Bản dịch
PS 2.2 — Giảng về Chân Lý
2.2. Saccakathā
Đầy đủ phần duyên khởi: Này các tỳ khưu, đây là bốn thực thể, là không ngoài thực thể, không phải là dị thể. Bốn gì? Này các tỳ khưu, ‘Đây là Khổ,’ điều này là thực thể, điều này là không ngoài thực thể, điều này không phải là dị thể; ‘Đây là nhân sanh Khổ,’ điều này là thực thể, điều này là không ngoài thực thể, điều này không phải là dị thể; ‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ điều này là thực thể, điều này là không ngoài thực thể, điều này không phải là dị thể; ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ,’ điều này là thực thể, điều này là không ngoài thực thể, điều này không phải là dị thể. Này các tỳ khưu, đây là bốn thực thể, là không ngoài thực thể, không phải là dị thể.
Khổ là chân lý theo ý nghĩa của thực thể là (có ý nghĩa) thế nào? Bốn ý nghĩa về khổ của Khổ là thực thể, là không ngoài thực thể, không phải là dị thể: Ý nghĩa áp bức, ý nghĩa tạo tác, ý nghĩa nóng nảy, ý nghĩa chuyển biến của Khổ; bốn ý nghĩa này về khổ của Khổ là thực thể, là không ngoài thực thể, không phải là dị thể. Khổ là chân lý theo ý nghĩa của thực thể là (có ý nghĩa) như thế.
Nhân sanh (Khổ) là chân lý theo ý nghĩa của thực thể là (có ý nghĩa) thế nào? Bốn ý nghĩa về nhân sanh của nhân sanh (Khổ) là thực thể, là không ngoài thực thể, không phải là dị thể: Ý nghĩa tích lũy (nghiệp), ý nghĩa căn nguyên, ý nghĩa ràng buộc, ý nghĩa vướng bận của nhân sanh (Khổ); bốn ý nghĩa này về nhân sanh của nhân sanh (Khổ) là thực thể, là không ngoài thực thể, không phải là dị thể. Nhân sanh (Khổ) là chân lý theo ý nghĩa của thực thể là (có ý nghĩa) như thế.
Sự diệt tận (Khổ) là chân lý theo ý nghĩa của thực thể là (có ý nghĩa) thế nào? Bốn ý nghĩa về diệt tận của sự diệt tận (Khổ) là thực thể, là không ngoài thực thể, không phải là dị thể: Ý nghĩa xuất ly, ý nghĩa viễn ly, ý nghĩa không tạo tác, ý nghĩa bất tử của sự diệt tận (Khổ); bốn ý nghĩa này về diệt tận của sự diệt tận (Khổ) là thực thể, là không ngoài thực thể, không phải là dị thể. Sự diệt tận (Khổ) là chân lý theo ý nghĩa của thực thể là (có ý nghĩa) như thế.
Đạo là chân lý theo ý nghĩa của thực thể là (có ý nghĩa) thế nào? Bốn ý nghĩa về đạo của Đạo là thực thể, là không ngoài thực thể, không phải là dị thể: Ý nghĩa dẫn xuất, ý nghĩa nguyên nhân, ý nghĩa nhận thức, ý nghĩa pháp chủ đạo của Đạo; bốn ý nghĩa này về đạo của Đạo là thực thể, là không ngoài thực thể, không phải là dị thể. Đạo là chân lý theo ý nghĩa của thực thể là (có ý nghĩa) như thế.
Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt là với bao nhiêu biểu hiện? Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt là với bốn biểu hiện: theo ý nghĩa thực thể, theo ý nghĩa vô ngã, theo ý nghĩa chân lý, theo ý nghĩa thấu triệt; bốn chân lý được tổng hợp chung lại là với bốn biểu hiện này. Điều nào được tổng hợp chung lại, điều ấy là nhất thể. Nhất thể được thấu triệt bởi một trí, như thế bốn chân lý là có chung một sự thấu triệt.
Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa thực thể là (có ý nghĩa) thế nào? Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa thực thể là với bốn biểu hiện: Ý nghĩa về khổ của Khổ là ý nghĩa về thực thể, ý nghĩa về nhân sanh của nhân sanh (Khổ) là ý nghĩa về thực thể, ý nghĩa về diệt tận của sự diệt tận (Khổ) là ý nghĩa về thực thể, ý nghĩa về đạo của Đạo là ý nghĩa về thực thể; bốn chân lý được tổng hợp chung lại theo ý nghĩa thực thể là với bốn biểu hiện này. Điều nào được tổng hợp chung lại, điều ấy là nhất thể. Nhất thể được thấu triệt bởi một trí, như thế bốn chân lý là có chung một sự thấu triệt.
Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa vô ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa vô ngã là với bốn biểu hiện: Ý nghĩa về khổ của Khổ là ý nghĩa về vô ngã, ý nghĩa về nhân sanh của nhân sanh (Khổ) là ý nghĩa về vô ngã, ý nghĩa về diệt tận của sự diệt tận (Khổ) là ý nghĩa về vô ngã, ý nghĩa về đạo của Đạo là ý nghĩa về vô ngã; bốn chân lý được tổng hợp chung lại theo ý nghĩa vô ngã là với bốn biểu hiện này. Điều nào được tổng hợp chung lại, điều ấy là nhất thể. Nhất thể được thấu triệt bởi một trí, như thế bốn chân lý là có chung một sự thấu triệt.
Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa chân lý là (có ý nghĩa) thế nào? Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa chân lý là với bốn biểu hiện: Ý nghĩa về khổ của Khổ là ý nghĩa về chân lý, ý nghĩa về nhân sanh của nhân sanh (Khổ) là ý nghĩa về chân lý, ý nghĩa diệt tận của sự diệt tận (Khổ) là ý nghĩa về chân lý, ý nghĩa về đạo của Đạo là ý nghĩa về chân lý; bốn chân lý được tổng hợp chung lại theo ý nghĩa chân lý là với bốn biểu hiện này. Điều nào được tổng hợp chung lại, điều ấy là nhất thể. Nhất thể được thấu triệt bởi một trí, như thế bốn chân lý là có chung một sự thấu triệt.
Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa thấu triệt là (có ý nghĩa) thế nào? Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa thấu triệt là với bốn biểu hiện: Ý nghĩa về khổ của Khổ là ý nghĩa về thấu triệt, ý nghĩa về nhân sanh của nhân sanh (Khổ) là ý nghĩa về thấu triệt, ý nghĩa diệt tận của sự diệt tận (Khổ) là ý nghĩa về thấu triệt, ý nghĩa về đạo của Đạo là ý nghĩa về thấu triệt; bốn chân lý được tổng hợp chung lại theo ý nghĩa thấu triệt là với bốn biểu hiện này. Điều nào được tổng hợp chung lại, điều ấy là nhất thể. Nhất thể được thấu triệt bởi một trí, như thế bốn chân lý là có chung một sự thấu triệt.
Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt là (có ý nghĩa) thế nào? Điều gì là vô thường, điều ấy là khổ não; điều gì là khổ não, điều ấy là vô thường. Điều gì là vô thường và khổ não, điều ấy là vô ngã. Điều gì là vô thường, khổ não, và vô ngã, điều ấy là thực thể. Điều gì là vô thường, khổ não, vô ngã, và thực thể, điều ấy là chân lý. Điều gì là vô thường, khổ não, vô ngã, thực thể, và chân lý, điều ấy là được tổng hợp chung lại. Điều gì được tổng hợp chung lại, điều ấy là nhất thể. Nhất thể được thấu triệt bởi một trí, như thế bốn chân lý là có chung một sự thấu triệt.
Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt là với bao nhiêu biểu hiện? Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt là với chín biểu hiện: theo ý nghĩa thực thể, theo ý nghĩa vô ngã, theo ý nghĩa chân lý, theo ý nghĩa thấu triệt, theo ý nghĩa biết rõ, theo ý nghĩa biết toàn diện, theo ý nghĩa từ bỏ, theo ý nghĩa tu tập, theo ý nghĩa tác chứng; bốn chân lý có chung một sự thấu triệt là với chín biểu hiện này. Điều gì được tổng hợp chung lại, điều ấy là nhất thể. Nhất thể được thấu triệt bởi một trí, như thế bốn chân lý là có chung một sự thấu triệt.
Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa thực thể là (có ý nghĩa) thế nào? Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa thực thể là với chín biểu hiện: Ý nghĩa về khổ của Khổ là ý nghĩa về thực thể, ý nghĩa về nhân sanh của nhân sanh (Khổ) là ý nghĩa về thực thể, ý nghĩa về diệt tận của sự diệt tận (Khổ) là ý nghĩa về thực thể, ý nghĩa về đạo của Đạo là ý nghĩa về thực thể, ý nghĩa về biết rõ của thắng trí là ý nghĩa về thực thể, ý nghĩa về biết toàn diện của toàn trí là ý nghĩa về thực thể, ý nghĩa về từ bỏ của sự từ bỏ là ý nghĩa về thực thể, ý nghĩa về tu tập của sự tu tập là ý nghĩa về thực thể, ý nghĩa về tác chứng của sự tác chứng là ý nghĩa về thực thể; bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa thực thể là với chín biểu hiện này. Điều gì được tổng hợp chung lại, điều ấy là nhất thể. Nhất thể được thấu triệt bởi một trí, như thế bốn chân lý là có chung một sự thấu triệt.
Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa vô ngã … theo ý nghĩa chân lý … theo ý nghĩa thấu triệt là (có ý nghĩa) thế nào? Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa thấu triệt là với chín biểu hiện: Ý nghĩa về khổ của Khổ là ý nghĩa về thấu triệt, ý nghĩa về nhân sanh của nhân sanh (Khổ) là ý nghĩa về thấu triệt, ý nghĩa về diệt tận của sự diệt tận (Khổ) là ý nghĩa về thấu triệt, ý nghĩa về đạo của Đạo là ý nghĩa về thấu triệt, ý nghĩa về biết rõ của thắng trí là ý nghĩa về thấu triệt, ý nghĩa về biết toàn diện của toàn trí là ý nghĩa về thấu triệt, ý nghĩa về từ bỏ của sự từ bỏ là ý nghĩa về thấu triệt, ý nghĩa về tu tập của sự tu tập là ý nghĩa về thấu triệt, ý nghĩa về tác chứng của sự tác chứng là ý nghĩa về thấu triệt; bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa thấu triệt là với chín biểu hiện này. Điều gì được tổng hợp chung lại, điều ấy là nhất thể. Nhất thể được thấu triệt bởi một trí, như thế bốn chân lý là có chung một sự thấu triệt.
Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt là với bao nhiêu biểu hiện? Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt là với mười hai biểu hiện: theo ý nghĩa thực thể, theo ý nghĩa vô ngã, theo ý nghĩa chân lý, theo ý nghĩa thấu triệt, theo ý nghĩa biết rõ, theo ý nghĩa biết toàn diện, theo ý nghĩa hiện tượng, theo ý nghĩa sự kiện, theo ý nghĩa điều đã được biết, theo ý nghĩa tác chứng, theo ý nghĩa chạm đến, theo ý nghĩa lãnh hội; bốn chân lý có chung một sự thấu triệt là với mười hai biểu hiện này. Điều gì được tổng hợp chung lại, điều ấy là nhất thể. Nhất thể được thấu triệt bởi một trí, như thế bốn chân lý là có chung một sự thấu triệt.
Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa thực thể là (có ý nghĩa) thế nào? Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa thực thể là với mười sáu biểu hiện: Ý nghĩa áp bức, ý nghĩa tạo tác, ý nghĩa nóng nảy, ý nghĩa chuyển biến của Khổ là ý nghĩa về thực thể; Ý nghĩa tích lũy (nghiệp), ý nghĩa căn nguyên, ý nghĩa ràng buộc, ý nghĩa vướng bận của nhân sanh (Khổ) là ý nghĩa về thực thể; Ý nghĩa xuất ly, ý nghĩa viễn ly, ý nghĩa không tạo tác, ý nghĩa bất tử của sự diệt tận (Khổ) là ý nghĩa về thực thể; Ý nghĩa dẫn xuất, ý nghĩa nguyên nhân, ý nghĩa nhận thức, ý nghĩa pháp chủ đạo của Đạo là ý nghĩa về thực thể; bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa thực thể là với mười sáu biểu hiện này. Điều gì được tổng hợp chung lại, điều ấy là nhất thể. Nhất thể được thấu triệt bởi một trí, như thế bốn chân lý là có chung một sự thấu triệt.
Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa vô ngã … theo ý nghĩa chân lý … theo ý nghĩa thấu triệt … theo ý nghĩa biết rõ … theo ý nghĩa biết toàn diện … theo ý nghĩa hiện tượng … theo ý nghĩa sự kiện … theo ý nghĩa điều đã được biết … theo ý nghĩa tác chứng … theo ý nghĩa chạm đến … theo ý nghĩa lãnh hội là (có ý nghĩa) thế nào? Bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa lãnh hội là với 16 biểu hiện: Ý nghĩa áp bức, ý nghĩa tạo tác, ý nghĩa nóng nảy, ý nghĩa chuyển biến của Khổ là ý nghĩa về lãnh hội; Ý nghĩa tích lũy (nghiệp), ý nghĩa căn nguyên, ý nghĩa ràng buộc, ý nghĩa vướng bận của nhân sanh (Khổ) là ý nghĩa về lãnh hội; Ý nghĩa xuất ly, ý nghĩa viễn ly, ý nghĩa không tạo tác, ý nghĩa bất tử của sự diệt tận (Khổ) là ý nghĩa về lãnh hội; Ý nghĩa dẫn xuất, ý nghĩa nguyên nhân, ý nghĩa nhận thức, ý nghĩa pháp chủ đạo của Đạo là ý nghĩa về lãnh hội; bốn chân lý có chung một sự thấu triệt theo ý nghĩa lãnh hội là với 16 biểu hiện này. Điều gì được tổng hợp chung lại, điều ấy là nhất thể. Nhất thể được thấu triệt bởi một trí, như thế bốn chân lý là có chung một sự thấu triệt.
