Bản dịch
PS 2.1 — Giảng về sự Kết Hợp Chung
2.1. Yuganaddhakathā
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
Tôi đã được nghe như vầy: Một thời, đại đức Ānanda ngụ tại Kosambī, tu viện Ghosita. Chính ở tại nơi ấy, đại đức Ānanda đã bảo các vị tỳ khưu rằng: “Này các đại đức tỳ khưu.” “Thưa đại đức.” Các vị tỳ khưu ấy đã đáp lại đại đức Ānanda. Đại đức Ānanda đã nói điều này:
- Này các đại đức, bất cứ vị tỳ khưu hoặc tỳ khưu ni nào tuyên bố về phẩm vị A-la-hán ở sự hiện diện của tôi, tất cả đều do bốn đạo lộ hoặc do một đạo lộ nào đó của bốn đạo lộ này. Do bốn (đạo lộ) gì?
Này các đại đức, ở đây vị tỳ khưu tu tập minh sát có chỉ tịnh đi trước. Trong khi vị ấy tu tập minh sát có chỉ tịnh đi trước, đạo lộ được hình thành (cho vị ấy). Vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy. Trong khi vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy, các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt (đối với vị ấy).
Này các đại đức, còn có điều khác nữa là vị tỳ khưu tu tập chỉ tịnh có minh sát đi trước. Trong khi vị ấy tu tập chỉ tịnh có minh sát đi trước, đạo lộ được hình thành (cho vị ấy). Vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy. Trong khi vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy, các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt (đối với vị ấy).
Này các đại đức, còn có điều khác nữa là vị tỳ khưu tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung. Trong khi vị ấy tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung, đạo lộ được hình thành (cho vị ấy). Vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy. Trong khi vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy, các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt (đối với vị ấy).
Này các đại đức, còn có điều khác nữa là (trường hợp) tâm của vị tỳ khưu bị khuấy động bởi sự phóng dật đối với các pháp. Này các đại đức, lúc tâm ấy trụ lại, tập trung lại, được chuyên nhất, được định ở chính nội phần, lúc ấy là thời điểm; đạo lộ được hình thành cho vị ấy. Vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy. Trong khi vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy, các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt (đối với vị ấy).
Này các đại đức, bất cứ vị tỳ khưu hoặc tỳ khưu ni nào tuyên bố về phẩm vị A-la-hán ở sự hiện diện của tôi, tất cả đều do bốn đạo lộ này hoặc do một đạo lộ nào đó của bốn đạo lộ này.
Tu tập minh sát có chỉ tịnh đi trước là (có ý nghĩa) thế nào? Do tác động của sự thoát ly, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định. Về các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy, theo ý nghĩa của sự quán xét là vô thường là minh sát, theo ý nghĩa của sự quán xét là khổ não là minh sát, theo ý nghĩa của sự quán xét là vô ngã là minh sát. Như thế là chỉ tịnh trước, minh sát sau. Vì thế được nói rằng: “Tu tập minh sát có chỉ tịnh đi trước.”
Tu tập: Có bốn sự tu tập: là sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy, là sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các quyền, là sự tu tập theo ý nghĩa khởi động tinh tấn (thích hợp) nhằm đạt đến giải thoát Niết Bàn, là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.
Đạo lộ được hình thành: Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? Chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức là đạo lộ được hình thành, chánh tư duy theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh) là đạo lộ được hình thành, chánh ngữ theo ý nghĩa gìn giữ là đạo lộ được hình thành, chánh nghiệp theo ý nghĩa nguồn sanh khởi là đạo lộ được hình thành, chánh mạng theo ý nghĩa trong sạch là đạo lộ được hình thành, chánh tinh tấn theo ý nghĩa ra sức là đạo lộ được hình thành, chánh niệm theo ý nghĩa thiết lập là đạo lộ được hình thành, chánh định theo ý nghĩa không tản mạn là đạo lộ được hình thành. Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế.
‘Vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy.’ Rèn luyện: Rèn luyện là (có ý nghĩa) thế nào? Trong khi hướng tâm vị ấy rèn luyện, trong khi nhận biết vị ấy rèn luyện, trong khi nhận thấy vị ấy rèn luyện, trong khi quán xét lại vị ấy rèn luyện, trong khi khẳng định tâm vị ấy rèn luyện, trong khi hướng đến đức tin vị ấy rèn luyện, trong khi ra sức tinh tấn vị ấy rèn luyện, trong khi thiết lập niệm vị ấy rèn luyện, trong khi tập trung tâm vị ấy rèn luyện, trong khi nhận biết bởi tuệ vị ấy rèn luyện, trong khi biết rõ điều cần được biết rõ vị ấy rèn luyện, trong khi biết toàn diện điều cần được biết toàn diện vị ấy rèn luyện, trong khi dứt bỏ điều cần được dứt bỏ vị ấy rèn luyện, trong khi tác chứng điều cần được tác chứng vị ấy rèn luyện. Rèn luyện là (có ý nghĩa) như thế.
Tu tập: Tu tập là (có ý nghĩa) thế nào? Trong khi hướng tâm vị ấy tu tập, trong khi nhận biết vị ấy tu tập, trong khi nhận thấy vị ấy tu tập, trong khi quán xét lại vị ấy tu tập, trong khi khẳng định tâm vị ấy tu tập, trong khi hướng đến đức tin vị ấy tu tập, trong khi ra sức tinh tấn vị ấy tu tập, trong khi thiết lập niệm vị ấy tu tập, trong khi tập trung tâm vị ấy tu tập, trong khi nhận biết bởi tuệ vị ấy tu tập, trong khi biết rõ điều cần được biết rõ vị ấy tu tập, trong khi biết toàn diện điều cần được biết toàn diện vị ấy tu tập, trong khi dứt bỏ điều cần được dứt bỏ vị ấy tu tập, trong khi tu tập điều cần được tu tập vị ấy tu tập, trong khi tác chứng điều cần được tác chứng vị ấy tu tập. Tu tập là (có ý nghĩa) như thế.
