbesaṃ purisānaṃ… sabbesaṃ ariyānaṃ… sabbesaṃ anariyānaṃ… sabbesaṃ devānaṃ… sabbesaṃ manussānaṃ… sabbesaṃ vinipātikānaṃ pīḷanaṃ vajjetvā apīḷanāya, upaghātaṃ vajjetvā anupaghātena, santāpaṃ vajjetvā asantāpena, pariyādānaṃ vajjetvā apariyādānena, vihesaṃ vajjetvā avihesāya, sabbe vinipātikā averino hontu mā verino, sukhino hontu mā dukkhino, sukhitattā hontu mā dukkhitattāti – imehi aṭṭhahākārehi sabbe vinipātike mettāyatīti – mettā. Taṃ dhammaṃ cetayatīti – ceto. Sabbabyāpādapariyuṭṭhānehi vimuccatīti – vimutti. Mettā ca ceto ca vimutti cāti – mettācetovimutti.
27. For all beings with breath… for all creatures… for all persons… for all beings included in an individual existence… for all women… for all men… for all noble ones… for all non-noble ones… for all devas… for all humans… for all those in the woeful states—avoiding oppression, by not oppressing; avoiding destruction, by not causing destruction; avoiding mental distress, by not causing mental distress; avoiding causing the end of life, by not causing the end of life; avoiding harassment, by not harassing—may all those in the woeful states be without enmity, not with enmity; may they be happy, not suffering; may they be happy in themselves, not unhappy in themselves. In these eight ways, one extends loving-kindness to all those in the woeful states—thus, it is loving-kindness. It directs the mind to that state—thus, it is mind. It is liberated from all uprisings of ill will—thus, it is liberation. It is loving-kindness, it is mind, and it is liberation; thus, it is the liberation of mind through loving-kindness.
27. Đối với tất cả chúng sanh có hơi thở... v.v... đối với tất cả chúng sanh hiện hữu... đối với tất cả các cá nhân... đối với tất cả chúng sanh được bao gồm trong thân thể... đối với tất cả nữ nhân... đối với tất cả nam nhân... đối với tất cả bậc Thánh... đối với tất cả kẻ phàm phu... đối với tất cả chư thiên... đối với tất cả loài người... đối với tất cả chúng sanh trong đọa xứ, bằng cách không bức hại sau khi đã tránh sự bức hại, bằng cách không sát hại sau khi đã tránh sự sát hại, bằng cách không làm cho phiền não sau khi đã tránh sự làm cho phiền não, bằng cách không làm cho tận diệt sau khi đã tránh sự làm cho tận diệt, bằng cách không làm tổn hại sau khi đã tránh sự làm tổn hại, mong cho tất cả chúng sanh trong đọa xứ không có oan trái, đừng có oan trái, mong cho được an lạc, đừng có khổ đau, mong cho có tự thân an lạc, đừng có tự thân khổ đau. Với tám phương cách này, vị ấy có lòng từ đối với tất cả chúng sanh trong đọa xứ, vì thế gọi là tâm từ. Vị ấy tác ý đến pháp ấy, vì thế gọi là tâm. Vị ấy được giải thoát khỏi tất cả sự phiền nhiễu của sân hận, vì thế gọi là giải thoát. Vừa là tâm từ, vừa là tâm, vừa là giải thoát, vì thế gọi là tâm từ giải thoát.
Sabbe vinipātikā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – saddhāya adhimuccati. Saddhindriyaparibhāvitā hoti mettācetovimutti…pe… nibbattenti jotenti patāpenti.
“May all those in the woeful states be without enmity, may they be safe, may they be happy”—one resolves with faith. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with the faculty of faith… they bring forth, illuminate, and make radiant.
‘Mong cho tất cả chúng sanh trong đọa xứ không có oan trái, mong cho được an ổn, mong cho được an lạc’ – vị ấy quyết định với đức tin. Tâm từ giải thoát được tu tập bởi tín quyền... v.v... làm cho phát sanh, làm cho chiếu sáng, làm cho rực rỡ.