Có bao nhiêu tướng trạng của chân lý? Có hai tướng trạng của chân lý: tướng trạng hữu vi và tướng trạng vô vi; đây là hai tướng trạng của chân lý.
Có bao nhiêu tướng trạng của chân lý? Có sáu tướng trạng của chân lý: Đối với các chân lý hữu vi, sự sanh khởi được nhận biết, sự hoại diệt được nhận biết, khi chúng tồn tại trạng thái biến đổi được nhận biết; đối với chân lý vô vi, sự sanh khởi không được nhận biết, sự hoại diệt không được nhận biết, khi tồn tại trạng thái biến đổi không được nhận biết; đây là sáu tướng trạng của chân lý.
Có bao nhiêu tướng trạng của chân lý? Có mười hai tướng trạng của chân lý: Đối với chân lý về Khổ, sự sanh khởi được nhận biết, sự hoại diệt được nhận biết, khi tồn tại trạng thái biến đổi được nhận biết; đối với chân lý về nhân sanh (Khổ), sự sanh khởi được nhận biết, sự hoại diệt được nhận biết, khi tồn tại trạng thái biến đổi được nhận biết; đối với chân lý về Đạo, sự sanh khởi được nhận biết, sự hoại diệt được nhận biết, khi tồn tại trạng thái biến đổi được nhận biết; đối với chân lý về sự diệt tận (Khổ), không sự sanh khởi được nhận biết, không sự hoại diệt được nhận biết, khi tồn tại không trạng thái biến đổi được nhận biết; đây là mười hai tướng trạng của chân lý.
Thuộc về bốn chân lý, có bao nhiêu là thiện, có bao nhiêu là bất thiện, có bao nhiêu là vô ký? Chân lý về nhân sanh (Khổ) là bất thiện, chân lý về Đạo là thiện, chân lý về sự diệt tận là vô ký, chân lý về Khổ có thể là thiện, có thể là bất thiện, có thể là vô ký.
Có thể ba chân lý được tổng hợp với một chân lý, một chân lý được tổng hợp với ba chân lý về phương diện nền tảng theo thứ lớp?
Có thể: Có thể là (có ý nghĩa) thế nào? (Nếu) chân lý về Khổ là bất thiện và chân lý về nhân sanh (Khổ) là bất thiện; như vậy theo ý nghĩa của bất thiện, hai chân lý được tổng hợp với một chân lý, một chân lý được tổng hợp với hai chân lý. (Nếu) chân lý về Khổ là thiện và chân lý về Đạo là thiện; như vậy theo ý nghĩa của thiện, hai chân lý được tổng hợp với một chân lý, một chân lý được tổng hợp với hai chân lý. (Nếu) chân lý về Khổ là vô ký và chân lý về sự diệt tận (Khổ) là vô ký; như vậy theo ý nghĩa của vô ký, hai chân lý được tổng hợp với một chân lý, một chân lý được tổng hợp với hai chân lý. Như vậy, có thể ba chân lý được tổng hợp với một chân lý, một chân lý được tổng hợp với ba chân lý về phương diện nền tảng theo thứ lớp.
[Duyên khởi ở Sāvatthī]
Này các tỳ khưu, trước lúc Toàn Giác, khi hãy còn là Bồ Tát chưa thành Chánh Đẳng Giác, điều này đã khởi đến ta: Đối với sắc, điều gì là khoái lạc, điều gì là tai hại, điều gì là xuất ly? Đối với thọ, điều gì là khoái lạc, điều gì là tai hại, điều gì là xuất ly? Đối với tưởng, điều gì là khoái lạc, điều gì là tai hại, điều gì là xuất ly? Đối với các hành, điều gì là khoái lạc, điều gì là tai hại, điều gì là xuất ly? Đối với thức, điều gì là khoái lạc, điều gì là tai hại, điều gì là xuất ly?
Này các tỳ khưu, điều này đã khởi đến ta đây: Tùy thuận vào sắc, lạc và hỷ tâm sanh lên; điều này là khoái lạc của sắc. Sắc là vô thường, là khổ não, có hiện tượng chuyển biến; điều này là tai hại của sắc. Sự loại bỏ ước muốn và tham ái ở sắc, sự từ bỏ ước muốn và tham ái ở sắc; điều này là xuất ly khỏi sắc. Tùy thuận vào thọ … Tùy thuận vào tưởng … Tùy thuận vào các hành … Tùy thuận vào thức, lạc và hỷ tâm sanh lên; điều này là khoái lạc của thức. Thức là vô thường, là khổ não, có hiện tượng chuyển biến; điều này là tai hại của thức. Sự loại bỏ ước muốn và tham ái ở thức, sự từ bỏ ước muốn và tham ái ở thức; điều này là xuất ly khỏi thức.
Này các tỳ khưu, cho đến khi nào ta chưa biết rõ đúng theo thực thể khoái lạc là khoái lạc, tai hại là tai hại, xuất ly là xuất ly đối với năm thủ uẩn này là như vầy, này các tỳ khưu, cho đến khi ấy ta chưa công bố là ‘Đã hoàn toàn giác ngộ quả vô thượng Chánh Đẳng Giác’ ở thế gian tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người. Này các tỳ khưu, và đến khi ta đã biết rõ đúng theo thực thể khoái lạc là khoái lạc, tai hại là tai hại, xuất ly là xuất ly đối với năm thủ uẩn này là như vầy, này các tỳ khưu, khi ấy ta đã công bố là ‘Đã hoàn toàn giác ngộ quả vô thượng Chánh Đẳng Giác’ ở thế gian tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người. Hơn nữa, sự biết và thấy đã sanh khởi đến ta rằng: ‘Sự giải thoát của ta là không thể thay đổi. Đây là lần sanh cuối cùng, giờ không còn tái sanh nữa.’
‘Tùy thuận vào sắc, lạc và tâm sanh lên; điều này là sự khoái lạc của sắc,’ như thế sự thấu triệt do dứt bỏ là chân lý về nhân sanh (Khổ). ‘Sắc là vô thường, là khổ não, có hiện tượng chuyển biến; điều này là tai hại của sắc,’ như thế sự thấu triệt do biết toàn diện là chân lý về Khổ. ‘Sự loại bỏ ước muốn và tham ái, sự từ bỏ ước muốn và tham ái ở sắc; điều này là xuất ly khỏi sắc,’ như thế sự thấu triệt do tác chứng là chân lý về sự diệt tận (Khổ). ‘Liên quan ba sự kiện này, có sự nhận thức, suy nghĩ, lời nói, hành động, sự nuôi mạng, sự tinh tấn, niệm, định ,’* như thế sự thấu triệt do tu tập là chân lý về Đạo.
‘Tùy thuận vào thọ, …(như trên)… Tùy thuộc vào tưởng, …(như trên)… Tùy thuộc vào các hành, …(như trên)… Tùy thuộc vào thức, lạc và hỷ tâm sanh lên; điều này là sự khoái lạc của thức,’ như thế sự thấu triệt do dứt bỏ là chân lý về nhân sanh (Khổ). ‘Thức là vô thường, là khổ não, có hiện tượng chuyển biến; điều này là tai hại của thức,’ như thế sự thấu triệt do biết toàn diện là chân lý về Khổ. ‘Sự loại bỏ ước muốn và tham ái ở thức, sự từ bỏ ước muốn và tham ái ở thức; điều này là xuất ly khỏi thức,’ như thế sự thấu triệt do tác chứng là chân lý về sự diệt tận (Khổ). ‘Liên quan ba sự kiện này, có sự nhận thức, suy nghĩ, lời nói, hành động, sự nuôi mạng, sự tinh tấn, niệm, định,’ như thế sự thấu triệt do tu tập là chân lý về Đạo.
Chân lý: Chân lý là theo bao nhiêu biểu hiện? Là theo ý nghĩa tầm cầu, theo ý nghĩa nắm giữ, theo ý nghĩa thấu triệt.
Chân lý theo ý nghĩa tầm cầu là (có ý nghĩa) thế nào? Lão tử có điều gì là căn nguyên, có điều gì là nhân sanh, có điều gì là sanh chủng, có điều gì là nguồn phát khởi? Chân lý theo ý nghĩa tầm cầu là (có ý nghĩa) như thế.
Lão tử có sanh là căn nguyên, có sanh là nhân sanh, có sanh là sanh chủng, có sanh là nguồn phát khởi; chân lý theo ý nghĩa nắm giữ là (có ý nghĩa) như thế. Nhận biết lão tử, nhận biết nhân sanh của lão tử, nhận biết sự diệt tận của lão tử, nhận biết sự thực hành đưa đến sự diệt tận của lão tử; chân lý theo ý nghĩa thấu triệt là (có ý nghĩa) như thế.
Sanh có điều gì là căn nguyên, có điều gì là nhân sanh, có điều gì là sanh chủng, có điều gì là nguồn phát khởi? Chân lý theo ý nghĩa tầm cầu là (có ý nghĩa) như thế. Sanh có hữu là căn nguyên, có hữu là nhân sanh, có hữu là sanh chủng, có hữu là nguồn phát khởi; chân lý theo ý nghĩa nắm giữ là (có ý nghĩa) như thế. Nhận biết sanh, nhận biết nhân sanh của sanh, nhận biết sự diệt tận của sanh, nhận biết sự thực hành đưa đến sự diệt tận của sanh; chân lý theo ý nghĩa thấu triệt là (có ý nghĩa) như thế.
Hữu có điều gì là căn nguyên, có điều gì là nhân sanh, có điều gì là sanh chủng, có điều gì là nguồn phát khởi? Chân lý theo ý nghĩa tầm cầu là (có ý nghĩa) như thế. Hữu có thủ là căn nguyên, có thủ là nhân sanh, có thủ là sanh chủng, có thủ là nguồn phát khởi; chân lý theo ý nghĩa nắm giữ là (có ý nghĩa) như thế. Nhận biết hữu, nhận biết nhân sanh của hữu, nhận biết sự diệt tận của hữu, nhận biết sự thực hành đưa đến sự diệt tận của hữu; chân lý theo ý nghĩa thấu triệt là (có ý nghĩa) như thế.
Thủ có điều gì là căn nguyên, có điều gì là nhân sanh, có điều gì là sanh chủng, có điều gì là nguồn phát khởi? Chân lý theo ý nghĩa tầm cầu là (có ý nghĩa) như thế. Thủ có ái là căn nguyên, có ái là nhân sanh, có ái là sanh chủng, có ái là nguồn phát khởi; chân lý theo ý nghĩa nắm giữ là (có ý nghĩa) như thế. Nhận biết thủ, nhận biết nhân sanh của thủ, nhận biết sự diệt tận của thủ, nhận biết sự thực hành đưa đến sự diệt tận của thủ; chân lý theo ý nghĩa thấu triệt là (có ý nghĩa) như thế.
Ái có điều gì là căn nguyên, có điều gì là nhân sanh, có điều gì là sanh chủng, có điều gì là nguồn phát khởi? Chân lý theo ý nghĩa tầm cầu là (có ý nghĩa) như thế. Ái có thọ là căn nguyên, có thọ là nhân sanh, có thọ là sanh chủng, có thọ là nguồn phát khởi; chân lý theo ý nghĩa nắm giữ là (có ý nghĩa) như thế. Nhận biết ái, nhận biết nhân sanh của ái, nhận biết sự diệt tận của ái, nhận biết sự thực hành đưa đến sự diệt tận của ái; chân lý theo ý nghĩa thấu triệt là (có ý nghĩa) như thế.
Thọ có điều gì là căn nguyên, có điều gì là nhân sanh, có điều gì là sanh chủng, có điều gì là nguồn phát khởi? Chân lý theo ý nghĩa tầm cầu là (có ý nghĩa) như thế. Thọ có xúc là căn nguyên, có xúc là nhân sanh, có xúc là sanh chủng, có xúc là nguồn phát khởi; chân lý theo ý nghĩa nắm giữ là (có ý nghĩa) như thế. Nhận biết thọ, nhận biết nhân sanh của thọ, nhận biết sự diệt tận của thọ, nhận biết sự thực hành đưa đến sự diệt tận của thọ; chân lý theo ý nghĩa thấu triệt là (có ý nghĩa) như thế.
Xúc có điều gì là căn nguyên, có điều gì là nhân sanh, có điều gì là sanh chủng, có điều gì là nguồn phát khởi? Chân lý theo ý nghĩa tầm cầu là (có ý nghĩa) như thế. Xúc có sáu xứ là căn nguyên, có sáu xứ là nhân sanh, có sáu xứ là sanh chủng, có sáu xứ là nguồn phát khởi; chân lý theo ý nghĩa nắm giữ là (có ý nghĩa) như thế. Nhận biết xúc, nhận biết nhân sanh của xúc, nhận biết sự diệt tận của xúc, nhận biết sự thực hành đưa đến sự diệt tận của xúc; chân lý theo ý nghĩa thấu triệt là (có ý nghĩa) như thế.