Làm cho sung mãn: Làm cho sung mãn là (có ý nghĩa) thế nào? Trong khi hướng tâm vị ấy làm cho sung mãn, trong khi nhận biết vị ấy làm cho sung mãn, trong khi nhận thấy vị ấy làm cho sung mãn, trong khi quán xét lại vị ấy làm cho sung mãn, trong khi khẳng định tâm vị ấy làm cho sung mãn, trong khi hướng đến đức tin vị ấy làm cho sung mãn, trong khi ra sức tinh tấn vị ấy làm cho sung mãn, trong khi thiết lập niệm vị ấy làm cho sung mãn, trong khi tập trung tâm vị ấy làm cho sung mãn, trong khi nhận biết bởi tuệ vị ấy làm cho sung mãn, trong khi biết rõ điều cần được biết rõ vị ấy làm cho sung mãn, trong khi biết toàn diện điều cần được biết toàn diện vị ấy làm cho sung mãn, trong khi dứt bỏ điều cần được dứt bỏ vị ấy làm cho sung mãn, trong khi tu tập điều cần được tu tập vị ấy làm cho sung mãn, trong khi tác chứng điều cần được tác chứng vị ấy làm cho sung mãn. Làm cho sung mãn là (có ý nghĩa) như thế.
Trong khi vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy, các ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt (đối với vị ấy). Các ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) thế nào? Do Đạo Nhập Lưu, ba sự ràng buộc này được dứt bỏ là thân kiến, hoài nghi, sự cố chấp vào giới và nghi thức, hai ngủ ngầm này được chấm dứt là kiến ngủ ngầm, hoài nghi ngủ ngầm. Do Đạo Nhất Lai, hai sự ràng buộc này được dứt bỏ là ràng buộc của ái dục và ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, hai ngủ ngầm này được chấm dứt là ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển. Do Đạo Bất Lai, hai sự ràng buộc này được dứt bỏ là ràng buộc của ái dục và ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, hai ngủ ngầm này được chấm dứt là ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế. Do Đạo A-la-hán, năm sự ràng buộc này được dứt bỏ là ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, ba ngủ ngầm này được chấm dứt là ngã mạn ngủ ngầm, ái hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm. Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế.
Do tác động của sự không sân độc, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là định …(như trên)… Do tác động của sự nghĩ tưởng về ánh sáng, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là định …(như trên)… Có sự quán xét về từ bỏ do tác động của hơi thở vào, có sự quán xét về từ bỏ do tác động của hơi thở ra, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là định. Về các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy, theo ý nghĩa của sự quán xét là vô thường là minh sát, theo ý nghĩa của sự quán xét là khổ não là minh sát, theo ý nghĩa của sự quán xét là vô ngã là minh sát. Như thế là chỉ tịnh trước, minh sát sau. Vì thế được nói rằng: “Tu tập minh sát có chỉ tịnh đi trước.”
Tu tập: Có bốn sự tu tập: là sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy, là sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các quyền, là sự tu tập theo ý nghĩa khởi động tinh tấn (thích hợp) nhằm đạt đến giải thoát Niết Bàn, là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.
Đạo lộ được hình thành: Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? Chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức là đạo lộ được hình thành, chánh tư duy theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh) là đạo lộ được hình thành, …(như trên)… chánh định theo ý nghĩa không tản mạn là đạo lộ được hình thành. Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế.
‘Vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy.’ Rèn luyện: Rèn luyện là (có ý nghĩa) thế nào? Trong khi hướng tâm vị ấy rèn luyện, trong khi nhận biết …(nt)… trong khi tác chứng điều cần được tác chứng vị ấy rèn luyện. Rèn luyện là (có ý nghĩa) như thế.
Tu tập: Tu tập là (có ý nghĩa) thế nào? Trong khi hướng tâm vị ấy tu tập, trong khi nhận biết vị ấy tu tập …(như trên)… trong khi tác chứng điều cần được tác chứng vị ấy tu tập. Tu tập là (có ý nghĩa) như thế.
Làm cho sung mãn: Làm cho sung mãn là (có ý nghĩa) thế nào? Trong khi hướng tâm vị ấy làm cho sung mãn, trong khi nhận biết …(như trên)… trong khi tác chứng điều cần được tác chứng vị ấy làm cho sung mãn. Làm cho sung mãn là (có ý nghĩa) như thế.
Trong khi vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy, các ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt (đối với vị ấy): Các ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) thế nào? Do Đạo Nhập Lưu, ba sự ràng buộc này được dứt bỏ là thân kiến, hoài nghi, sự cố chấp vào giới và nghi thức, hai ngủ ngầm này được chấm dứt là kiến ngủ ngầm, hoài nghi ngủ ngầm. Do Đạo Nhất Lai, hai sự ràng buộc này được dứt bỏ là ràng buộc của ái dục và ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, hai ngủ ngầm này được chấm dứt là ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển. Do Đạo Bất Lai, hai sự ràng
buộc này được dứt bỏ là ràng buộc của ái dục và ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, hai ngủ ngầm này được chấm dứt là ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế. Do Đạo A-la-hán, năm sự ràng buộc này được dứt bỏ là ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, ba ngủ ngầm này được chấm dứt là ngã mạn ngủ ngầm, ái hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm. Các ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế.
Tu tập minh sát có chỉ tịnh đi trước là (có ý nghĩa) như thế.
Tu tập chỉ tịnh có minh sát đi trước là (có ý nghĩa) thế nào? Với ý nghĩa của sự quán xét là vô thường là minh sát, với ý nghĩa của sự quán xét là khổ não là minh sát, với ý nghĩa của sự quán xét là vô ngã là minh sát. Do xả ly là đối tượng của các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định. Như thế là minh sát trước, chỉ tịnh sau. Vì thế được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh có minh sát đi trước.”
Tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. Đạo lộ được hình thành: Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? …(như trên)… Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế. …(như trên)… Các ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế.