Sabbesaṃ puratthimāya disāya sattānaṃ…pe… sabbesaṃ pacchimāya disāya sattānaṃ… sabbesaṃ uttarāya disāya sattānaṃ… sabbesaṃ dakkhiṇāya disāya sattānaṃ… sabbesaṃ puratthimāya anudisāya sattānaṃ… sabbesaṃ pacchimāya anudisāya sattānaṃ… sabbesaṃ uttarāya anudisāya sattānaṃ… sabbesaṃ dakkhiṇāya anudisāya sattānaṃ… sabbesaṃ heṭṭhimāya disāya sattānaṃ… sabbesaṃ uparimāya disāya sattānaṃ pīḷanaṃ vajjetvā apīḷanāya, upaghātaṃ vajjetvā anupaghātena, santāpaṃ vajjetvā asantāpena, pariyādānaṃ vajjetvā apariyādānena, vihesaṃ vajjetvā avihesāya, sabbe uparimāya disāya sattā averino hontu mā verino, sukhino hontu mā dukkhino, sukhitattā hontu mā dukkhitattāti – imehi aṭṭhahākārehi sabbe uparimāya disāya satte mettāyatīti – mettā. Taṃ dhammaṃ cetayatīti – ceto. Sabbabyāpādapariyuṭṭhānehi vimuccatīti – vimutti. Mettā ca ceto ca vimutti cāti – mettācetovimutti.
For all beings in the eastern direction... (and so on)... for all beings in the western direction... for all beings in the northern direction... for all beings in the southern direction... for all beings in the northeastern intermediate direction... for all beings in the southwestern intermediate direction... for all beings in the northwestern intermediate direction... for all beings in the southeastern intermediate direction... for all beings in the lower direction... for all beings in the upper direction: having avoided oppression, through non-oppression; having avoided destruction, through non-destruction; having avoided torment, through non-torment; having avoided the consuming of life, through the non-consuming of life; having avoided vexation, through non-vexation. May all beings in the upper direction be without enmity, may they not have enmity; may they be happy, may they not be unhappy; may they be happy in themselves, may they not be unhappy in themselves. By these eight aspects, one is friendly towards all beings in the upper direction; therefore, it is loving-kindness (mettā). One thinks upon that state; therefore, it is mind (ceto). One is liberated from all outbursts of ill will; therefore, it is liberation (vimutti). It is loving-kindness, and mind, and liberation; thus, it is the liberation of mind through loving-kindness (mettācetovimutti).
Đối với tất cả chúng sanh ở phương đông... v.v... đối với tất cả chúng sanh ở phương tây... đối với tất cả chúng sanh ở phương bắc... đối với tất cả chúng sanh ở phương nam... đối với tất cả chúng sanh ở phương đông bắc... đối với tất cả chúng sanh ở phương tây nam... đối với tất cả chúng sanh ở phương tây bắc... đối với tất cả chúng sanh ở phương đông nam... đối với tất cả chúng sanh ở phương dưới... đối với tất cả chúng sanh ở phương trên, bằng cách không bức hại sau khi đã tránh sự bức hại, bằng cách không sát hại sau khi đã tránh sự sát hại, bằng cách không làm cho phiền não sau khi đã tránh sự làm cho phiền não, bằng cách không làm cho tận diệt sau khi đã tránh sự làm cho tận diệt, bằng cách không làm tổn hại sau khi đã tránh sự làm tổn hại, mong cho tất cả chúng sanh ở phương trên không có oan trái, đừng có oan trái, mong cho được an lạc, đừng có khổ đau, mong cho có tự thân an lạc, đừng có tự thân khổ đau. Với tám phương cách này, vị ấy có lòng từ đối với tất cả chúng sanh ở phương trên, vì thế gọi là tâm từ. Vị ấy tác ý đến pháp ấy, vì thế gọi là tâm. Vị ấy được giải thoát khỏi tất cả sự phiền nhiễu của sân hận, vì thế gọi là giải thoát. Vừa là tâm từ, vừa là tâm, vừa là giải thoát, vì thế gọi là tâm từ giải thoát.
Sabbe uparimāya disāya sattā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – saddhāya adhimuccati. Saddhindriyaparibhāvitā hoti mettācetovimutti…pe… nibbattenti jotenti patāpenti.
“May all beings in the upper direction be free from enmity, may they be safe, may they be happy”—one resolves with faith. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with the faculty of faith... (and so on)... they bring forth, illuminate, and make radiant.
‘Mong cho tất cả chúng sanh ở phương trên không có oan trái, mong cho được an ổn, mong cho được an lạc’ – vị ấy quyết định với đức tin. Tâm từ giải thoát được tu tập bởi tín quyền... v.v... làm cho phát sanh, làm cho chiếu sáng, làm cho rực rỡ.