Sáu xứ có điều gì là căn nguyên, có điều gì là nhân sanh, có điều gì là sanh chủng, có điều gì là nguồn phát khởi? Chân lý theo ý nghĩa tầm cầu là (có ý nghĩa) như thế. Sáu xứ có danh sắc là căn nguyên, có danh sắc là nhân sanh, có danh sắc là sanh chủng, có danh sắc là nguồn phát khởi; chân lý theo ý nghĩa nắm giữ là (có ý nghĩa) như thế. Nhận biết sáu xứ, nhận biết nhân sanh của sáu xứ, nhận biết sự diệt tận của sáu xứ, nhận biết sự thực hành đưa đến sự diệt tận của sáu xứ; chân lý theo ý nghĩa thấu triệt là (có ý nghĩa) như thế.
Danh sắc có điều gì là căn nguyên, có điều gì là nhân sanh, có điều gì là sanh chủng, có điều gì là nguồn phát khởi? Chân lý theo ý nghĩa tầm cầu là (có ý nghĩa) như thế. Danh sắc có thức là căn nguyên, có thức là nhân sanh, có thức là sanh chủng, có thức là nguồn phát khởi; chân lý theo ý nghĩa nắm giữ là (có ý nghĩa) như thế. Nhận biết danh sắc, nhận biết nhân sanh của danh sắc, nhận biết sự diệt tận của danh sắc, nhận biết sự thực hành đưa đến sự diệt tận của danh sắc; chân lý theo ý nghĩa thấu triệt là (có ý nghĩa) như thế.
Thức có điều gì là căn nguyên, có điều gì là nhân sanh, có điều gì là sanh chủng, có điều gì là nguồn phát khởi? Chân lý theo ý nghĩa tầm cầu là (có ý nghĩa) như thế. Thức có các hành là căn nguyên, có các hành là nhân sanh, có các hành là sanh chủng, có các hành là nguồn phát khởi; chân lý theo ý nghĩa nắm giữ là (có ý nghĩa) như thế. Nhận biết thức, nhận biết nhân sanh của thức, nhận biết sự diệt tận của thức, nhận biết sự thực hành đưa đến sự diệt tận của thức; chân lý theo ý nghĩa thấu triệt là (có ý nghĩa) như thế.
Các hành có điều gì là căn nguyên, có điều gì là nhân sanh, có điều gì là sanh chủng, có điều gì là nguồn phát khởi? Chân lý theo ý nghĩa tầm cầu là (có ý nghĩa) như thế. Các hành có vô minh là căn nguyên, có vô minh là nhân sanh, có vô minh là sanh chủng, có vô minh là nguồn phát khởi; chân lý theo ý nghĩa nắm giữ là (có ý nghĩa) như thế. Nhận biết các hành, nhận biết nhân sanh của các hành, nhận biết sự diệt tận của các hành, nhận biết sự thực hành đưa đến sự diệt tận của các hành; chân lý theo ý nghĩa thấu triệt là (có ý nghĩa) như thế.
Lão tử là chân lý về Khổ, sanh là chân lý về nhân sanh, sự xuất ly cả hai là chân lý về sự diệt tận, nhận biết về sự diệt tận là chân lý của Đạo. Sanh là chân lý về Khổ, hữu là chân lý về nhân sanh, sự xuất ly cả hai là chân lý về sự diệt tận, nhận biết về sự diệt tận là chân lý của Đạo. Hữu là chân lý về Khổ, thủ là chân lý về nhân sanh, sự xuất ly cả hai là chân lý về sự diệt tận, nhận biết về sự diệt tận là chân lý của Đạo. Thủ là chân lý về Khổ, ái là chân lý về nhân sanh, sự xuất ly cả hai là chân lý về sự diệt tận, nhận biết về sự diệt tận là chân lý của Đạo. Ái là chân lý về Khổ, thọ là chân lý về nhân sanh, sự xuất ly cả hai là chân lý về sự diệt tận, nhận biết về sự diệt tận là chân lý của Đạo. Thọ là chân lý về Khổ, xúc là chân lý về nhân sanh, sự xuất ly cả hai là chân lý về sự diệt tận, nhận biết về sự diệt tận là chân lý của Đạo. Xúc là chân lý về Khổ, sáu xứ là chân lý về nhân sanh, sự xuất ly cả hai là chân lý về sự diệt tận, nhận biết về sự diệt tận là chân lý của Đạo. Sáu xứ là chân lý về Khổ, danh sắc là chân lý về nhân sanh, sự xuất ly cả hai là chân lý về sự diệt tận, nhận biết về sự diệt tận là chân lý của Đạo. Danh sắc là chân lý về Khổ, thức là chân lý về nhân sanh, sự xuất ly cả hai là chân lý về sự diệt tận, nhận biết về sự diệt tận là chân lý của Đạo. Thức là chân lý về Khổ, các hành là chân lý về nhân sanh, sự xuất ly cả hai là chân lý về sự diệt tận, nhận biết về sự diệt tận là chân lý của Đạo. Các hành là chân lý về Khổ, vô minh là chân lý về nhân sanh, sự xuất ly cả hai là chân lý về sự diệt tận, nhận biết về sự diệt tận là chân lý của Đạo.
Lão tử là chân lý về Khổ, sanh có thể là chân lý về Khổ, có thể là chân lý về nhân sanh, sự xuất ly cả hai là chân lý về sự diệt tận, nhận biết về sự diệt tận là chân lý của Đạo. Sanh là chân lý về Khổ, hữu có thể là chân lý về Khổ, có thể là chân lý về nhân sanh, sự xuất ly cả hai là chân lý về sự diệt tận, nhận biết về sự diệt tận là chân lý của Đạo …(như trên)… Các hành là chân lý về Khổ, vô minh có thể là chân lý về Khổ, có thể là chân lý về nhân sanh, sự xuất ly cả hai là chân lý về sự diệt tận, nhận biết về sự diệt tận là chân lý của Đạo.
Phần Giảng về Chân Lý được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Kathaṃ dukkhaṃ tathaṭṭhena saccaṃ? Cattāro dukkhassa dukkhaṭṭhā tathā avitathā anaññathā. Dukkhassa pīḷanaṭṭho, saṅkhataṭṭho, santāpaṭṭho, vipariṇāmaṭṭho – ime cattāro dukkhassa dukkhaṭṭhā tathā avitathā anaññathā. Evaṃ dukkhaṃ tathaṭṭhena saccaṃ.
How is suffering a truth in the sense of actuality? The four meanings of suffering as suffering are real, not unreal, not otherwise. The meaning of oppression, the meaning of being conditioned, the meaning of torment, and the meaning of change—these four meanings of suffering as suffering are real, not unreal, not otherwise. Thus suffering is a truth in the sense of actuality.
Làm thế nào khổ là sự thật theo nghĩa như thật? Bốn ý nghĩa của khổ là như thật, không sai khác, không khác đi. Ý nghĩa bức bách, ý nghĩa hữu vi, ý nghĩa thiêu đốt, ý nghĩa biến hoại của khổ – bốn ý nghĩa này của khổ là như thật, không sai khác, không khác đi. Như vậy, khổ là sự thật theo nghĩa như thật.
Kathaṃ samudayo tathaṭṭhena saccaṃ? Cattāro samudayassa samudayaṭṭhā tathā avitathā anaññathā. Samudayassa āyūhanaṭṭho, nidānaṭṭho, saṃyogaṭṭho palibodhaṭṭho – ime cattāro samudayassa samudayaṭṭhā tathā avitathā anaññathā. Evaṃ samudayo tathaṭṭhena saccaṃ.
How is the origin a truth in the sense of actuality? The four meanings of the origin as origin are real, not unreal, not otherwise. The meaning of accumulation, the meaning of source, the meaning of bondage, and the meaning of impediment—these four meanings of the origin as origin are real, not unreal, not otherwise. Thus the origin is a truth in the sense of actuality.
Làm thế nào tập đế là sự thật theo nghĩa như thật? Bốn ý nghĩa của tập đế là như thật, không sai khác, không khác đi. Ý nghĩa tích tập, ý nghĩa nguyên nhân, ý nghĩa liên kết, ý nghĩa chướng ngại của tập đế – bốn ý nghĩa này của tập đế là như thật, không sai khác, không khác đi. Như vậy, tập đế là sự thật theo nghĩa như thật.
Kathaṃ nirodho tathaṭṭhena saccaṃ? Cattāro nirodhassa nirodhaṭṭhā tathā avitathā anaññathā. Nirodhassa nissaraṇaṭṭho, vivekaṭṭho, asaṅkhataṭṭho, amataṭṭho – ime cattāro nirodhassa nirodhaṭṭhā tathā avitathā anaññathā. Evaṃ nirodho tathaṭṭhena saccaṃ.
How is cessation a truth in the sense of actuality? The four meanings of cessation as cessation are real, not unreal, not otherwise. The meaning of escape, the meaning of seclusion, the meaning of the unconditioned, and the meaning of the deathless—these four meanings of cessation as cessation are real, not unreal, not otherwise. Thus cessation is a truth in the sense of actuality.
Làm thế nào Diệt là sự thật theo ý nghĩa chân thật? Bốn ý nghĩa của Diệt là chân thật, không sai lệch, không khác. Ý nghĩa thoát ly, ý nghĩa vắng lặng, ý nghĩa vô vi, ý nghĩa bất tử của Diệt – bốn ý nghĩa này của Diệt là chân thật, không sai lệch, không khác. Như vậy, Diệt là sự thật theo ý nghĩa chân thật.
Kathaṃ maggo tathaṭṭhena saccaṃ? Cattāro maggassa maggaṭṭhā tathā avitathā anaññathā. Maggassa niyyānaṭṭho, hetuṭṭho, dassanaṭṭho, ādhipateyyaṭṭho – ime cattāro maggassa maggaṭṭhā tathā avitathā anaññathā. Evaṃ maggo tathaṭṭhena saccaṃ.
How is the path a truth in the sense of actuality? The four path-meanings of the path are actual, not un-actual, not otherwise. The meaning of deliverance, the meaning of cause, the meaning of seeing, and the meaning of dominance—these four path-meanings of the path are actual, not un-actual, not otherwise. Thus, the path is a truth in the sense of actuality.
Làm thế nào Đạo là sự thật theo ý nghĩa chân thật? Bốn ý nghĩa của Đạo là chân thật, không sai lệch, không khác. Ý nghĩa xuất ly, ý nghĩa là nhân, ý nghĩa là thấy, ý nghĩa là làm chủ của Đạo – bốn ý nghĩa này của Đạo là chân thật, không sai lệch, không khác. Như vậy, Đạo là sự thật theo ý nghĩa chân thật.
9. Katihākārehi cattāri saccāni ekappaṭivedhāni? Catūhākārehi cattāri saccāni ekappaṭivedhāni. Tathaṭṭhena, anattaṭṭhena, saccaṭṭhena, paṭivedhaṭṭhena – imehi catūhākārehi cattāri saccāni ekasaṅgahitāni. Yaṃ ekasaṅgahitaṃ taṃ ekattaṃ. Ekattaṃ ekena ñāṇena paṭivijjhatīti – cattāri saccāni ekappaṭivedhāni.
9. In how many aspects are the four truths penetrated as one? The four truths are penetrated as one in four aspects. In the sense of actuality, in the sense of non-self, in the sense of truth, and in the sense of penetration—by these four aspects the four truths are comprised as one. What is comprised as one is a unity. That unity is penetrated by a single knowledge—thus the four truths are penetrated as one.
9. Bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ theo bao nhiêu phương diện? Bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ theo bốn phương diện. Theo ý nghĩa chân thật, theo ý nghĩa vô ngã, theo ý nghĩa sự thật, theo ý nghĩa thâm nhập – bởi bốn phương diện này, bốn sự thật được bao gồm làm một. Cái gì được bao gồm làm một, cái đó là sự đồng nhất. Sự đồng nhất được thâm nhập bởi một trí tuệ – do đó bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ.
Kathaṃ tathaṭṭhena cattāri saccāni ekappaṭivedhāni? Catūhākārehi tathaṭṭhena cattāri saccāni ekappaṭivedhāni. Dukkhassa dukkhaṭṭho tathaṭṭho, samudayassa samudayaṭṭho tathaṭṭho, nirodhassa nirodhaṭṭho tathaṭṭho, maggassa maggaṭṭho tathaṭṭho – imehi catūhākārehi tathaṭṭhena cattāri saccāni ekasaṅgahitāni. Yaṃ ekasaṅgahitaṃ taṃ ekattaṃ. Ekattaṃ ekena ñāṇena paṭivijjhatīti – cattāri saccāni ekappaṭivedhāni.
How, in the sense of actuality, are the four truths penetrated as one? In four aspects, in the sense of actuality, the four truths are penetrated as one. The meaning of suffering as suffering is the sense of actuality; the meaning of the origin as origin is the sense of actuality; the meaning of cessation as cessation is the sense of actuality; the meaning of the path as path is the sense of actuality. By these four aspects, in the sense of actuality, the four truths are comprised as one. What is comprised as one is a unity. That unity is penetrated by a single knowledge—thus the four truths are penetrated as one.
Làm thế nào bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ theo ý nghĩa chân thật? Bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ theo ý nghĩa chân thật bởi bốn phương diện. Ý nghĩa khổ của khổ là ý nghĩa chân thật, ý nghĩa tập của tập là ý nghĩa chân thật, ý nghĩa diệt của diệt là ý nghĩa chân thật, ý nghĩa đạo của đạo là ý nghĩa chân thật – bởi bốn phương diện này, theo ý nghĩa chân thật, bốn sự thật được bao gồm làm một. Cái gì được bao gồm làm một, cái đó là sự đồng nhất. Sự đồng nhất được thâm nhập bởi một trí tuệ – do đó bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ.