Với ý nghĩa của sự quán xét sắc là vô thường là minh sát, với ý nghĩa của sự quán xét sắc là khổ não là minh sát, với ý nghĩa của sự quán xét sắc là vô ngã là minh sát. Do xả ly là đối tượng của các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định. Như thế là minh sát trước, chỉ tịnh sau. Vì thế được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh có minh sát đi trước.”
Tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. Đạo lộ được hình thành: Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? …(như trên)… Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế. …(như trên)… Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế.
Với ý nghĩa của sự quán xét thọ … tưởng … các hành … thức … mắt … lão tử là vô thường là minh sát …(nt)… lão tử là khổ não …(nt)… lão tử là vô ngã là minh sát. Do xả ly là đối tượng của các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định. Như thế là minh sát trước, chỉ tịnh sau. Vì thế được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh có minh sát đi trước.”
Tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. Đạo lộ được hình thành: Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? …(như trên)… Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế. …(như trên)… Các ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế.
Tu tập chỉ tịnh có minh sát đi trước là (có ý nghĩa) như thế.
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung là (có ý nghĩa) thế nào? Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo 16 biểu hiện: theo ý nghĩa đối tượng, theo ý nghĩa hành xứ, theo ý nghĩa dứt bỏ, theo ý nghĩa buông bỏ, theo ý nghĩa thoát ra, theo ý nghĩa ly khai, theo ý nghĩa an tịnh, theo ý nghĩa cao quý, theo ý nghĩa được giải thoát, theo ý nghĩa vô lậu, theo ý nghĩa vượt qua, theo ý nghĩa vô tướng, theo ý nghĩa vô nguyện, theo ý nghĩa không tánh, theo ý nghĩa nhất vị, theo ý nghĩa không vượt trội, theo ý nghĩa kết hợp chung.
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa đối tượng là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định có sự diệt tận là đối tượng. Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, minh sát theo ý nghĩa quán xét có sự diệt tận là đối tượng. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa đối tượng là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa của cảnh (đối tượng).”
Tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. Đạo lộ được hình thành: Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? …(như trên)… Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế. …(như trên)… Các ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế. Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa của cảnh (đối tượng) là (có ý nghĩa) như thế.
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa hành xứ là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, minh sát theo ý nghĩa quán xét có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa hành xứ là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa hành xứ.” Tu tập: …(như trên)…
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa dứt bỏ là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ các phiền não đi cùng với phóng dật và (đang dứt bỏ) các uẩn, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang dứt bỏ các phiền não đi cùng với vô minh và (đang dứt bỏ) các uẩn, minh sát theo ý nghĩa quán xét có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa dứt bỏ là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa dứt bỏ.” …(như trên)…
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa buông bỏ là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang buông bỏ các phiền não đi cùng với phóng dật và (buông bỏ) các uẩn, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang buông bỏ các phiền não đi cùng với vô minh và (buông bỏ) các uẩn, minh sát theo ý nghĩa quán xét có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa buông bỏ là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa buông bỏ.” …(như trên)…
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa thoát ra là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang thoát ra khỏi các phiền não đi cùng với phóng dật và (thoát ra khỏi) các uẩn, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang thoát ra khỏi các phiền não đi cùng với vô minh và (thoát ra khỏi) các uẩn, minh sát theo ý nghĩa quán xét có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa thoát ra là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa thoát ra.” …(như trên)…
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa ly khai là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang ly khai các phiền não đi cùng với phóng dật và (ly khai) các uẩn, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang ly khai các phiền não đi cùng với vô minh và (ly khai) các uẩn, minh sát theo ý nghĩa quán xét có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa ly khai là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa ly khai.” …(như trên)…
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa an tịnh là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định, là an tịnh, có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, minh sát theo ý nghĩa quán xét là an tịnh có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa an tịnh là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa an tịnh.” …(như trên)…
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa cao quý là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định, là cao quý, có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, minh sát theo ý nghĩa quán xét là cao quý có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa cao quý là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa cao quý.” …(như trên)…
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa được giải thoát là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định, là được giải thoát khỏi dục lậu, có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, minh sát theo ý nghĩa quán xét là được giải thoát khỏi các vô minh lậu, có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, sự ly tham ái khỏi các tham ái là sự giải thoát của tâm, sự ly tham ái khỏi vô minh là sự giải thoát của tuệ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa được giải thoát là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa được giải thoát.” …(như trên)…
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa vô lậu là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định, là vô lậu đối với dục lậu, có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, minh sát theo ý nghĩa quán xét là vô lậu đối với vô minh lậu, có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa vô lậu là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa vô lậu.” …(như trên)…
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa vượt qua là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang vượt qua các phiền não đi cùng với phóng dật và (vượt qua) các uẩn, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang vượt qua các phiền não đi cùng với vô minh và (vượt qua) các uẩn, minh sát theo ý nghĩa quán xét có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa vượt qua là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa vượt qua.” …(như trên)..
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa vô tướng là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định, là vô tướng đối với tất cả các hiện tướng, có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, minh sát theo ý nghĩa quán xét là vô tướng đối với tất cả các hiện tướng, có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa vô tướng là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa vô tướng.” …(như trên)…
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa vô nguyện là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định, là vô nguyện đối với tất cả các nguyện ước, có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, minh sát theo ý nghĩa quán xét là vô nguyện đối với tất cả các nguyện ước, có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa vô nguyện là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa vô nguyện.” …(như trên)…
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa không tánh là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, trạng thái chuyên nhất không tán loạn của tâm là định, là không đối với tất cả các cố chấp, có sự diệt tận là hành xứ. Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, minh sát theo ý nghĩa quán xét là không đối với tất cả các cố chấp, có sự diệt tận là hành xứ. Như thế, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa không tánh là có nhất vị, được kết hợp chung, không vượt trội lẫn nhau. Vì thế, được nói rằng: “Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa không tánh.” …(như trên)…
Tu tập: Có bốn sự tu tập: là sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy, là sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các quyền, là sự tu tập theo ý nghĩa khởi động tinh tấn (thích hợp) nhằm đạt đến giải thoát Niết Bàn, là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.