Sabbesaṃ puratthimāya disāya pāṇānaṃ…pe… bhūtānaṃ… puggalānaṃ attabhāvapariyāpannānaṃ… sabbāsaṃ itthīnaṃ… sabbesaṃ purisānaṃ… sabbesaṃ ariyānaṃ… sabbesaṃ anariyānaṃ… sabbesaṃ devānaṃ… sabbesaṃ manussānaṃ… sabbesaṃ vinipātikānaṃ… sabbesaṃ pacchimāya disāya vinipātikānaṃ… sabbesaṃ uttarāya disāya vinipātikānaṃ… sabbesaṃ dakkhiṇāya disāya vinipātikānaṃ… sabbesaṃ puratthimāya anudisāya vinipātikānaṃ… sabbesaṃ pacchimāya anudisāya vinipātikānaṃ… sabbesaṃ uttarāya anudisāya vinipātikānaṃ… sabbesaṃ dakkhiṇāya anudisāya vinipātikānaṃ… sabbesaṃ heṭṭhimāya disāya vinipātikānaṃ… sabbesaṃ uparimāya disāya vinipātikānaṃ pīḷanaṃ vajjetvā apīḷanāya, upaghātaṃ vajjetvā anupaghātena, santāpaṃ vajjetvā asantāpena, pariyādānaṃ vajjetvā apariyādānena, vihesaṃ vajjetvā avihesāya, sabbe uparimāya disāya vinipātikā averino hontu mā verino, sukhino hontu mā dukkhino, sukhitattā hontu mā dukkhitattāti – imehi aṭṭhahākārehi sabbe uparimāya disāya vinipātike mettāyatīti – mettā. Taṃ dhammaṃ cetayatīti – ceto. Sabbabyāpādapariyuṭṭhānehi vimuccatīti – vimutti. Mettā ca ceto ca vimutti cāti – mettācetovimutti.
Of all living beings in the eastern direction… of all creatures… of all persons… of all embodied beings… of all women… of all men… of all noble ones… of all non-noble ones… of all devas… of all humans… of all beings in a state of downfall… of all beings in a state of downfall in the western direction… in the northern direction… in the southern direction… in the southeastern intermediate direction… in the northwestern intermediate direction… in the northeastern intermediate direction… in the southwestern intermediate direction… in the lower direction… and in the upper direction—having avoided oppression by non-oppression, torment by non-torment, destruction by non-destruction, and vexation by non-vexation, one radiates: 'May all beings in a state of downfall in the upper direction be without enmity, not with enmity; may they be happy, not unhappy; may they be of happy self, not of unhappy self.' By these eight aspects, one extends loving-kindness to all beings in a state of downfall in the upper direction—thus, it is loving-kindness. One intends that state—thus, it is intention. One is liberated from all outbursts of ill will—thus, it is liberation. It is loving-kindness, and intention, and liberation—thus, it is the liberation of mind through loving-kindness.
Đối với tất cả chúng sanh có hơi thở ở phương đông... v.v... chúng sanh hiện hữu... các cá nhân, chúng sanh được bao gồm trong thân thể... đối với tất cả nữ nhân... đối với tất cả nam nhân... đối với tất cả bậc Thánh... đối với tất cả kẻ phàm phu... đối với tất cả chư thiên... đối với tất cả loài người... đối với tất cả chúng sanh trong đọa xứ... đối với tất cả chúng sanh trong đọa xứ ở phương tây... đối với tất cả chúng sanh trong đọa xứ ở phương bắc... đối với tất cả chúng sanh trong đọa xứ ở phương nam... đối với tất cả chúng sanh trong đọa xứ ở phương đông bắc... đối với tất cả chúng sanh trong đọa xứ ở phương tây nam... đối với tất cả chúng sanh trong đọa xứ ở phương tây bắc... đối với tất cả chúng sanh trong đọa xứ ở phương đông nam... đối với tất cả chúng sanh trong đọa xứ ở phương dưới... đối với tất cả chúng sanh trong đọa xứ ở phương trên, bằng cách không bức hại sau khi đã tránh sự bức hại, bằng cách không sát hại sau khi đã tránh sự sát hại, bằng cách không làm cho phiền não sau khi đã tránh sự làm cho phiền não, bằng cách không làm cho tận diệt sau khi đã tránh sự làm cho tận diệt, bằng cách không làm tổn hại sau khi đã tránh sự làm tổn hại, mong cho tất cả chúng sanh trong đọa xứ ở phương trên không có oan trái, đừng có oan trái, mong cho được an lạc, đừng có khổ đau, mong cho có tự thân an lạc, đừng có tự thân khổ đau. Với tám phương cách này, vị ấy có lòng từ đối với tất cả chúng sanh trong đọa xứ ở phương trên, vì thế gọi là tâm từ. Vị ấy tác ý đến pháp ấy, vì thế gọi là tâm. Vị ấy được giải thoát khỏi tất cả sự phiền nhiễu của sân hận, vì thế gọi là giải thoát. Vừa là tâm từ, vừa là tâm, vừa là giải thoát, vì thế gọi là tâm từ giải thoát.