Kathaṃ anattaṭṭhena cattāri saccāni ekappaṭivedhāni? Catūhākārehi anattaṭṭhena cattāri saccāni ekappaṭivedhāni. Dukkhassa dukkhaṭṭho anattaṭṭho, samudayassa samudayaṭṭho anattaṭṭho, nirodhassa nirodhaṭṭho anattaṭṭho, maggassa maggaṭṭho anattaṭṭho – imehi catūhākārehi anattaṭṭhena cattāri saccāni ekasaṅgahitāni. Yaṃ ekasaṅgahitaṃ taṃ ekattaṃ. Ekattaṃ ekena ñāṇena paṭivijjhatīti – cattāri saccāni ekappaṭivedhāni.
How, in the sense of non-self, are the four truths penetrated as one? In four aspects, in the sense of non-self, the four truths are penetrated as one. The meaning of suffering as suffering is the sense of non-self; the meaning of the origin as origin is the sense of non-self; the meaning of cessation as cessation is the sense of non-self; the meaning of the path as path is the sense of non-self. By these four aspects, in the sense of non-self, the four truths are comprised as one. What is comprised as one is a unity. That unity is penetrated by a single knowledge—thus the four truths are penetrated as one.
Làm thế nào bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ theo ý nghĩa vô ngã? Bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ theo ý nghĩa vô ngã bởi bốn phương diện. Ý nghĩa khổ của khổ là ý nghĩa vô ngã, ý nghĩa tập của tập là ý nghĩa vô ngã, ý nghĩa diệt của diệt là ý nghĩa vô ngã, ý nghĩa đạo của đạo là ý nghĩa vô ngã – bởi bốn phương diện này, theo ý nghĩa vô ngã, bốn sự thật được bao gồm làm một. Cái gì được bao gồm làm một, cái đó là sự đồng nhất. Sự đồng nhất được thâm nhập bởi một trí tuệ – do đó bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ.
Kathaṃ saccaṭṭhena cattāri saccāni ekappaṭivedhāni? Catūhākārehi saccaṭṭhena cattāri saccāni ekappaṭivedhāni. Dukkhassa dukkhaṭṭho saccaṭṭho, samudayassa samudayaṭṭho saccaṭṭho, nirodhassa nirodhaṭṭho saccaṭṭho, maggassa maggaṭṭho saccaṭṭho – imehi catūhākārehi saccaṭṭhena cattāri saccāni ekasaṅgahitāni. Yaṃ ekasaṅgahitaṃ taṃ ekattaṃ. Ekattaṃ ekena ñāṇena paṭivijjhatīti – cattāri saccāni ekappaṭivedhāni.
How, in the sense of truth, are the four truths penetrated as one? In four aspects, in the sense of truth, the four truths are penetrated as one. Of suffering, the meaning of suffering is the meaning of truth; of the origin, the meaning of origin is the meaning of truth; of cessation, the meaning of cessation is the meaning of truth; of the path, the meaning of the path is the meaning of truth. By these four aspects, in the sense of truth, the four truths are comprised as one. That which is comprised as one is oneness. Oneness is penetrated by a single knowledge—thus the four truths are penetrated as one.
Làm thế nào bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ theo ý nghĩa sự thật? Bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ theo ý nghĩa sự thật bởi bốn phương diện. Ý nghĩa khổ của khổ là ý nghĩa sự thật, ý nghĩa tập của tập là ý nghĩa sự thật, ý nghĩa diệt của diệt là ý nghĩa sự thật, ý nghĩa đạo của đạo là ý nghĩa sự thật – bởi bốn phương diện này, theo ý nghĩa sự thật, bốn sự thật được bao gồm làm một. Cái gì được bao gồm làm một, cái đó là sự đồng nhất. Sự đồng nhất được thâm nhập bởi một trí tuệ – do đó bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ.
Kathaṃ paṭivedhaṭṭhena cattāri saccāni ekappaṭivedhāni? Catūhākārehi paṭivedhaṭṭhena cattāri saccāni ekappaṭivedhāni. Dukkhassa dukkhaṭṭho paṭivedhaṭṭho, samudayassa samudayaṭṭho paṭivedhaṭṭho nirodhassa nirodhaṭṭho paṭivedhaṭṭho, maggassa maggaṭṭho paṭivedhaṭṭho – imehi catūhākārehi paṭivedhaṭṭhena cattāri saccāni ekasaṅgahitāni yaṃ ekasaṅgahitaṃ taṃ ekattaṃ. Ekattaṃ ekena ñāṇena paṭivijjhatīti – cattāri saccāni ekappaṭivedhāni.
How, in the sense of penetration, are the four truths penetrated as one? In four aspects, in the sense of penetration, the four truths are penetrated as one. Of suffering, the meaning of suffering is the meaning of penetration; of the origin, the meaning of origin is the meaning of penetration; of cessation, the meaning of cessation is the meaning of penetration; of the path, the meaning of the path is the meaning of penetration. By these four aspects, in the sense of penetration, the four truths are comprised as one. That which is comprised as one is oneness. Oneness is penetrated by a single knowledge—thus the four truths are penetrated as one.
Làm thế nào bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ theo ý nghĩa thâm nhập? Bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ theo ý nghĩa thâm nhập bởi bốn phương diện. Ý nghĩa khổ của khổ là ý nghĩa thâm nhập, ý nghĩa tập của tập là ý nghĩa thâm nhập, ý nghĩa diệt của diệt là ý nghĩa thâm nhập, ý nghĩa đạo của đạo là ý nghĩa thâm nhập – bởi bốn phương diện này, theo ý nghĩa thâm nhập, bốn sự thật được bao gồm làm một. Cái gì được bao gồm làm một, cái đó là sự đồng nhất. Sự đồng nhất được thâm nhập bởi một trí tuệ – do đó bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ.
10. Katihākārehi cattāri saccāni ekappaṭivedhāni? Yaṃ aniccaṃ taṃ dukkhaṃ, yaṃ dukkhaṃ taṃ aniccaṃ, yaṃ aniccañca dukkhañca taṃ anattā. Yaṃ aniccañca dukkhañca anattā ca taṃ tathaṃ. Yaṃ aniccaṃ ca dukkhañca anattā ca tathañca taṃ saccaṃ. Yaṃ aniccañca dukkhañca anattā ca tathañca saccañca taṃ ekasaṅgahitaṃ. Yaṃ ekasaṅgahitaṃ taṃ ekattaṃ. Ekattaṃ ekena ñāṇena paṭivijjhatīti – cattāri saccāni ekappaṭivedhāni.
10. In how many aspects are the four truths penetrated as one? That which is impermanent is suffering; that which is suffering is impermanent; that which is impermanent and suffering is non-self. That which is impermanent, suffering, and non-self is real. That which is impermanent, suffering, non-self, and real is truth. That which is impermanent, suffering, non-self, real, and truth is comprised as one. That which is comprised as one is oneness. Oneness is penetrated by a single knowledge—thus the four truths are penetrated as one.
10. Bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ theo bao nhiêu phương diện? Cái gì vô thường, cái đó là khổ; cái gì khổ, cái đó là vô thường; cái gì vừa vô thường vừa khổ, cái đó là vô ngã. Cái gì vừa vô thường, vừa khổ, vừa vô ngã, cái đó là chân thật. Cái gì vừa vô thường, vừa khổ, vừa vô ngã, vừa chân thật, cái đó là sự thật. Cái gì vừa vô thường, vừa khổ, vừa vô ngã, vừa chân thật, vừa là sự thật, cái đó được bao gồm làm một. Cái gì được bao gồm làm một, cái đó là sự đồng nhất. Sự đồng nhất được thâm nhập bởi một trí tuệ – do đó bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ.
Katihākārehi cattāri saccāni ekappaṭivedhāni? Navahākārehi cattāri saccāni ekappaṭivedhāni. Tathaṭṭhena, anattaṭṭhena, saccaṭṭhena, paṭivedhaṭṭhena, abhiññaṭṭhena, pariññaṭṭhena, pahānaṭṭhena, bhāvanaṭṭhena, sacchikiriyaṭṭhena – imehi navahākārehi cattāri saccāni ekasaṅgahitāni. Yaṃ ekasaṅgahitaṃ taṃ ekattaṃ. Ekattaṃ ekena ñāṇena paṭivijjhatīti – cattāri saccāni ekappaṭivedhāni.
In how many aspects are the four truths penetrated as one? The four truths are penetrated as one in nine aspects. In the sense of actuality, in the sense of not-self, in the sense of truth, in the sense of penetration, in the sense of direct knowledge, in the sense of full understanding, in the sense of abandonment, in the sense of development, and in the sense of realization—by these nine aspects the four truths are comprised as one. What is comprised as one is a unity. That unity is penetrated by a single knowledge—thus the four truths are penetrated as one.
Bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ theo bao nhiêu phương diện? Bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ theo chín phương diện. Theo ý nghĩa chân thật, theo ý nghĩa vô ngã, theo ý nghĩa sự thật, theo ý nghĩa thâm nhập, theo ý nghĩa thắng trí, theo ý nghĩa liễu tri, theo ý nghĩa đoạn tận, theo ý nghĩa tu tập, theo ý nghĩa chứng ngộ – bởi chín phương diện này, bốn sự thật được bao gồm làm một. Cái gì được bao gồm làm một, cái đó là sự đồng nhất. Sự đồng nhất được thâm nhập bởi một trí tuệ – do đó bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ.
Kathaṃ tathaṭṭhena cattāri saccāni ekappaṭivedhāni? Navahākārehi tathaṭṭhena cattāri saccāni ekappaṭivedhāni. Dukkhassa dukkhaṭṭho tathaṭṭho, samudayassa samudayaṭṭho tathaṭṭho, nirodhassa nirodhaṭṭho tathaṭṭho, maggassa maggaṭṭho tathaṭṭho, abhiññāya abhiññaṭṭho tathaṭṭho, pariññāya pariññaṭṭho tathaṭṭho, pahānassa pahānaṭṭho tathaṭṭho, bhāvanāya bhāvanaṭṭho tathaṭṭho, sacchikiriyāya sacchikiriyaṭṭho tathaṭṭho – imehi navahākārehi tathaṭṭhena cattāri saccāni ekasaṅgahitāni. Yaṃ ekasaṅgahitaṃ taṃ ekattaṃ. Ekattaṃ ekena ñāṇena paṭivijjhatīti – cattāri saccāni ekappaṭivedhāni.
How, in the sense of actuality, are the four truths penetrated as one? In nine aspects, in the sense of actuality, are the four truths penetrated as one. The nature of suffering is the actual nature; the nature of the origin is the actual nature; the nature of cessation is the actual nature; the nature of the path is the actual nature; the nature of direct knowledge is the actual nature; the nature of full understanding is the actual nature; the nature of abandonment is the actual nature; the nature of development is the actual nature; the nature of realization is the actual nature. By these nine aspects, in the sense of actuality, the four truths are comprised as one. What is comprised as one is a unity. That unity is penetrated by a single knowledge—thus the four truths are penetrated as one.
Làm thế nào bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ theo ý nghĩa chân thật? Bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ theo ý nghĩa chân thật bởi chín phương diện. Ý nghĩa khổ của khổ là ý nghĩa chân thật, ý nghĩa tập của tập là ý nghĩa chân thật, ý nghĩa diệt của diệt là ý nghĩa chân thật, ý nghĩa đạo của đạo là ý nghĩa chân thật, ý nghĩa thắng trí của thắng trí là ý nghĩa chân thật, ý nghĩa liễu tri của liễu tri là ý nghĩa chân thật, ý nghĩa đoạn tận của đoạn tận là ý nghĩa chân thật, ý nghĩa tu tập của tu tập là ý nghĩa chân thật, ý nghĩa chứng ngộ của chứng ngộ là ý nghĩa chân thật – bởi chín phương diện này, theo ý nghĩa chân thật, bốn sự thật được bao gồm làm một. Cái gì được bao gồm làm một, cái đó là sự đồng nhất. Sự đồng nhất được thâm nhập bởi một trí tuệ – do đó bốn sự thật được thâm nhập bởi một trí tuệ.
Kathaṃ anattaṭṭhena… saccaṭṭhena… paṭivedhaṭṭhena cattāri saccāni ekappaṭivedhāni? Navahākārehi paṭivedhaṭṭhena cattāri saccāni ekappaṭivedhāni. Dukkhassa dukkhaṭṭho paṭivedhaṭṭho, samudayassa samudayaṭṭho paṭivedhaṭṭho, nirodhassa nirodhaṭṭho paṭivedhaṭṭho, maggassa maggaṭṭho paṭivedhaṭṭho, abhiññāya abhiññaṭṭho paṭivedhaṭṭho, pariññāya pariññaṭṭho paṭivedhaṭṭho, pahānassa pahānaṭṭho paṭivedhaṭṭho, bhāvanāya bhāvanaṭṭho paṭivedhaṭṭho, sacchikiriyāya sacchikiriyaṭṭho paṭivedhaṭṭho – imehi navahākārehi paṭivedhaṭṭhena cattāri saccāni ekasaṅgahitāni. Yaṃ ekasaṅgahitaṃ taṃ ekattaṃ. Ekattaṃ ekena ñāṇena paṭivijjhatīti – cattāri saccāni ekappaṭivedhāni.
How, in the sense of non-self, in the sense of truth, and in the sense of penetration, are the four truths penetrated as one? By nine aspects, in the sense of penetration, the four truths are penetrated as one. The meaning of suffering is the meaning of penetration; the meaning of origin is the meaning of penetration; the meaning of cessation is the meaning of penetration; the meaning of the path is the meaning of penetration; the meaning of direct knowledge is the meaning of penetration; the meaning of full understanding is the meaning of penetration; the meaning of abandonment is the meaning of penetration; the meaning of development is the meaning of penetration; and the meaning of realization is the meaning of penetration. By these nine aspects, in the sense of penetration, the four truths are comprised as one. What is comprised as one is a unity. That unity is penetrated by a single knowledge—thus the four truths are penetrated as one.