Đạo lộ được hình thành: Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? …(như trên)… Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế. …(như trên)… Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế.
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo ý nghĩa không tánh là (có ý nghĩa) như thế.
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung theo 16 biểu hiện là (có ý nghĩa) như thế.
Tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung là (có ý nghĩa) như thế.
Tâm của vị tỳ khưu bị khuấy động bởi sự phóng dật đối với các pháp là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang tác ý vô thường, có ánh sáng sanh lên. (Hành giả) hướng tâm đến ánh sáng rằng: ‘Ánh sáng là pháp;’ sự tản mạn do việc ấy là phóng dật. Do sự phóng dật ấy, (hành giả), có tâm bị khuấy động, không nhận biết đúng theo thực thể về sự thiết lập là vô thường, không nhận biết đúng theo thực thể về sự thiết lập là khổ não, không nhận biết đúng theo thực thể về sự thiết lập là vô ngã. Vì thế, được nói rằng: “Tâm bị khuấy động bởi sự phóng dật đối với các pháp. Lúc ấy là thời điểm là lúc tâm ấy trụ lại, tập trung lại, được chuyên nhất, được định ngay ở nội phần.”
Đạo lộ được hình thành cho vị ấy: Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? …(như trên)… Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế. …(như trên)… Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế.
Đối với vị đang tác ý vô thường, có trí sanh lên … có hỷ sanh lên … có tịnh sanh lên … có lạc sanh lên … có sự cương quyết sanh lên … có sự ra sức sanh lên … có sự thiết lập sanh lên … có xả sanh lên … có ao ước sanh lên. (Hành giả) hướng tâm đến sự ao ước rằng: ‘Ao ước là pháp;’ sự tản mạn do việc ấy là phóng dật. Do sự phóng dật ấy, (hành giả), có tâm bị khuấy động, không nhận biết đúng theo thực thể về sự thiết lập là vô thường, không nhận biết đúng theo thực thể về sự thiết lập là khổ não, không nhận biết đúng theo thực thể về sự thiết lập là vô ngã. Vì thế, được nói rằng: “Tâm bị khuấy động bởi sự phóng dật đối với các pháp. Lúc tâm ấy trụ lại, tập trung lại, được chuyên nhất, được định ở chính nội phần, lúc ấy là thời điểm.” Đạo lộ được hình thành cho vị ấy: Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? …(như trên)… Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế. …(như trên)… Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế.
Đối với vị đang tác ý khổ não …(như trên)… Đối với vị đang tác ý vô ngã, có ánh sáng sanh lên … có trí sanh lên … có hỷ sanh lên … có tịnh sanh lên … có lạc sanh lên … có sự cương quyết sanh lên … có sự ra sức sanh lên … có sự thiết lập sanh lên … có xả sanh lên … có ao ước sanh lên. (Hành giả) hướng tâm đến sự ao ước rằng: ‘Ao ước là pháp;’ sự tản mạn do việc ấy là phóng dật. Do sự phóng dật ấy, (hành giả), có tâm bị khuấy động, không nhận biết đúng theo thực thể về sự thiết lập là vô ngã, về sự thiết lập là vô thường, về sự thiết lập là khổ não. Vì thế, được nói rằng: “Tâm bị khuấy động bởi sự phóng dật đối với các pháp …(như trên)… Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế.
Đối với vị đang tác ý sắc là vô thường …(nt)… Đối với vị đang tác ý sắc là khổ não …(nt)… Đối với vị đang tác ý sắc là vô ngã …(nt)… Đối với vị đang tác ý thọ … tưởng … các hành … thức … mắt … lão tử là vô thường …(nt)… Đối với vị đang tác ý lão tử là khổ não …(nt)… Đối với vị đang tác ý lão tử là vô ngã, có ánh sáng sanh lên … có trí sanh lên … có hỷ sanh lên … có tịnh sanh lên … có lạc sanh lên … có sự cương quyết sanh lên … có sự ra sức sanh lên … có sự thiết lập sanh lên … có xả sanh lên … có ao ước sanh lên. (Hành giả) hướng tâm đến sự ao ước rằng: ‘Ao ước là pháp;’ sự tản mạn do việc ấy là phóng dật. Do sự phóng dật ấy, (hành giả), có tâm bị khuấy động, không nhận biết đúng theo thực thể về lão tử có sự thiết lập là vô ngã, không nhận biết đúng theo thực thể về lão tử có sự thiết lập là vô thường, không nhận biết đúng theo thực thể về lão tử có sự thiết lập là khổ não. Vì thế, được nói rằng: “Tâm bị khuấy động bởi sự phóng dật đối với các pháp. Lúc ấy là thời điểm là lúc tâm ấy trụ lại, tập trung lại, được chuyên nhất, được định ngay ở nội phần.”
Đạo lộ được hình thành cho vị ấy: Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) thế nào? …(như trên)… Đạo lộ được hình thành là (có ý nghĩa) như thế. …(như trên)… Các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế.
Tâm bị khuấy động bởi sự phóng dật đối với các pháp là (có ý nghĩa) như thế.
(1) Rung động về ánh sáng, → về tuệ, và về hỷ,
về tịnh, và về lạc, bởi chúng tâm xao động,
(2) Rung động về cương quyết, ra sức, và thiết lập,
do hướng tâm đến xả, và ao ước về xả.
(3) Vị nào huân tập tuệ về mười trường hợp này
biết phóng dật do pháp không sa vào lầm lẫn.
(4) Bị tản mạn, ô nhiễm, tu tập tâm đình chỉ;
tản mạn, không ô nhiễm, tu tập bị thối thất.
(5) Tản mạn, không ô nhiễm, tu tập không thối thất,
không tản, tâm vô nhiễm tu tâm không đình chỉ.