Sabbe uparimāya disāya vinipātikā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – saddhāya adhimuccati. Saddhindriyaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
“May all beings in a state of downfall in the upper direction be without enmity, may they be safe, may they be happy”—one resolves with faith. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with the faculty of faith.
‘Mong cho tất cả chúng sanh trong đọa xứ ở phương trên không có oan trái, mong cho được an ổn, mong cho được an lạc’ – vị ấy quyết định với đức tin. Tâm từ giải thoát được tu tập bởi tín quyền.
Sabbe uparimāya disāya vinipātikā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – vīriyaṃ paggaṇhāti. Vīriyindriyaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
“May all beings in a state of downfall in the upper direction be without enmity, may they be safe, may they be happy”—one exerts effort. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with the faculty of effort.
‘Mong cho tất cả chúng sanh trong đọa xứ ở phương trên không có oan trái, mong cho được an ổn, mong cho được an lạc’ – vị ấy nỗ lực tinh tấn. Tâm từ giải thoát được tu tập bởi tấn quyền.
Satiṃ upaṭṭhāpeti. Satindriyaparibhāvitā hoti mettācetovimutti. Cittaṃ samādahati. Samādhindriyaparibhāvitā hoti mettācetovimutti. Paññāya pajānāti. Paññindriyaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
He establishes mindfulness. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with the faculty of mindfulness. He concentrates the mind. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with the faculty of concentration. He understands with wisdom. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with the faculty of wisdom.
Vị ấy thiết lập niệm. Tâm từ giải thoát được tu tập bởi niệm quyền. Vị ấy định tâm. Tâm từ giải thoát được tu tập bởi định quyền. Vị ấy biết rõ bằng trí tuệ. Tâm từ giải thoát được tu tập bởi tuệ quyền.
Imāni pañcindriyāni mettāya cetovimuttiyā āsevanā honti. Imehi pañcahi indriyehi mettācetovimutti āsevīyati…pe… nibbattenti jotenti patāpenti.
These five faculties serve the cultivation of the liberation of mind through loving-kindness. By these five faculties, the liberation of mind through loving-kindness is cultivated… they bring forth, illuminate, and make it radiant.
Năm quyền này là sự thực hành của tâm từ giải thoát. Tâm từ giải thoát được thực hành bởi năm quyền này... v.v... làm cho phát sanh, làm cho chiếu sáng, làm cho rực rỡ.
Sabbe uparimāya disāya vinipātikā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – assaddhiye na kampati. Saddhābalaparibhāvitā hoti mettācetovimutti. Kosajje na kampati. Vīriyabalaparibhāvitā hoti mettācetovimutti. Pamāde na kampati. Satibalaparibhāvitā hoti mettācetovimutti. Uddhacce na kampati. Samādhibalaparibhāvitā hoti mettācetovimutti. Avijjāya na kampati. Paññābalaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
‘May all the vinipātikas in the upper direction be free from enmity, may they be secure, may they be happy’—thus, one is not shaken by faithlessness. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with the power of faith. One is not shaken by laziness. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with the power of energy. One is not shaken by negligence. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with the power of mindfulness. One is not shaken by restlessness. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with the power of concentration. One is not shaken by ignorance. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with the power of wisdom.
‘Mong rằng tất cả các chúng sanh đọa xứ ở phương trên không có oan trái, không có hiểm nguy, được an lạc’ – vị ấy không bị dao động bởi sự vô tín. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi tín lực. Vị ấy không bị dao động bởi sự lười biếng. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi tấn lực. Vị ấy không bị dao động bởi sự phóng dật. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi niệm lực. Vị ấy không bị dao động bởi sự trạo cử. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi định lực. Vị ấy không bị dao động bởi vô minh. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi tuệ lực.
Imāni pañca balāni mettāya cetovimuttiyā āsevanā honti. Imehi pañcahi balehi mettācetovimutti āsevīyati…pe… nibbattenti jotenti patāpenti.
These five powers serve the cultivation of the liberation of mind through loving-kindness. By these five powers, the liberation of mind through loving-kindness is cultivated… they bring forth, illuminate, and make it radiant.