Làm thế nào bốn Thánh đế được liễu ngộ đồng nhất về phương diện ý nghĩa vô ngã, ... ý nghĩa chân thật, ... ý nghĩa liễu ngộ? Bốn Thánh đế được liễu ngộ đồng nhất về phương diện ý nghĩa liễu ngộ qua chín phương diện. Đối với khổ, ý nghĩa về khổ là ý nghĩa liễu ngộ; đối với tập, ý nghĩa về tập là ý nghĩa liễu ngộ; đối với diệt, ý nghĩa về diệt là ý nghĩa liễu ngộ; đối với đạo, ý nghĩa về đạo là ý nghĩa liễu ngộ; đối với thắng trí, ý nghĩa về thắng trí là ý nghĩa liễu ngộ; đối với biến tri, ý nghĩa về biến tri là ý nghĩa liễu ngộ; đối với sự đoạn tận, ý nghĩa về sự đoạn tận là ý nghĩa liễu ngộ; đối với sự tu tập, ý nghĩa về sự tu tập là ý nghĩa liễu ngộ; đối với sự chứng ngộ, ý nghĩa về sự chứng ngộ là ý nghĩa liễu ngộ – qua chín phương diện này, bốn Thánh đế được bao gồm làm một về phương diện ý nghĩa liễu ngộ. Cái gì được bao gồm làm một, cái ấy là sự đồng nhất. Sự đồng nhất được thâm nhập bởi một trí tuệ. Do đó, bốn Thánh đế được liễu ngộ đồng nhất.
11. Katihākārehi cattāri saccāni ekappaṭivedhāni? Dvādasahi ākārehi cattāri saccāni ekappaṭivedhāni. Tathaṭṭhena, anattaṭṭhena, saccaṭṭhena, paṭivedhaṭṭhena, abhijānanaṭṭhena, parijānanaṭṭhena, dhammaṭṭhena, tathaṭṭhena, ñātaṭṭhena, sacchikiriyaṭṭhena, phassanaṭṭhena, abhisamayaṭṭhena – imehi dvādasahi ākārehi cattāri saccāni ekasaṅgahitāni. Yaṃ ekasaṅgahitaṃ taṃ ekattaṃ. Ekattaṃ ekena ñāṇena paṭivijjhatīti – cattāri saccāni ekappaṭivedhāni.
11. In how many aspects are the four truths penetrated as one? The four truths are penetrated as one in twelve aspects. In the sense of actuality, in the sense of non-self, in the sense of truth, in the sense of penetration, in the sense of directly knowing, in the sense of full understanding, in the sense of Dhamma, in the sense of actuality, in the sense of the known, in the sense of realization, in the sense of contact, and in the sense of breakthrough—by these twelve aspects the four truths are comprised as one. What is comprised as one is a unity. That unity is penetrated by a single knowledge—thus the four truths are penetrated as one.
11. Bốn Thánh đế được liễu ngộ đồng nhất qua bao nhiêu phương diện? Bốn Thánh đế được liễu ngộ đồng nhất qua mười hai phương diện. Về phương diện ý nghĩa như thật, ý nghĩa vô ngã, ý nghĩa chân thật, ý nghĩa liễu ngộ, ý nghĩa thắng tri, ý nghĩa biến tri, ý nghĩa pháp tánh, ý nghĩa như thị, ý nghĩa sở tri, ý nghĩa chứng ngộ, ý nghĩa xúc chạm, ý nghĩa giác ngộ – qua mười hai phương diện này, bốn Thánh đế được bao gồm làm một. Cái gì được bao gồm làm một, cái ấy là sự đồng nhất. Sự đồng nhất được thâm nhập bởi một trí tuệ. Do đó, bốn Thánh đế được liễu ngộ đồng nhất.
Kathaṃ tathaṭṭhena cattāri saccāni ekappaṭivedhāni? Soḷasahi ākārehi tathaṭṭhena cattāri saccāni ekappaṭivedhāni. Dukkhassa pīḷanaṭṭho, saṅkhataṭṭho, santāpaṭṭho, vipariṇāmaṭṭho, tathaṭṭho; samudayassa āyūhanaṭṭho, nidānaṭṭho, saṃyogaṭṭho, palibodhaṭṭho tathaṭṭho; nirodhassa nissaraṇaṭṭho, vivekaṭṭho, asaṅkhataṭṭho, amataṭṭho tathaṭṭho; maggassa niyyānaṭṭho, hetuṭṭho, dassanaṭṭho, ādhipateyyaṭṭho tathaṭṭho – imehi soḷasahi ākārehi tathaṭṭhena cattāri saccāni ekasaṅgahitāni. Yaṃ ekasaṅgahitaṃ taṃ ekattaṃ. Ekattaṃ ekena ñāṇena paṭivijjhatīti – cattāri saccāni ekappaṭivedhāni.
How are the four truths penetrated by a single knowledge in the sense of being true? The four truths are penetrated by a single knowledge in the sense of being true by sixteen aspects. For suffering, the meaning of oppression, the meaning of being conditioned, the meaning of torment, and the meaning of change is the meaning of being true. For the origin, the meaning of striving, the meaning of being a source, the meaning of being a bond, and the meaning of being an obstruction is the meaning of being true. For cessation, the meaning of escape, the meaning of seclusion, the meaning of the unconditioned, and the meaning of the deathless is the meaning of being true. For the path, the meaning of outlet, the meaning of being a cause, the meaning of seeing, and the meaning of dominance is the meaning of being true. By these sixteen aspects, the four truths are comprehended as one in the sense of being true. What is comprehended as one is a unity. That unity is penetrated by a single knowledge; thus, the four truths are penetrated by a single knowledge.
Làm thế nào bốn Thánh đế được liễu ngộ đồng nhất về phương diện ý nghĩa như thật? Bốn Thánh đế được liễu ngộ đồng nhất về phương diện ý nghĩa như thật qua mười sáu phương diện. Đối với khổ, ý nghĩa bức bách, ý nghĩa hữu vi, ý nghĩa thiêu đốt, ý nghĩa biến hoại, là ý nghĩa như thật. Đối với tập, ý nghĩa tích tập, ý nghĩa nguyên nhân, ý nghĩa tương ưng, ý nghĩa chướng ngại, là ý nghĩa như thật. Đối với diệt, ý nghĩa xuất ly, ý nghĩa viễn ly, ý nghĩa vô vi, ý nghĩa bất tử, là ý nghĩa như thật. Đối với đạo, ý nghĩa xuất đạo, ý nghĩa nhân duyên, ý nghĩa kiến kiến, ý nghĩa tăng thượng, là ý nghĩa như thật – qua mười sáu phương diện này, bốn Thánh đế được bao gồm làm một về phương diện ý nghĩa như thật. Cái gì được bao gồm làm một, cái ấy là sự đồng nhất. Sự đồng nhất được thâm nhập bởi một trí tuệ. Do đó, bốn Thánh đế được liễu ngộ đồng nhất.
Kathaṃ anattaṭṭhena…pe… saccaṭṭhena… paṭivedhaṭṭhena… abhijānanaṭṭhena… parijānanaṭṭhena… dhammaṭṭhena… tathaṭṭhena… ñātaṭṭhena… sacchikiriyaṭṭhena… phassanaṭṭhena… abhisamayaṭṭhena cattāri saccāni ekappaṭivedhāni? Soḷasahi ākārehi abhisamayaṭṭhena cattāri saccāni ekappaṭivedhāni. Dukkhassa pīḷanaṭṭho, saṅkhataṭṭho, santāpaṭṭho, vipariṇāmaṭṭho, abhisamayaṭṭho; samudayassa āyūhanaṭṭho, nidānaṭṭho, saṃyogaṭṭho, palibodhaṭṭho, abhisamayaṭṭho; nirodhassa nissaraṇaṭṭho, vivekaṭṭho, asaṅkhataṭṭho, amataṭṭho, abhisamayaṭṭho; maggassa niyyānaṭṭho, hetuṭṭho, dassanaṭṭho, ādhipateyyaṭṭho, abhisamayaṭṭho – imehi soḷasahi ākārehi abhisamayaṭṭhena cattāri saccāni ekasaṅgahitāni. Yaṃ ekasaṅgahitaṃ taṃ ekattaṃ. Ekattaṃ ekena ñāṇena paṭivijjhatīti – cattāri saccāni ekappaṭivedhāni.
How are the four truths penetrated by a single knowledge in the sense of non-self... in the sense of truth... in the sense of penetration... in the sense of direct knowledge... in the sense of full understanding... in the sense of being a phenomenon... in the sense of being true... in the sense of being known... in the sense of realization... in the sense of contact... in the sense of comprehension? The four truths are penetrated by a single knowledge in the sense of comprehension by sixteen aspects. For suffering, the meaning of oppression, the meaning of being conditioned, the meaning of torment, and the meaning of change is the meaning of comprehension. For the origin, the meaning of striving, the meaning of being a source, the meaning of being a bond, and the meaning of being an obstruction is the meaning of comprehension. For cessation, the meaning of escape, the meaning of seclusion, the meaning of the unconditioned, and the meaning of the deathless is the meaning of comprehension. For the path, the meaning of outlet, the meaning of being a cause, the meaning of seeing, and the meaning of dominance is the meaning of comprehension. By these sixteen aspects, the four truths are comprehended as one in the sense of comprehension. What is comprehended as one is a unity. That unity is penetrated by a single knowledge; thus, the four truths are penetrated by a single knowledge.
Làm thế nào bốn Thánh đế được liễu ngộ đồng nhất về phương diện ý nghĩa vô ngã... (v.v.)... ý nghĩa chân thật... ý nghĩa liễu ngộ... ý nghĩa thắng tri... ý nghĩa biến tri... ý nghĩa pháp tánh... ý nghĩa như thị... ý nghĩa sở tri... ý nghĩa chứng ngộ... ý nghĩa xúc chạm... ý nghĩa giác ngộ? Bốn Thánh đế được liễu ngộ đồng nhất về phương diện ý nghĩa giác ngộ qua mười sáu phương diện. Đối với khổ, ý nghĩa bức bách, ý nghĩa hữu vi, ý nghĩa thiêu đốt, ý nghĩa biến hoại, là ý nghĩa giác ngộ. Đối với tập, ý nghĩa tích tập, ý nghĩa nguyên nhân, ý nghĩa tương ưng, ý nghĩa chướng ngại, là ý nghĩa giác ngộ. Đối với diệt, ý nghĩa xuất ly, ý nghĩa viễn ly, ý nghĩa vô vi, ý nghĩa bất tử, là ý nghĩa giác ngộ. Đối với đạo, ý nghĩa xuất đạo, ý nghĩa nhân duyên, ý nghĩa kiến kiến, ý nghĩa tăng thượng, là ý nghĩa giác ngộ – qua mười sáu phương diện này, bốn Thánh đế được bao gồm làm một về phương diện ý nghĩa giác ngộ. Cái gì được bao gồm làm một, cái ấy là sự đồng nhất. Sự đồng nhất được thâm nhập bởi một trí tuệ. Do đó, bốn Thánh đế được liễu ngộ đồng nhất.
12. Saccānaṃ kati lakkhaṇāni? Saccānaṃ dve lakkhaṇāni. Saṅkhatalakkhaṇañca, asaṅkhatalakkhaṇañca – saccānaṃ imāni dve lakkhaṇāni.
12. How many characteristics do the truths have? The truths have two characteristics: the characteristic of the conditioned and the characteristic of the unconditioned. These are the two characteristics of the truths.
12. Các Thánh đế có bao nhiêu tướng trạng? Các Thánh đế có hai tướng trạng: tướng trạng hữu vi và tướng trạng vô vi – đây là hai tướng trạng của các Thánh đế.
Saccānaṃ kati lakkhaṇāni? Saccānaṃ cha lakkhaṇāni. Saṅkhatānaṃ saccānaṃ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitānaṃ aññathattaṃ paññāyati asaṅkhatassa saccassa na uppādo paññāyati, na vayo paññāyati, na ṭhitassa aññathattaṃ paññāyati – saccānaṃ imāni cha lakkhaṇāni.
How many characteristics do the truths have? The truths have six characteristics. For the conditioned truths, arising is discerned, passing away is discerned, and alteration while persisting is discerned. For the unconditioned truth, arising is not discerned, passing away is not discerned, nor is alteration while persisting discerned. These are the six characteristics of the truths.
Các Thánh đế có bao nhiêu tướng trạng? Các Thánh đế có sáu tướng trạng. Đối với các Thánh đế hữu vi, sự sanh khởi được biết rõ, sự hoại diệt được biết rõ, sự biến dị của cái đang tồn tại được biết rõ. Đối với Thánh đế vô vi, sự sanh khởi không được biết rõ, sự hoại diệt không được biết rõ, sự biến dị của cái đang tồn tại không được biết rõ – đây là sáu tướng trạng của các Thánh đế.
Saccānaṃ kati lakkhaṇāni? Saccānaṃ dvādasa lakkhaṇāni. Dukkhasaccassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṃ paññāyati; samudayasaccassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṃ paññāyati; maggasaccassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṃ paññāyati; nirodhasaccassa na uppādo paññāyati, na vayo paññāyati, na ṭhitassa aññathattaṃ paññāyati – saccānaṃ imāni dvādasa lakkhaṇāni.