(6) Với bốn trường hợp này, hiểu rõ mười trường hợp
thâu hẹp và khuấy động vì tản mạn của tâm.
Phần Giảng về sự Kết Hợp Chung được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ āyasmā ānando kosambiyaṃ viharati ghositārāme. Tatra kho āyasmā ānando bhikkhū āmantesi – ‘‘āvuso bhikkhavo’’ti. ‘‘Āvuso’’ti kho te bhikkhū āyasmato ānandassa paccassosuṃ. Āyasmā ānando etadavoca –
1. Thus have I heard. At one time the Venerable Ānanda was dwelling at Kosambī in Ghosita's Park. There the Venerable Ānanda addressed the bhikkhus: “Friends, bhikkhus.” “Friend,” those bhikkhus replied to the Venerable Ānanda. The Venerable Ānanda said this:
1. Tôi nghe như vầy – một thời, Tôn giả Ānanda trú ở Kosambī, tại tu viện Ghosita. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda gọi các vị tỳ khưu: “Này chư hiền tỳ khưu.” “Thưa hiền giả,” các vị tỳ khưu ấy vâng đáp Tôn giả Ānanda. Tôn giả Ānanda nói điều này:
‘‘Yo hi koci, āvuso, bhikkhu vā bhikkhunī vā mama santike arahattapattaṃ † byākaroti, sabbaso catūhi maggehi etesaṃ vā aññatarena. Katamehi catūhi?
“Friends, any bhikkhu or bhikkhunī who declares the attainment of arahantship in my presence does so entirely by these four paths, or by one of them. What are the four?
“Này chư hiền, bất cứ vị tỳ khưu hay tỳ khưu ni nào tuyên bố đã chứng đắc A-la-hán trước mặt tôi, vị ấy tuyên bố hoàn toàn bằng bốn con đường, hoặc bằng một trong những con đường này. Bằng bốn con đường nào?
‘‘Idhāvuso, bhikkhu samathapubbaṅgamaṃ vipassanaṃ bhāveti. Tassa samathapubbaṅgamaṃ vipassanaṃ bhāvayato maggo sañjāyati. So taṃ maggaṃ āsevati bhāveti bahulīkaroti †. Tassa taṃ maggaṃ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saññojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti.
“Here, friends, a bhikkhu develops insight preceded by serenity. As he is developing insight preceded by serenity, the path is generated. He cultivates, develops, and makes much of that path. For one who cultivates, develops, and makes much of that path, the fetters are abandoned and the underlying tendencies are brought to an end.
“Này chư hiền, ở đây vị tỳ khưu tu tập thiền quán với thiền chỉ đi trước. Vị ấy do tu tập thiền quán với thiền chỉ đi trước nên đạo được sanh khởi. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn đạo ấy. Vị ấy do thực hành, tu tập, làm cho sung mãn đạo ấy nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.
‘‘Puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu vipassanāpubbaṅgamaṃ samathaṃ bhāveti. Tassa vipassanāpubbaṅgamaṃ samathaṃ bhāvayato maggo sañjāyati. So taṃ maggaṃ āsevati bhāveti bahulīkaroti. Tassa taṃ maggaṃ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saññojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti.
“Furthermore, friends, a bhikkhu develops serenity preceded by insight. As he is developing serenity preceded by insight, the path is generated. He cultivates, develops, and makes much of that path. For one who cultivates, develops, and makes much of that path, the fetters are abandoned and the underlying tendencies are brought to an end.
“Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu tu tập thiền chỉ với thiền quán đi trước. Vị ấy do tu tập thiền chỉ với thiền quán đi trước nên đạo được sanh khởi. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn đạo ấy. Vị ấy do thực hành, tu tập, làm cho sung mãn đạo ấy nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.
‘‘Puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ † bhāveti. Tassa samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāvayato maggo sañjāyati. So taṃ maggaṃ āsevati bhāveti bahulīkaroti. Tassa taṃ maggaṃ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saññojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti.
“Furthermore, friends, a bhikkhu develops serenity and insight yoked together. As he is developing serenity and insight yoked together, the path is generated. He cultivates, develops, and makes much of that path. For one who cultivates, develops, and makes much of that path, the fetters are abandoned and the underlying tendencies are brought to an end.
“Lại nữa, này chư hiền, vị tỳ khưu tu tập thiền chỉ và thiền quán song hành. Vị ấy do tu tập thiền chỉ và thiền quán song hành nên đạo được sanh khởi. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn đạo ấy. Vị ấy do thực hành, tu tập, làm cho sung mãn đạo ấy nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.
‘‘Puna caparaṃ, āvuso, bhikkhuno dhammuddhaccaviggahitaṃ mānasaṃ hoti. So, āvuso, samayo yaṃ taṃ cittaṃ ajjhattameva † santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Tassa maggo sañjāyati. So taṃ maggaṃ āsevati bhāveti bahulīkaroti. Tassa taṃ maggaṃ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saññojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti.
“Furthermore, friends, a bhikkhu’s mind is seized by agitation about phenomena. There comes an occasion, friends, when his mind becomes internally steady, settles down, becomes unified, and is concentrated. The path is generated for him. He cultivates, develops, and makes much of that path. For one who cultivates, develops, and makes much of that path, the fetters are abandoned and the underlying tendencies are brought to an end.
“Lại nữa, này chư hiền, có vị tỳ khưu tâm bị trạo cử về các pháp nắm giữ. Này chư hiền, có lúc tâm ấy an trú, lắng xuống, trở nên nhất tâm, định tĩnh ngay trong nội tâm. Vị ấy do vậy nên đạo được sanh khởi. Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn đạo ấy. Vị ấy do thực hành, tu tập, làm cho sung mãn đạo ấy nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.
‘‘Yo hi koci, āvuso, bhikkhu vā bhikkhunī vā mama santike arahattapattaṃ byākaroti, sabbaso imehi catūhi maggehi, etesaṃ vā aññatarenā’’ti.