Năm lực này là sự thực hành của tâm giải thoát do từ. Tâm giải thoát do từ được thực hành bởi năm lực này... v.v... làm cho sanh khởi, làm cho sáng chói, làm cho rực rỡ.
Sabbe uparimāya disāya vinipātikā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – satiṃ upaṭṭhāpeti. Satisambojjhaṅgaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
‘May all the vinipātikas in the upper direction be free from enmity, may they be secure, may they be happy’—thus, one establishes mindfulness. The liberation of mind through loving-kindness is imbued with the enlightenment factor of mindfulness.
‘Mong rằng tất cả các chúng sanh đọa xứ ở phương trên không có oan trái, không có hiểm nguy, được an lạc’ – vị ấy thiết lập niệm. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi niệm giác chi.
Paññāya pavicināti. Dhammavicayasambojjhaṅgaparibhāvitā hoti mettācetovimutti. Vīriyaṃ paggaṇhāti. Vīriyasambojjhaṅgaparibhāvitā hoti mettācetovimutti. Pariḷāhaṃ paṭippassambheti. Pītisambojjhaṅgaparibhāvitā hoti mettācetovimutti. Duṭṭhullaṃ paṭippassambheti. Passaddhisambojjhaṅgaparibhāvitā hoti mettācetovimutti. Cittaṃ samādahati. Samādhisambojjhaṅgaparibhāvitā hoti mettācetovimutti. Ñāṇena kilese paṭisaṅkhāti. Upekkhāsambojjhaṅgaparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
He investigates with wisdom. The liberation of mind by loving-kindness is developed by the enlightenment factor of investigation of states. He exerts energy. The liberation of mind by loving-kindness is developed by the enlightenment factor of energy. He allays the feverishness. The liberation of mind by loving-kindness is developed by the enlightenment factor of rapture. He allays the grossness. The liberation of mind by loving-kindness is developed by the enlightenment factor of tranquility. He concentrates the mind. The liberation of mind by loving-kindness is developed by the enlightenment factor of concentration. He reflects on the defilements with knowledge. The liberation of mind by loving-kindness is developed by the enlightenment factor of equanimity.
Vị ấy thẩm sát bằng trí tuệ. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi trạch pháp giác chi. Vị ấy nỗ lực tinh tấn. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi tấn giác chi. Vị ấy làm cho sự thiêu đốt được an tịnh. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi hỷ giác chi. Vị ấy làm cho sự thô trược được an tịnh. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi khinh an giác chi. Vị ấy định tâm. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi định giác chi. Vị ấy quán xét các phiền não bằng trí. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi xả giác chi.
Ime satta bojjhaṅgā mettāya cetovimuttiyā āsevanā honti. Imehi sattahi bojjhaṅgehi mettācetovimutti āsevīyati…pe… nibbattenti jotenti patāpenti.
These seven enlightenment factors serve as the cultivation of the liberation of mind by loving-kindness. By these seven enlightenment factors, the liberation of mind by loving-kindness is cultivated; they bring it forth, illuminate it, and make it brilliant.
Bảy giác chi này là sự thực hành của tâm giải thoát do từ. Tâm giải thoát do từ được thực hành bởi bảy giác chi này... v.v... làm cho sanh khởi, làm cho sáng chói, làm cho rực rỡ.
Sabbe uparimāya disāya vinipātikā averino hontu, khemino hontu, sukhino hontūti – sammā passati. Sammādiṭṭhi paribhāvitā hoti mettācetovimutti. Sammā abhiniropeti. Sammāsaṅkappaparibhāvitā hoti mettācetovimutti. Sammā pariggaṇhāti. Sammāvācāparibhāvitā hoti mettācetovimutti. Sammā samuṭṭhāpeti. Sammākammantaparibhāvitā hoti mettācetovimutti. Sammā vodāpeti. Sammā ājīvaparibhāvitā hoti mettācetovimutti. Sammā paggaṇhāti. Sammāvāyāmaparibhāvitā hoti mettācetovimutti. Sammā upaṭṭhāti. Sammāsatiparibhāvitā hoti mettācetovimutti. Sammā samādahati. Sammāsamādhiparibhāvitā hoti mettācetovimutti.