How many characteristics do the truths have? The truths have twelve characteristics. For the truth of suffering, arising is discerned, passing away is discerned, and alteration while persisting is discerned. For the truth of origin, arising is discerned, passing away is discerned, and alteration while persisting is discerned. For the truth of the path, arising is discerned, passing away is discerned, and alteration while persisting is discerned. For the truth of cessation, arising is not discerned, passing away is not discerned, nor is alteration while persisting discerned. These are the twelve characteristics of the truths.
Các Thánh đế có bao nhiêu tướng trạng? Các Thánh đế có mười hai tướng trạng. Đối với Khổ đế, sự sanh khởi được biết rõ, sự hoại diệt được biết rõ, sự biến dị của cái đang tồn tại được biết rõ. Đối với Tập đế, sự sanh khởi được biết rõ, sự hoại diệt được biết rõ, sự biến dị của cái đang tồn tại được biết rõ. Đối với Đạo đế, sự sanh khởi được biết rõ, sự hoại diệt được biết rõ, sự biến dị của cái đang tồn tại được biết rõ. Đối với Diệt đế, sự sanh khởi không được biết rõ, sự hoại diệt không được biết rõ, sự biến dị của cái đang tồn tại không được biết rõ – đây là mười hai tướng trạng của các Thánh đế.
Catunnaṃ saccānaṃ kati kusalā, kati akusalā, kati abyākatā? Samudayasaccaṃ akusalaṃ, maggasaccaṃ kusalaṃ, nirodhasaccaṃ abyākataṃ. Dukkhasaccaṃ siyā kusalaṃ, siyā akusalaṃ, siyā abyākataṃ.
Of the four truths, how many are wholesome, how many unwholesome, and how many indeterminate? The truth of origin is unwholesome, the truth of the path is wholesome, and the truth of cessation is indeterminate. The truth of suffering may be wholesome, may be unwholesome, or may be indeterminate.
Trong bốn Thánh đế, có bao nhiêu là thiện, bao nhiêu là bất thiện, bao nhiêu là vô ký? Tập đế là bất thiện, Đạo đế là thiện, Diệt đế là vô ký. Khổ đế có khi là thiện, có khi là bất thiện, có khi là vô ký.
Siyā tīṇi saccāni ekasaccena saṅgahitāni, ekasaccaṃ tīhi saccehi saṅgahitaṃ? Vatthuvasena pariyāyena siyāti. Kathañca siyā? Yaṃ dukkhasaccaṃ akusalaṃ, samudayasaccaṃ akusalaṃ – evaṃ akusalaṭṭhena dve saccāni ekasaccena saṅgahitāni, ekasaccaṃ dvīhi saccehi saṅgahitaṃ. Yaṃ dukkhasaccaṃ kusalaṃ, maggasaccaṃ kusalaṃ – evaṃ kusalaṭṭhena dve saccāni ekasaccena saṅgahitāni, ekasaccaṃ dvīhi saccehi saṅgahitaṃ. Yaṃ dukkhasaccaṃ abyākataṃ, nirodhasaccaṃ abyākataṃ – evaṃ abyākataṭṭhena dve saccāni ekasaccena saṅgahitāni, ekasaccaṃ dvīhi saccehi saṅgahitaṃ. Evaṃ siyā tīṇi saccāni ekasaccena saṅgahitāni, ekasaccaṃ tīhi saccehi saṅgahitaṃ vatthuvasena pariyāyenāti.
Could it be that three truths are included by one truth, and one truth by three truths? It could be, by way of basis and by way of method. And how could it be? That truth of suffering which is unwholesome, and the truth of the origin which is unwholesome—thus, in the sense of being unwholesome, two truths are included by one truth, and one truth is included by two truths. That truth of suffering which is wholesome, and the truth of the path which is wholesome—thus, in the sense of being wholesome, two truths are included by one truth, and one truth is included by two truths. That truth of suffering which is indeterminate, and the truth of cessation which is indeterminate—thus, in the sense of being indeterminate, two truths are included by one truth, and one truth is included by two truths. Thus, it could be that three truths are included by one truth, and one truth by three truths, by way of basis and by way of method.
Có thể ba sự thật được bao gồm bởi một sự thật, một sự thật được bao gồm bởi ba sự thật chăng? Do năng lực của vật và do phương pháp, điều ấy có thể xảy ra. Và điều ấy có thể xảy ra như thế nào? Sự thật về Khổ nào là bất thiện, sự thật về Tập là bất thiện – như vậy, theo nghĩa bất thiện, hai sự thật được bao gồm bởi một sự thật, một sự thật được bao gồm bởi hai sự thật. Sự thật về Khổ nào là thiện, sự thật về Đạo là thiện – như vậy, theo nghĩa thiện, hai sự thật được bao gồm bởi một sự thật, một sự thật được bao gồm bởi hai sự thật. Sự thật về Khổ nào là vô ký, sự thật về Diệt là vô ký – như vậy, theo nghĩa vô ký, hai sự thật được bao gồm bởi một sự thật, một sự thật được bao gồm bởi hai sự thật. Như vậy, có thể ba sự thật được bao gồm bởi một sự thật, một sự thật được bao gồm bởi ba sự thật do năng lực của vật và do phương pháp.
2. Dutiyasuttantapāḷi
2. The Pāḷi of the Second Discourse
2. Kinh Thứ Hai (Pāli)
13. ‘‘Pubbe me, bhikkhave †, sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi – ‘ko nu kho rūpassa assādo, ko ādīnavo, kiṃ nissaraṇaṃ; ko vedanāya assādo, ko ādīnavo, kiṃ nissaraṇaṃ; ko saññāya assādo, ko ādīnavo, kiṃ nissaraṇaṃ; ko saṅkhārānaṃ assādo, ko ādīnavo, kiṃ nissaraṇaṃ; ko viññāṇassa assādo, ko ādīnavo, kiṃ nissaraṇa’nti? Tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi – ‘yaṃ kho rūpaṃ paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ – ayaṃ rūpassa assādo. Yaṃ rūpaṃ aniccaṃ, taṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ – ayaṃ rūpassa ādīnavo. Yo rūpasmiṃ chandarāgavinayo chandarāgappahānaṃ – idaṃ rūpassa nissaraṇaṃ. Yaṃ vedanaṃ paṭicca…pe… yaṃ saññaṃ paṭicca… yaṃ saṅkhāre paṭicca… yaṃ viññāṇaṃ paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ – ayaṃ viññāṇassa assādo. Yaṃ viññāṇaṃ aniccaṃ taṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ – ayaṃ viññāṇassa ādīnavo. Yo viññāṇasmiṃ chandarāgavinayo chandarāgappahānaṃ – idaṃ viññāṇassa nissaraṇaṃ’’.
13. “Bhikkhus, before my enlightenment, when I was still an unenlightened Bodhisatta, this thought occurred to me: ‘What now is the gratification in form, what is the danger, what is the escape? What is the gratification in feeling, what is the danger, what is the escape? What is the gratification in perception, what is the danger, what is the escape? What is the gratification in volitional formations, what is the danger, what is the escape? What is the gratification in consciousness, what is the danger, what is the escape?’ Then, Bhikkhus, this thought occurred to me: ‘The pleasure and joy that arise in dependence on form—this is the gratification in form. That form is impermanent, suffering, and subject to change—this is the danger in form. The removal of desire and lust, the abandonment of desire and lust for form—this is the escape from form. The pleasure and joy that arise in dependence on feeling… in dependence on perception… in dependence on volitional formations… The pleasure and joy that arise in dependence on consciousness—this is the gratification in consciousness. That consciousness is impermanent, suffering, and subject to change—this is the danger in consciousness. The removal of desire and lust, the abandonment of desire and lust for consciousness—this is the escape from consciousness.’”
13. Này các Tỳ khưu, trước khi giác ngộ, khi chưa chánh đẳng giác, khi còn là Bồ-tát, Ta đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Thế nào là vị ngọt của sắc, thế nào là sự nguy hại, thế nào là sự thoát ly? Thế nào là vị ngọt của thọ, thế nào là sự nguy hại, thế nào là sự thoát ly? Thế nào là vị ngọt của tưởng, thế nào là sự nguy hại, thế nào là sự thoát ly? Thế nào là vị ngọt của các hành, thế nào là sự nguy hại, thế nào là sự thoát ly? Thế nào là vị ngọt của thức, thế nào là sự nguy hại, thế nào là sự thoát ly?’ Này các Tỳ khưu, Ta đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Do duyên sắc, lạc và hỷ nào sanh khởi – đây là vị ngọt của sắc. Sắc nào là vô thường, cái đó là khổ, có tính biến hoại – đây là sự nguy hại của sắc. Sự điều phục dục tham, sự đoạn trừ dục tham nào đối với sắc – đây là sự thoát ly khỏi sắc. Do duyên thọ... (như trên)... do duyên tưởng... do duyên các hành... Do duyên thức, lạc và hỷ nào sanh khởi – đây là vị ngọt của thức. Thức nào là vô thường, cái đó là khổ, có tính biến hoại – đây là sự nguy hại của thức. Sự điều phục dục tham, sự đoạn trừ dục tham nào đối với thức – đây là sự thoát ly khỏi thức.’
‘‘Yāvakīvañcāhaṃ, bhikkhave, imesaṃ pañcannaṃ upādānakkhandhānaṃ evaṃ assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṃ nābbhaññāsiṃ, neva tāvāhaṃ, bhikkhave, sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya ‘anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho’ti paccaññāsiṃ † yato ca khvāhaṃ, bhikkhave, imesaṃ pañcannaṃ upādānakkhandhānaṃ evaṃ assādañca assādato ādīnavañca ādīnavato nissaraṇañca nissaraṇato yathābhūtaṃ abbhaññāsiṃ, athāhaṃ, bhikkhave, ‘sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho’ti paccaññāsiṃ. Ñāṇañca pana me dassanaṃ udapādi – ‘akuppā me vimutti †. Ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo’’’ti.
“Bhikkhus, for as long as I did not thoroughly know as they really are the gratification as gratification, the danger as danger, and the escape as escape in the case of these five aggregates of clinging, for that long, Bhikkhus, I did not claim to have fully awakened to the unsurpassed, perfect enlightenment in this world with its devas, Māra, and Brahmā, among this generation with its ascetics and brahmins, with its devas and humans. But when, Bhikkhus, I thoroughly knew as they really are the gratification as gratification, the danger as danger, and the escape as escape in the case of these five aggregates of clinging, then, Bhikkhus, I claimed to have fully awakened to the unsurpassed, perfect enlightenment in this world with its devas, Māra, and Brahmā, among this generation with its ascetics and brahmins, with its devas and humans. And knowledge and vision arose in me: ‘Unshakable is my liberation. This is the final birth. Now there is no more renewed existence.’”
Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào Ta chưa thắng tri như thật về vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự thoát ly là sự thoát ly của năm thủ uẩn này, thì chừng đó, này các Tỳ khưu, trong thế giới cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với loài người và chư Thiên, Ta đã không xác nhận rằng ‘Ta đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Giác’. Và này các Tỳ khưu, khi nào Ta đã thắng tri như thật về vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hại là sự nguy hại, sự thoát ly là sự thoát ly của năm thủ uẩn này, thì khi ấy, này các Tỳ khưu, trong thế giới cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với loài người và chư Thiên, Ta đã xác nhận rằng ‘Ta đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Giác’. Và tri kiến đã khởi lên nơi Ta: ‘Tâm giải thoát của Ta là bất động. Đây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa.’”
3. Dutiyasuttantaniddeso
3. Exposition of the Second Sutta
3. Phần Chú Giải Kinh Thứ Hai
14. Yaṃ rūpaṃ paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ, ayaṃ rūpassa assādoti – pahānappaṭivedho samudayasaccaṃ. Yaṃ rūpaṃ aniccaṃ taṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, ayaṃ rūpassa ādīnavoti – pariññāpaṭivedho dukkhasaccaṃ. Yo rūpasmiṃ chandarāgavinayo chandarāgappahānaṃ, idaṃ rūpassa nissaraṇanti – sacchikiriyāpaṭivedho nirodhasaccaṃ. Yā imesu tīsu ṭhānesu diṭṭhi saṅkappo vācā kammanto ājīvo vāyāmo sati samādhi – bhāvanāpaṭivedho maggasaccaṃ.
14. “Whatever pleasure and joy arise in dependence on form, this is the gratification of form”—this is penetration by abandoning, the truth of the origin. “That form which is impermanent is suffering and subject to change, this is the danger of form”—this is penetration by full understanding, the truth of suffering. “Whatever is the removal of desire and lust for form, the abandonment of desire and lust, this is the escape from form”—this is penetration by realization, the truth of cessation. Whatever in these three instances is right view, right thought, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right concentration—this is penetration by development, the truth of the path.
14. ‘Do duyên sắc, lạc và hỷ sanh khởi, đây là vị ngọt của sắc’ – sự thông suốt bằng cách đoạn trừ này là Sự thật về Tập. ‘Sắc nào là vô thường, cái đó là khổ, có tính biến hoại, đây là sự nguy hại của sắc’ – sự thông suốt bằng cách liễu tri này là Sự thật về Khổ. ‘Sự điều phục dục tham, sự đoạn trừ dục tham nào đối với sắc, đây là sự thoát ly khỏi sắc’ – sự thông suốt bằng cách chứng ngộ này là Sự thật về Diệt. Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định nào có trong ba trường hợp này – sự thông suốt bằng cách tu tập này là Sự thật về Đạo.