“Friends, any bhikkhu or bhikkhunī who declares the attainment of arahantship in my presence does so entirely by these four paths, or by one of them.”
“Này chư hiền, bất cứ vị tỳ khưu hay tỳ khưu ni nào tuyên bố trước mặt ta đã chứng đắc A-la-hán, là hoàn toàn do bốn con đường này, hoặc do một trong những con đường ấy.”
1. Suttantaniddeso
1. Exposition of the Discourse
1. Phần giải thích kinh
2. Kathaṃ samathapubbaṅgamaṃ vipassanaṃ bhāveti? Nekkhammavasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi. Tattha jāte dhamme aniccato anupassanaṭṭhena vipassanā, dukkhato anupassanaṭṭhena vipassanā, anattato anupassanaṭṭhena vipassanā. Iti paṭhamaṃ samatho, pacchā vipassanā. Tena vuccati – ‘‘samathapubbaṅgamaṃ vipassanaṃ bhāvetī’’ti. Bhāvetīti catasso bhāvanā – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā, indriyānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā, tadupagavīriyavāhanaṭṭhena bhāvanā, āsevanaṭṭhena bhāvanā.
2. How does one develop insight preceded by serenity? By way of renunciation, one-pointedness of mind and non-distraction is concentration. Therein, insight is in the sense of contemplating arisen phenomena as impermanent; insight is in the sense of contemplating them as suffering; insight is in the sense of contemplating them as nonself. Thus, serenity is first, insight afterwards. Therefore it is said: ‘one develops insight preceded by serenity.’ ‘Develops’ means four kinds of development: development in the sense of not overstepping the phenomena that have arisen therein; development in the sense of the faculties having a single function; development in the sense of conveying the energy appropriate to that; and development in the sense of cultivation.
2. Thế nào là tu tập thiền quán với thiền chỉ đi trước? Do năng lực của sự xuất ly, sự nhất tâm, không tán loạn của tâm được gọi là định. Ở đấy, thiền quán là với ý nghĩa quán chiếu các pháp sanh khởi là vô thường, thiền quán là với ý nghĩa quán chiếu là khổ, thiền quán là với ý nghĩa quán chiếu là vô ngã. Như vậy, trước tiên là thiền chỉ, sau đó là thiền quán. Do đó được gọi là: ‘tu tập thiền quán với thiền chỉ đi trước’. Nói ‘tu tập’ là có bốn sự tu tập: tu tập với ý nghĩa không vượt qua các pháp sanh khởi ở đấy; tu tập với ý nghĩa các căn có cùng một vị; tu tập với ý nghĩa nỗ lực tinh tấn hướng đến mục tiêu đó; tu tập với ý nghĩa thực hành lặp đi lặp lại.
Maggo sañjāyatīti kathaṃ maggo sañjāyati? Dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi maggo sañjāyati, abhiniropanaṭṭhena sammāsaṅkappo maggo sañjāyati, pariggahaṭṭhena sammāvācā maggo sañjāyati, samuṭṭhānaṭṭhena sammākammanto maggo sañjāyati, vodānaṭṭhena sammāājīvo maggo sañjāyati, paggahaṭṭhena sammāvāyāmo maggo sañjāyati, upaṭṭhānaṭṭhena sammāsati maggo sañjāyati, avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi maggo sañjāyati – evaṃ maggo sañjāyati.
‘The path is known’—how is the path known? In the sense of seeing, right view is known as the path. In the sense of applying the mind, right intention is known as the path. In the sense of encompassing, right speech is known as the path. In the sense of originating, right action is known as the path. In the sense of cleansing, right livelihood is known as the path. In the sense of exerting, right effort is known as the path. In the sense of establishing, right mindfulness is known as the path. In the sense of non-distraction, right concentration is known as the path. It is in this way that the path is known.
‘Đạo được sanh khởi’, thế nào là đạo được sanh khởi? Chánh kiến là đạo được sanh khởi với ý nghĩa thấy; chánh tư duy là đạo được sanh khởi với ý nghĩa hướng tâm; chánh ngữ là đạo được sanh khởi với ý nghĩa bao gồm; chánh nghiệp là đạo được sanh khởi với ý nghĩa khởi lên; chánh mạng là đạo được sanh khởi với ý nghĩa trong sạch; chánh tinh tấn là đạo được sanh khởi với ý nghĩa nỗ lực; chánh niệm là đạo được sanh khởi với ý nghĩa an trú; chánh định là đạo được sanh khởi với ý nghĩa không tán loạn. Như vậy là đạo được sanh khởi.
So taṃ maggaṃ āsevati bhāveti bahulīkaroti āsevatīti kathaṃ āsevati? Āvajjanto āsevati, jānanto āsevati, passanto āsevati, paccavekkhanto āsevati, cittaṃ adhiṭṭhahanto āsevati, saddhāya adhimuccanto āsevati, vīriyaṃ paggaṇhanto āsevati, satiṃ upaṭṭhāpento āsevati, cittaṃ samādahanto āsevati, paññāya pajānanto āsevati, abhiññeyyaṃ abhijānanto āsevati, pariññeyyaṃ parijānanto āsevati, pahātabbaṃ pajahanto āsevati, bhāvetabbaṃ bhāvento āsevati, sacchikātabbaṃ sacchikaronto āsevati – evaṃ āsevati.
He cultivates, develops, and makes much of that path. Herein, how does one cultivate? One cultivates by adverting, by knowing, by seeing, by reviewing, by determining with the mind, by being resolved through faith, by exerting energy, by establishing mindfulness, by composing the mind, by discerning with wisdom, by directly knowing what is to be directly known, by fully understanding what is to be fully understood, by abandoning what is to be abandoned, by developing what is to be developed, and by realizing what is to be realized. In this way, one cultivates.
Vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn đạo ấy. Nói ‘thực hành’, thế nào là thực hành? Vị ấy thực hành trong khi hướng tâm, thực hành trong khi biết, thực hành trong khi thấy, thực hành trong khi quán xét, thực hành trong khi quyết định tâm, thực hành trong khi tin tưởng với đức tin, thực hành trong khi nỗ lực tinh tấn, thực hành trong khi thiết lập niệm, thực hành trong khi định tâm, thực hành trong khi biết rõ với trí tuệ, thực hành trong khi thắng tri điều cần thắng tri, thực hành trong khi liễu tri điều cần liễu tri, thực hành trong khi đoạn tận điều cần đoạn tận, thực hành trong khi tu tập điều cần tu tập, thực hành trong khi chứng ngộ điều cần chứng ngộ. Như vậy là thực hành.
Bhāvetīti kathaṃ bhāveti? Āvajjanto bhāveti, jānanto bhāveti, passanto bhāveti, paccavekkhanto bhāveti, cittaṃ adhiṭṭhahanto bhāveti, saddhāya adhimuccanto bhāveti, vīriyaṃ paggaṇhanto bhāveti, satiṃ upaṭṭhāpento bhāveti, cittaṃ samādahanto bhāveti, paññāya pajānanto bhāveti, abhiññeyyaṃ abhijānanto bhāveti, pariññeyyaṃ parijānanto bhāveti, pahātabbaṃ pajahanto bhāveti, bhāvetabbaṃ bhāvento bhāveti, sacchikātabbaṃ sacchikaronto bhāveti – evaṃ bhāveti.
Regarding 'develops', how does one develop? One develops by adverting, by knowing, by seeing, by reviewing, by determining with the mind, by being resolved through faith, by exerting energy, by establishing mindfulness, by composing the mind, by discerning with wisdom, by directly knowing what is to be directly known, by fully understanding what is to be fully understood, by abandoning what is to be abandoned, by developing what is to be developed, and by realizing what is to be realized. In this way, one develops.
Nói ‘tu tập’, thế nào là tu tập? Vị ấy tu tập trong khi hướng tâm, tu tập trong khi biết, tu tập trong khi thấy, tu tập trong khi quán xét, tu tập trong khi quyết định tâm, tu tập trong khi tin tưởng với đức tin, tu tập trong khi nỗ lực tinh tấn, tu tập trong khi thiết lập niệm, tu tập trong khi định tâm, tu tập trong khi biết rõ với trí tuệ, tu tập trong khi thắng tri điều cần thắng tri, tu tập trong khi liễu tri điều cần liễu tri, tu tập trong khi đoạn tận điều cần đoạn tận, tu tập trong khi tu tập điều cần tu tập, tu tập trong khi chứng ngộ điều cần chứng ngộ. Như vậy là tu tập.
Bahulīkarotīti kathaṃ bahulīkaroti? Āvajjanto bahulīkaroti, jānanto bahulīkaroti, passanto bahulīkaroti, paccavekkhanto bahulīkaroti, cittaṃ adhiṭṭhahanto bahulīkaroti, saddhāya adhimuccanto bahulīkaroti, vīriyaṃ paggaṇhanto bahulīkaroti, satiṃ upaṭṭhāpento bahulīkaroti, cittaṃ samādahanto bahulīkaroti, paññāya pajānanto bahulīkaroti, abhiññeyyaṃ abhijānanto bahulīkaroti, pariññeyyaṃ parijānanto bahulīkaroti, pahātabbaṃ pajahanto bahulīkaroti, bhāvetabbaṃ bhāvento bahulīkaroti, sacchikātabbaṃ sacchikaronto bahulīkaroti – evaṃ bahulīkaroti.
Regarding 'makes much of', how does one make much of? One makes much of by adverting, by knowing, by seeing, by reviewing, by determining with the mind, by being resolved through faith, by exerting energy, by establishing mindfulness, by composing the mind, by discerning with wisdom, by directly knowing what is to be directly known, by fully understanding what is to be fully understood, by abandoning what is to be abandoned, by developing what is to be developed, and by realizing what is to be realized. In this way, one makes much of.
Nói ‘làm cho sung mãn’, thế nào là làm cho sung mãn? Vị ấy làm cho sung mãn trong khi hướng tâm, làm cho sung mãn trong khi biết, làm cho sung mãn trong khi thấy, làm cho sung mãn trong khi quán xét, làm cho sung mãn trong khi quyết định tâm, làm cho sung mãn trong khi tin tưởng với đức tin, làm cho sung mãn trong khi nỗ lực tinh tấn, làm cho sung mãn trong khi thiết lập niệm, làm cho sung mãn trong khi định tâm, làm cho sung mãn trong khi biết rõ với trí tuệ, làm cho sung mãn trong khi thắng tri điều cần thắng tri, làm cho sung mãn trong khi liễu tri điều cần liễu tri, làm cho sung mãn trong khi đoạn tận điều cần đoạn tận, làm cho sung mãn trong khi tu tập điều cần tu tập, làm cho sung mãn trong khi chứng ngộ điều cần chứng ngộ. Như vậy là làm cho sung mãn.
Tassa taṃ maggaṃ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saññojanāni pahīyanti anusayā byantīhontīti kathaṃ saññojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti? Sotāpattimaggena, sakkāyadiṭṭhi, vicikicchā, sīlabbataparāmāso – imāni tīṇi saññojanāni pahīyanti; diṭṭhānusayo, vicikicchānusayo – ime dve anusayā byantīhonti. Sakadāgāmimaggena oḷārikaṃ kāmarāgasaññojanaṃ, paṭighasaññojanaṃ – imāni dve saññojanāni pahīyanti; oḷāriko kāmarāgānusayo, paṭighānusayo – ime dve anusayā byantīhonti. Anāgāmimaggena anusahagataṃ kāmarāgasaññojanaṃ, paṭighasaññojanaṃ – imāni dve saññojanāni pahīyanti; anusahagato kāmarāgānusayo, paṭighānusayo – ime dve anusayā byantīhonti. Arahattamaggena rūparāgo, arūparāgo, māno, uddhaccaṃ, avijjā – imāni pañca saññojanāni pahīyanti; mānānusayo, bhavarāgānusayo, avijjānusayo – ime tayo anusayā byantīhonti. Evaṃ saññojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti.