“May all beings in the upper direction, subject to states of woe, be free from enmity, secure, and happy”—he sees rightly. The liberation of mind by loving-kindness is developed by right view. He applies his mind rightly. The liberation of mind by loving-kindness is developed by right thought. He undertakes rightly. The liberation of mind by loving-kindness is developed by right speech. He initiates rightly. The liberation of mind by loving-kindness is developed by right action. He purifies rightly. The liberation of mind by loving-kindness is developed by right livelihood. He exerts rightly. The liberation of mind by loving-kindness is developed by right effort. He establishes mindfulness rightly. The liberation of mind by loving-kindness is developed by right mindfulness. He concentrates rightly. The liberation of mind by loving-kindness is developed by right concentration.
‘Mong rằng tất cả các chúng sanh đọa xứ ở phương trên không có oan trái, không có hiểm nguy, được an lạc’ – vị ấy thấy một cách chơn chánh. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi chánh kiến. Vị ấy hướng đến một cách chơn chánh. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi chánh tư duy. Vị ấy nắm giữ một cách chơn chánh. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi chánh ngữ. Vị ấy khởi lên một cách chơn chánh. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi chánh nghiệp. Vị ấy làm cho trong sạch một cách chơn chánh. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi chánh mạng. Vị ấy nỗ lực một cách chơn chánh. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi chánh tinh tấn. Vị ấy hiện khởi một cách chơn chánh. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi chánh niệm. Vị ấy định tâm một cách chơn chánh. Tâm giải thoát do từ được tu tập bởi chánh định.
Ime aṭṭha maggaṅgā mettāya cetovimuttiyā āsevanā honti. Imehi aṭṭhahi maggaṅgehi mettācetovimutti āsevīyati…pe… ime aṭṭha maggaṅgā mettāya cetovimuttiyā paribhāvitā honti. Imehi aṭṭhahi maggaṅgehi mettācetovimutti suparivutā hoti. Ime aṭṭha maggaṅgā mettāya cetovimuttiyā āsevanā honti, bhāvanā honti, bahulīkatā honti, alaṅkārā honti, parikkhārā honti, parivārā honti, pāripūrī honti, sahagatā honti, sahajātā honti, saṃsaṭṭhā honti, sampayuttā honti, pakkhandanā honti, pasīdanā honti, santiṭṭhanā honti, vimuccanā honti, ‘‘etaṃ santa’’nti phassanā honti, yānīkatā honti, vatthukatā honti, anuṭṭhitā honti, paricitā honti, susamāraddhā honti, subhāvitā honti, svādhiṭṭhitā honti, susamuggatā honti, suvimuttā honti nibbattenti jotenti patāpentīti.
These eight path factors are for the practice of the liberation of mind through loving-kindness. By these eight path factors, the liberation of mind through loving-kindness is practiced... These eight path factors are developed by the liberation of mind through loving-kindness. By these eight path factors, the liberation of mind through loving-kindness is well-surrounded. These eight path factors, for the liberation of mind through loving-kindness, are for practice, for development, for frequent practice; they are adornments, requisites, a retinue, a fulfillment; they are accompanying, co-arisen, intermingled, associated; they are for leaping into, for clarifying, for establishing, for liberating, for touching upon 'this is peace'; they are made into a vehicle, made into a basis; they are undertaken, familiarized, well-undertaken, well-developed, well-established, well-arisen, and well-liberated. They bring forth, illuminate, and make manifest.
Tám đạo chi này là sự thực hành của tâm giải thoát do từ. Tâm giải thoát do từ được thực hành bởi tám đạo chi này... v.v... Tám đạo chi này được tu tập bởi tâm giải thoát do từ. Tâm giải thoát do từ được khéo bao bọc bởi tám đạo chi này. Tám đạo chi này là sự thực hành, là sự tu tập, là sự làm cho sung mãn, là vật trang sức, là vật tùy tùng, là đoàn tùy tùng, là sự viên mãn, là sự đồng hành, là sự đồng sanh, là sự hòa trộn, là sự tương ưng, là sự nhảy vào, là sự làm cho trong sạch, là sự an trú, là sự giải thoát, là sự xúc chạm với câu ‘đây là sự tịch tịnh,’ là sự làm thành cỗ xe, là sự làm thành nền tảng, là sự được thiết lập, là sự được tích lũy, là sự được khéo tinh cần, là sự được khéo tu tập, là sự được khéo an trú, là sự được khéo sanh khởi, là sự được khéo giải thoát của tâm giải thoát do từ; chúng làm cho sanh khởi, làm cho sáng chói, làm cho rực rỡ.
Mettākathā niṭṭhitā.
The Discourse on Loving-Kindness is concluded.
Phần luận về tâm từ đã chấm dứt.