Yaṃ vedanaṃ paṭicca…pe… yaṃ saññaṃ paṭicca… yaṃ saṅkhāre paṭicca… yaṃ viññāṇaṃ paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ, ayaṃ viññāṇassa assādoti – pahānappaṭivedho samudayasaccaṃ. Yaṃ viññāṇaṃ aniccaṃ taṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, ayaṃ viññāṇassa ādīnavoti – pariññāpaṭivedho dukkhasaccaṃ. Yo viññāṇasmiṃ chandarāgavinayo chandarāgappahānaṃ, idaṃ viññāṇassa nissaraṇanti – sacchikiriyāpaṭivedho nirodhasaccaṃ. Yā imesu tīsu ṭhānesu diṭṭhi saṅkappo vācā kammanto ājīvo vāyāmo sati samādhi – bhāvanāpaṭivedho maggasaccaṃ.
Whatever pleasure and joy arise in dependence on feeling … on perception … on volitional formations … on consciousness, this is the gratification in consciousness”—this is penetration by abandoning, the truth of the origin. “That consciousness is impermanent, suffering, and subject to change, this is the danger in consciousness”—this is penetration by full understanding, the truth of suffering. “The removal of desire and lust, the abandonment of desire and lust for consciousness, this is the escape from consciousness”—this is penetration by realization, the truth of cessation. Whatever view, thought, speech, action, livelihood, effort, mindfulness, and concentration pertain to these three instances—this is penetration by development, the truth of the path.
Do duyên thọ... (như trên)... do duyên tưởng... do duyên các hành... ‘Do duyên thức, lạc và hỷ sanh khởi, đây là vị ngọt của thức’ – sự thông suốt bằng cách đoạn trừ này là Sự thật về Tập. ‘Thức nào là vô thường, cái đó là khổ, có tính biến hoại, đây là sự nguy hại của thức’ – sự thông suốt bằng cách liễu tri này là Sự thật về Khổ. ‘Sự điều phục dục tham, sự đoạn trừ dục tham nào đối với thức, đây là sự thoát ly khỏi thức’ – sự thông suốt bằng cách chứng ngộ này là Sự thật về Diệt. Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định nào có trong ba trường hợp này – sự thông suốt bằng cách tu tập này là Sự thật về Đạo.
15. Saccanti katihākārehi saccaṃ? Esanaṭṭhena, pariggahaṭṭhena, paṭivedhaṭṭhena. Kathaṃ esanaṭṭhena saccaṃ? Jarāmaraṇaṃ kiṃnidānaṃ, kiṃsamudayaṃ, kiṃjātikaṃ, kiṃpabhavanti – evaṃ esanaṭṭhena saccaṃ. Jarāmaraṇaṃ jātinidānaṃ, jātisamudayaṃ, jātijātikaṃ, jātippabhavanti – evaṃ pariggahaṭṭhena saccaṃ. Jarāmaraṇañca pajānāti, jarāmaraṇasamudayañca pajānāti, jarāmaraṇanirodhañca pajānāti, jarāmaraṇanirodhagāminiṃ paṭipadañca pajānāti – evaṃ paṭivedhaṭṭhena saccaṃ.
15. In how many ways is something a truth? By way of seeking, by way of comprehension, and by way of penetration. How is it a truth by way of seeking? ‘Aging-and-death: what is its condition, what is its origin, what is its birth, what is its source?’ Thus it is a truth by way of seeking. ‘Aging-and-death has birth as its condition, birth as its origin, birth as its birth, birth as its source.’ Thus it is a truth by way of comprehension. ‘One discerns aging-and-death, and one discerns the origin of aging-and-death, and one discerns the cessation of aging-and-death, and one discerns the path leading to the cessation of aging-and-death.’ Thus it is a truth by way of penetration.
15. Trong từ ‘sự thật’, do bao nhiêu phương diện mà được gọi là sự thật? Do ý nghĩa tìm cầu, do ý nghĩa nắm bắt, do ý nghĩa thông suốt. Thế nào là sự thật theo ý nghĩa tìm cầu? ‘Già-chết có cái gì làm nhân duyên, có cái gì làm cho sanh khởi, có cái gì làm cho phát sanh, có cái gì làm nguồn gốc?’ – như vậy là sự thật theo ý nghĩa tìm cầu. ‘Già-chết có sanh làm nhân duyên, có sanh làm cho sanh khởi, có sanh làm cho phát sanh, có sanh làm nguồn gốc’ – như vậy là sự thật theo ý nghĩa nắm bắt. Vị ấy biết rõ già-chết, biết rõ sự sanh khởi của già-chết, biết rõ sự đoạn diệt của già-chết, và biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của già-chết – như vậy là sự thật theo ý nghĩa thông suốt.
Jāti kiṃnidānā, kiṃsamudayā, kiṃjātikā, kiṃpabhavāti – evaṃ esanaṭṭhena saccaṃ. Jāti bhavanidānā, bhavasamudayā, bhavajātikā, bhavappabhavāti – evaṃ pariggahaṭṭhena saccaṃ. Jātiñca pajānāti, jātisamudayañca pajānāti, jātinirodhañca pajānāti, jātinirodhagāminiṃ paṭipadañca pajānāti – evaṃ paṭivedhaṭṭhena saccaṃ.
‘Birth: what is its condition, what is its origin, what is its birth, what is its source?’ Thus it is a truth by way of seeking. ‘Birth has becoming as its condition, becoming as its origin, becoming as its birth, becoming as its source.’ Thus it is a truth by way of comprehension. ‘One discerns birth, and one discerns the origin of birth, and one discerns the cessation of birth, and one discerns the path leading to the cessation of birth.’ Thus it is a truth by way of penetration.
Sanh có gì làm nhân, có gì làm nhân sanh, có gì làm nguồn gốc, có gì làm khởi nguyên? – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa tìm cầu. Sanh có hữu làm nhân, có hữu làm nhân sanh, có hữu làm nguồn gốc, có hữu làm khởi nguyên – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thâu tóm. Vị ấy biết rõ sanh, biết rõ nhân sanh của sanh, biết rõ sự diệt của sanh, và biết rõ con đường đưa đến sự diệt của sanh – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thấu triệt.
Bhavo kiṃnidāno, kiṃsamudayo, kiṃjātiko, kiṃpabhavoti – evaṃ esanaṭṭhena saccaṃ. Bhavo upādānanidāno, upādānasamudayo, upādānajātiko, upādānappabhavoti – evaṃ pariggahaṭṭhena saccaṃ. Bhavaṃ ca pajānāti, bhavasamudayañca pajānāti, bhavanirodhañca pajānāti, bhavanirodhagāminiṃ paṭipadañca pajānāti – evaṃ paṭivedhaṭṭhena saccaṃ.
‘What is the cause of becoming, what is its origin, what is its birth, what is its source?’ Thus, in the sense of seeking, it is a truth. ‘Becoming has clinging as its cause, clinging as its origin, clinging as its birth, clinging as its source.’ Thus, in the sense of comprehending, it is a truth. ‘One understands becoming, one understands the origin of becoming, one understands the cessation of becoming, and one understands the path leading to the cessation of becoming.’ Thus, in the sense of penetration, it is a truth.
Hữu có gì làm nhân, có gì làm nhân sanh, có gì làm nguồn gốc, có gì làm khởi nguyên? – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa tìm cầu. Hữu có thủ làm nhân, có thủ làm nhân sanh, có thủ làm nguồn gốc, có thủ làm khởi nguyên – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thâu tóm. Vị ấy biết rõ hữu, biết rõ nhân sanh của hữu, biết rõ sự diệt của hữu, và biết rõ con đường đưa đến sự diệt của hữu – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thấu triệt.
Upādānaṃ kiṃnidānaṃ, kiṃsamudayaṃ, kiṃjātikaṃ, kiṃpabhavanti – evaṃ esanaṭṭhena saccaṃ. Upādānaṃ taṇhānidānaṃ, taṇhāsamudayaṃ, taṇhājātikaṃ, taṇhāpabhavanti – evaṃ pariggahaṭṭhena saccaṃ. Upādānañca pajānāti, upādānasamudayañca pajānāti, upādānanirodhañca pajānāti upādānanirodhagāminiṃ paṭipadañca pajānāti – evaṃ paṭivedhaṭṭhena saccaṃ.
‘What is the cause of clinging, what is its origin, what is its birth, what is its source?’ Thus, in the sense of seeking, it is a truth. ‘Clinging has craving as its cause, craving as its origin, craving as its birth, craving as its source.’ Thus, in the sense of comprehending, it is a truth. ‘One understands clinging, one understands the origin of clinging, one understands the cessation of clinging, and one understands the path leading to the cessation of clinging.’ Thus, in the sense of penetration, it is a truth.
Thủ có gì làm nhân, có gì làm nhân sanh, có gì làm nguồn gốc, có gì làm khởi nguyên? – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa tìm cầu. Thủ có ái làm nhân, có ái làm nhân sanh, có ái làm nguồn gốc, có ái làm khởi nguyên – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thâu tóm. Vị ấy biết rõ thủ, biết rõ nhân sanh của thủ, biết rõ sự diệt của thủ, và biết rõ con đường đưa đến sự diệt của thủ – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thấu triệt.
Taṇhā kiṃnidānā, kiṃsamudayā, kiṃjātikā, kiṃpabhavāti – evaṃ esanaṭṭhena saccaṃ. Taṇhā vedanānidānā, vedanāsamudayā, vedanājātikā, vedanāpabhavāti – evaṃ pariggahaṭṭhena saccaṃ. Taṇhañca pajānāti, taṇhāsamudayañca pajānāti, taṇhānirodhañca pajānāti, taṇhānirodhagāminiṃ paṭipadañca pajānāti – evaṃ paṭivedhaṭṭhena saccaṃ.
‘What is the cause of craving, what is its origin, what is its birth, what is its source?’ Thus, in the sense of seeking, it is a truth. ‘Craving has feeling as its cause, feeling as its origin, feeling as its birth, feeling as its source.’ Thus, in the sense of comprehending, it is a truth. ‘One understands craving, one understands the origin of craving, one understands the cessation of craving, and one understands the path leading to the cessation of craving.’ Thus, in the sense of penetration, it is a truth.
Ái có gì làm nhân, có gì làm nhân sanh, có gì làm nguồn gốc, có gì làm khởi nguyên? – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa tìm cầu. Ái có thọ làm nhân, có thọ làm nhân sanh, có thọ làm nguồn gốc, có thọ làm khởi nguyên – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thâu tóm. Vị ấy biết rõ ái, biết rõ nhân sanh của ái, biết rõ sự diệt của ái, và biết rõ con đường đưa đến sự diệt của ái – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thấu triệt.
Vedanā kiṃnidānā, kiṃsamudayā, kiṃjātikā, kiṃpabhavāti – evaṃ esanaṭṭhena saccaṃ. Vedanā phassanidānā, phassasamudayā, phassajātikā, phassappabhavāti – evaṃ pariggahaṭṭhena saccaṃ. Vedanañca pajānāti, vedanāsamudayañca pajānāti, vedanānirodhañca pajānāti, vedanānirodhagāminiṃ paṭipadañca pajānāti – evaṃ paṭivedhaṭṭhena saccaṃ.
‘What is the cause of feeling, what is its origin, what is its birth, what is its source?’ Thus, in the sense of seeking, it is a truth. ‘Feeling has contact as its cause, contact as its origin, contact as its birth, contact as its source.’ Thus, in the sense of comprehending, it is a truth. ‘One understands feeling, one understands the origin of feeling, one understands the cessation of feeling, and one understands the path leading to the cessation of feeling.’ Thus, in the sense of penetration, it is a truth.
Thọ có gì làm nhân, có gì làm nhân sanh, có gì làm nguồn gốc, có gì làm khởi nguyên? – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa tìm cầu. Thọ có xúc làm nhân, có xúc làm nhân sanh, có xúc làm nguồn gốc, có xúc làm khởi nguyên – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thâu tóm. Vị ấy biết rõ thọ, biết rõ nhân sanh của thọ, biết rõ sự diệt của thọ, và biết rõ con đường đưa đến sự diệt của thọ – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thấu triệt.
Phasso kiṃnidāno, kiṃsamudayo, kiṃjātiko, kiṃpabhavoti – evaṃ esanaṭṭhena saccaṃ. Phasso saḷāyatananidāno, saḷāyatanasamudayo, saḷāyatanajātiko, saḷāyatanappabhavoti – evaṃ pariggahaṭṭhena saccaṃ. Phassañca pajānāti, phassasamudayañca pajānāti, phassanirodhañca pajānāti, phassanirodhagāminiṃ paṭipadañca pajānāti – evaṃ paṭivedhaṭṭhena saccaṃ.
‘Contact: what is its cause, what is its origin, what is its birth, what is its source?’ Thus, it is a truth in the sense of seeking. ‘Contact has the six sense bases as its cause, the six sense bases as its origin, the six sense bases as its birth, the six sense bases as its source.’ Thus, it is a truth in the sense of comprehension. One understands contact, one understands the origin of contact, one understands the cessation of contact, and one understands the path leading to the cessation of contact. Thus, it is a truth in the sense of penetration.
Xúc có gì làm nhân, có gì làm nhân sanh, có gì làm nguồn gốc, có gì làm khởi nguyên? – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa tìm cầu. Xúc có sáu xứ làm nhân, có sáu xứ làm nhân sanh, có sáu xứ làm nguồn gốc, có sáu xứ làm khởi nguyên – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thâu tóm. Vị ấy biết rõ xúc, biết rõ nhân sanh của xúc, biết rõ sự diệt của xúc, và biết rõ con đường đưa đến sự diệt của xúc – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thấu triệt.
Saḷāyatanaṃ kiṃnidānaṃ, kiṃsamudayaṃ, kiṃjātikaṃ, kiṃpabhavanti – evaṃ esanaṭṭhena saccaṃ. Saḷāyatanaṃ nāmarūpanidānaṃ, nāmarūpasamudayaṃ, nāmarūpajātikaṃ, nāmarūpappabhavanti – evaṃ pariggahaṭṭhena saccaṃ. Saḷāyatanañca pajānāti, saḷāyatanasamudayañca pajānāti, saḷāyatananirodhañca pajānāti, saḷāyatananirodhagāminiṃ paṭipadañca pajānāti – evaṃ paṭivedhaṭṭhena saccaṃ.
‘The six sense bases: what is their cause, what is their origin, what is their birth, what is their source?’ Thus, it is a truth in the sense of seeking. ‘The six sense bases have name-and-form as their cause, name-and-form as their origin, name-and-form as their birth, name-and-form as their source.’ Thus, it is a truth in the sense of comprehension. One understands the six sense bases, one understands the origin of the six sense bases, one understands the cessation of the six sense bases, and one understands the path leading to the cessation of the six sense bases. Thus, it is a truth in the sense of penetration.
Sáu xứ có gì làm nhân, có gì làm nhân sanh, có gì làm nguồn gốc, có gì làm khởi nguyên? – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa tìm cầu. Sáu xứ có danh-sắc làm nhân, có danh-sắc làm nhân sanh, có danh-sắc làm nguồn gốc, có danh-sắc làm khởi nguyên – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thâu tóm. Vị ấy biết rõ sáu xứ, biết rõ nhân sanh của sáu xứ, biết rõ sự diệt của sáu xứ, và biết rõ con đường đưa đến sự diệt của sáu xứ – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thấu triệt.
Nāmarūpaṃ kiṃnidānaṃ, kiṃsamudayaṃ, kiṃjātikaṃ, kiṃpabhavanti – evaṃ esanaṭṭhena saccaṃ. Nāmarūpaṃ viññāṇanidānaṃ, viññāṇasamudayaṃ, viññāṇajātikaṃ, viññāṇappabhavanti – evaṃ pariggahaṭṭhena saccaṃ. Nāmarūpañca pajānāti, nāmarūpasamudayañca pajānāti, nāmarūpanirodhañca pajānāti, nāmarūpanirodhagāminiṃ paṭipadañca pajānāti – evaṃ paṭivedhaṭṭhena saccaṃ.
‘Name-and-form: what is its cause, what is its origin, what is its birth, what is its source?’ Thus, it is a truth in the sense of seeking. ‘Name-and-form has consciousness as its cause, consciousness as its origin, consciousness as its birth, consciousness as its source.’ Thus, it is a truth in the sense of comprehension. One understands name-and-form, one understands the origin of name-and-form, one understands the cessation of name-and-form, and one understands the path leading to the cessation of name-and-form. Thus, it is a truth in the sense of penetration.
Danh-sắc có gì làm nhân, có gì làm nhân sanh, có gì làm nguồn gốc, có gì làm khởi nguyên? – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa tìm cầu. Danh-sắc có thức làm nhân, có thức làm nhân sanh, có thức làm nguồn gốc, có thức làm khởi nguyên – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thâu tóm. Vị ấy biết rõ danh-sắc, biết rõ nhân sanh của danh-sắc, biết rõ sự diệt của danh-sắc, và biết rõ con đường đưa đến sự diệt của danh-sắc – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thấu triệt.
Viññāṇaṃ kiṃnidānaṃ, kiṃsamudayaṃ, kiṃjātikaṃ, kiṃpabhavanti – evaṃ esanaṭṭhena saccaṃ. Viññāṇaṃ saṅkhāranidānaṃ, saṅkhārasamudayaṃ, saṅkhārajātikaṃ, saṅkhārappabhavanti – evaṃ pariggahaṭṭhena saccaṃ. Viññāṇañca pajānāti, viññāṇasamudayañca pajānāti, viññāṇanirodhañca pajānāti, viññāṇanirodhagāminiṃ paṭipadañca pajānāti – evaṃ paṭivedhaṭṭhena saccaṃ.
‘Consciousness: what is its cause, what is its origin, what is its birth, what is its source?’ Thus, it is a truth in the sense of seeking. ‘Consciousness has volitional formations as its cause, volitional formations as its origin, volitional formations as its birth, volitional formations as its source.’ Thus, it is a truth in the sense of comprehension. One understands consciousness, one understands the origin of consciousness, one understands the cessation of consciousness, and one understands the path leading to the cessation of consciousness. Thus, it is a truth in the sense of penetration.
Thức có gì làm nhân, có gì làm nhân sanh, có gì làm nguồn gốc, có gì làm khởi nguyên? – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa tìm cầu. Thức có các hành làm nhân, có các hành làm nhân sanh, có các hành làm nguồn gốc, có các hành làm khởi nguyên – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thâu tóm. Vị ấy biết rõ thức, biết rõ nhân sanh của thức, biết rõ sự diệt của thức, và biết rõ con đường đưa đến sự diệt của thức – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thấu triệt.
Saṅkhārā kiṃnidānā, kiṃsamudayā, kiṃjātikā, kiṃpabhavāti – evaṃ esanaṭṭhena saccaṃ. Saṅkhārā avijjānidānā, avijjāsamudayā, avijjājātikā, avijjāpabhavāti – evaṃ pariggahaṭṭhena saccaṃ. Saṅkhāre ca pajānāti, saṅkhārasamudayañca pajānāti, saṅkhāranirodhañca pajānāti, saṅkhāranirodhagāminiṃ paṭipadañca pajānāti – evaṃ paṭivedhaṭṭhena saccaṃ.
‘What is the source of volitional formations, what is their origin, what is their birth, what is their provenance?’—thus it is truth in the sense of searching. ‘Volitional formations have ignorance as their source, ignorance as their origin, ignorance as their birth, ignorance as their provenance’—thus it is truth in the sense of comprehension. One discerns volitional formations, and one discerns the origin of volitional formations, and one discerns the cessation of volitional formations, and one discerns the path leading to the cessation of volitional formations—thus it is truth in the sense of penetration.
Các hành có gì làm nhân, có gì làm nhân sanh, có gì làm nguồn gốc, có gì làm khởi nguyên? – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa tìm cầu. Các hành có vô minh làm nhân, có vô minh làm nhân sanh, có vô minh làm nguồn gốc, có vô minh làm khởi nguyên – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thâu tóm. Vị ấy biết rõ các hành, biết rõ nhân sanh của các hành, biết rõ sự diệt của các hành, và biết rõ con đường đưa đến sự diệt của các hành – Như vậy, đây là sự thật theo ý nghĩa thấu triệt.
16. Jarāmaraṇaṃ dukkhasaccaṃ, jāti samudayasaccaṃ, ubhinnampi nissaraṇaṃ nirodhasaccaṃ, nirodhappajānanā maggasaccaṃ. Jāti dukkhasaccaṃ, bhavo samudayasaccaṃ, ubhinnampi nissaraṇaṃ nirodhasaccaṃ, nirodhappajānanā maggasaccaṃ. Bhavo dukkhasaccaṃ, upādānaṃ samudayasaccaṃ, ubhinnampi nissaraṇaṃ nirodhasaccaṃ, nirodhappajānanā maggasaccaṃ. Upādānaṃ dukkhasaccaṃ, taṇhā samudayasaccaṃ, ubhinnampi nissaraṇaṃ nirodhasaccaṃ, nirodhappajānanā maggasaccaṃ. Taṇhā dukkhasaccaṃ, vedanā samudayasaccaṃ, ubhinnampi nissaraṇaṃ nirodhasaccaṃ, nirodhappajānanā maggasaccaṃ. Vedanā dukkhasaccaṃ, phasso samudayasaccaṃ, ubhinnampi nissaraṇaṃ nirodhasaccaṃ, nirodhappajānanā maggasaccaṃ. Phasso dukkhasaccaṃ, saḷāyatanaṃ samudayasaccaṃ, ubhinnampi nissaraṇaṃ nirodhasaccaṃ, nirodhappajānanā maggasaccaṃ. Saḷāyatanaṃ dukkhasaccaṃ, nāmarūpaṃ samudayasaccaṃ, ubhinnampi nissaraṇaṃ nirodhasaccaṃ, nirodhappajānanā maggasaccaṃ. Nāmarūpaṃ dukkhasaccaṃ, viññāṇaṃ samudayasaccaṃ, ubhinnampi nissaraṇaṃ nirodhasaccaṃ, nirodhappajānanā maggasaccaṃ. Viññāṇaṃ dukkhasaccaṃ, saṅkhārā samudayasaccaṃ, ubhinnampi nissaraṇaṃ nirodhasaccaṃ, nirodhappajānanā maggasaccaṃ. Saṅkhārā dukkhasaccaṃ, avijjā samudayasaccaṃ, ubhinnampi nissaraṇaṃ nirodhasaccaṃ, nirodhappajānanā maggasaccaṃ.
16. Aging-and-death is the truth of suffering; birth is the truth of the origin; the escape from both is the truth of cessation; the understanding of cessation is the truth of the path. Birth is the truth of suffering; becoming is the truth of the origin; the escape from both is the truth of cessation; the understanding of cessation is the truth of the path. Becoming is the truth of suffering; clinging is the truth of the origin; the escape from both is the truth of cessation; the understanding of cessation is the truth of the path. Clinging is the truth of suffering; craving is the truth of the origin; the escape from both is the truth of cessation; the understanding of cessation is the truth of the path. Craving is the truth of suffering; feeling is the truth of the origin; the escape from both is the truth of cessation; the understanding of cessation is the truth of the path. Feeling is the truth of suffering; contact is the truth of the origin; the escape from both is the truth of cessation; the understanding of cessation is the truth of the path. Contact is the truth of suffering; the six sense bases are the truth of the origin; the escape from both is the truth of cessation; the understanding of cessation is the truth of the path. The six sense bases are the truth of suffering; name-and-form is the truth of the origin; the escape from both is the truth of cessation; the understanding of cessation is the truth of the path. Name-and-form is the truth of suffering; consciousness is the truth of the origin; the escape from both is the truth of cessation; the understanding of cessation is the truth of the path. Consciousness is the truth of suffering; volitional formations are the truth of the origin; the escape from both is the truth of cessation; the understanding of cessation is the truth of the path. Volitional formations are the truth of suffering; ignorance is the truth of the origin; the escape from both is the truth of cessation; the understanding of cessation is the truth of the path.
16. Già-chết là khổ đế, sanh là tập đế, sự thoát ly cả hai là diệt đế, sự liễu tri về diệt là đạo đế. Sanh là khổ đế, hữu là tập đế, sự thoát ly cả hai là diệt đế, sự liễu tri về diệt là đạo đế. Hữu là khổ đế, thủ là tập đế, sự thoát ly cả hai là diệt đế, sự liễu tri về diệt là đạo đế. Thủ là khổ đế, ái là tập đế, sự thoát ly cả hai là diệt đế, sự liễu tri về diệt là đạo đế. Ái là khổ đế, thọ là tập đế, sự thoát ly cả hai là diệt đế, sự liễu tri về diệt là đạo đế. Thọ là khổ đế, xúc là tập đế, sự thoát ly cả hai là diệt đế, sự liễu tri về diệt là đạo đế. Xúc là khổ đế, sáu xứ là tập đế, sự thoát ly cả hai là diệt đế, sự liễu tri về diệt là đạo đế. Sáu xứ là khổ đế, danh-sắc là tập đế, sự thoát ly cả hai là diệt đế, sự liễu tri về diệt là đạo đế. Danh-sắc là khổ đế, thức là tập đế, sự thoát ly cả hai là diệt đế, sự liễu tri về diệt là đạo đế. Thức là khổ đế, các hành là tập đế, sự thoát ly cả hai là diệt đế, sự liễu tri về diệt là đạo đế. Các hành là khổ đế, vô minh là tập đế, sự thoát ly cả hai là diệt đế, sự liễu tri về diệt là đạo đế.
Jarāmaraṇaṃ siyā dukkhasaccaṃ, siyā samudayasaccaṃ, ubhinnampi nissaraṇaṃ nirodhasaccaṃ, nirodhappajānanā maggasaccaṃ. Jāti siyā dukkhasaccaṃ, siyā samudayasaccaṃ…pe… bhavo siyā dukkhasaccaṃ, siyā samudayasaccaṃ, ubhinnampi nissaraṇaṃ nirodhasaccaṃ, nirodhappajānanā maggasaccanti.
Aging-and-death may be the truth of suffering, may be the truth of the origin; the escape from both is the truth of cessation; the understanding of cessation is the truth of the path. Birth may be the truth of suffering, may be the truth of the origin… and so on… becoming may be the truth of suffering, may be the truth of the origin; the escape from both is the truth of cessation; the understanding of cessation is the truth of the path.
Già-chết có khi là khổ đế, có khi là tập đế, sự thoát ly cả hai là diệt đế, sự liễu tri về diệt là đạo đế. Sanh có khi là khổ đế, có khi là tập đế ...v.v... hữu có khi là khổ đế, có khi là tập đế, sự thoát ly cả hai là diệt đế, sự liễu tri về diệt là đạo đế.
Bhāṇavāro.
The Recitation Section.
Phần tụng đọc.
Saccakathā niṭṭhitā.
The Discourse on the Truths is finished.
Dứt phần luận về các sự thật.