For one who cultivates, develops, and makes much of that path, the fetters are abandoned and the underlying tendencies are brought to an end. How are the fetters abandoned and the underlying tendencies brought to an end? By the path of stream-entry, these three fetters are abandoned: identity view, doubt, and clinging to precepts and observances; these two underlying tendencies are brought to an end: the underlying tendency to views and the underlying tendency to doubt. By the path of the once-returner, these two fetters are abandoned: the gross fetter of sensual lust and the fetter of ill will; these two underlying tendencies are brought to an end: the gross underlying tendency to sensual lust and the underlying tendency to ill will. By the path of the non-returner, these two fetters are abandoned: the subtle fetter of sensual lust and the fetter of ill will; these two underlying tendencies are brought to an end: the subtle underlying tendency to sensual lust and the underlying tendency to ill will. By the path of arahantship, these five fetters are abandoned: lust for form, lust for the formless, conceit, restlessness, and ignorance; these three underlying tendencies are brought to an end: the underlying tendency to conceit, the underlying tendency to craving for existence, and the underlying tendency to ignorance. It is in this way that the fetters are abandoned and the underlying tendencies are brought to an end.
Đối với vị ấy, người thường hành, tu tập, thực hành nhiều lần đạo lộ ấy, các kiết sử được đoạn trừ, các tùy miên được chấm dứt. Như thế nào các kiết sử được đoạn trừ, các tùy miên được chấm dứt? Do đạo Tu-đà-hoàn, thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ – ba kiết sử này được đoạn trừ; kiến tùy miên, nghi tùy miên – hai tùy miên này được chấm dứt. Do đạo Tư-đà-hàm, dục ái kiết sử và sân kiết sử loại thô – hai kiết sử này được đoạn trừ; dục ái tùy miên và sân tùy miên loại thô – hai tùy miên này được chấm dứt. Do đạo A-na-hàm, dục ái kiết sử và sân kiết sử loại vi tế – hai kiết sử này được đoạn trừ; dục ái tùy miên và sân tùy miên loại vi tế – hai tùy miên này được chấm dứt. Do đạo A-la-hán, sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh – năm kiết sử này được đoạn trừ; mạn tùy miên, hữu ái tùy miên, vô minh tùy miên – ba tùy miên này được chấm dứt. Như vậy, các kiết sử được đoạn trừ, các tùy miên được chấm dứt.
3. Abyāpādavasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi…pe… ālokasaññāvasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi…pe… paṭinissaggānupassī assāsavasena paṭinissaggānupassī passāsavasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi. Tattha jāte dhamme aniccato anupassanaṭṭhena vipassanā, dukkhato anupassanaṭṭhena vipassanā, anattato anupassanaṭṭhena vipassanā. Iti paṭhamaṃ samatho, pacchā vipassanā. Tena vuccati – ‘‘samathapubbaṅgamaṃ vipassanaṃ bhāvetī’’ti. Bhāvetīti catasso bhāvanā – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā, indriyānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā, tadupagavīriyavāhanaṭṭhena bhāvanā, āsevanaṭṭhena bhāvanā.
3. By way of non-ill will, one-pointedness of mind and non-distraction is concentration… and so on… by way of the perception of light, one-pointedness of mind and non-distraction is concentration… and so on… by way of the in-breath of one who contemplates relinquishment, and by way of the out-breath of one who contemplates relinquishment, one-pointedness of mind and non-distraction is concentration. Therein, insight is in the sense of contemplating arisen phenomena as impermanent; insight is in the sense of contemplating them as suffering; insight is in the sense of contemplating them as non-self. Thus, serenity is first, insight afterwards. Therefore it is said: ‘One develops insight preceded by serenity.’ Regarding ‘develops,’ there are four kinds of development: development in the sense of not overstepping the phenomena that have arisen therein; development in the sense of the faculties having a single function; development in the sense of applying the energy that leads to it; and development in the sense of cultivation.
3. Do năng lực của vô sân, sự nhất tâm, không phân tán của tâm là định... v.v... Do năng lực của quang tưởng, sự nhất tâm, không phân tán của tâm là định... v.v... Do năng lực của hơi thở vô trong khi tùy quán sự từ bỏ, do năng lực của hơi thở ra trong khi tùy quán sự từ bỏ, sự nhất tâm, không phân tán của tâm là định. Ở đây, đối với các pháp đã sanh khởi, tuệ quán là theo ý nghĩa tùy quán là vô thường, tuệ quán là theo ý nghĩa tùy quán là khổ, tuệ quán là theo ý nghĩa tùy quán là vô ngã. Như vậy, trước tiên là chỉ, sau đó là quán. Do đó, được nói rằng: ‘Vị ấy tu tập tuệ quán với chỉ đi trước.’ Về ‘tu tập,’ có bốn sự tu tập: sự tu tập theo ý nghĩa không vượt qua các pháp đã sanh khởi ở đó, sự tu tập theo ý nghĩa các căn có cùng một phận sự, sự tu tập theo ý nghĩa nỗ lực tinh tấn để đạt đến điều ấy, sự tu tập theo ý nghĩa thường hành.
Maggo sañjāyatīti kathaṃ maggo sañjāyati? Dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi maggo sañjāyati, abhiniropanaṭṭhena sammāsaṅkappo maggo sañjāyati…pe… avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi maggo sañjāyati. Evaṃ maggo sañjāyati.
‘The path is known’—how is the path known? In the sense of seeing, Right View is known as the path. In the sense of applying the mind, Right Intention is known as the path… and so on… In the sense of non-distraction, Right Concentration is known as the path. In this way is the path known.
Về câu ‘đạo lộ được sanh khởi,’ đạo lộ được sanh khởi như thế nào? Chánh kiến là đạo lộ được sanh khởi theo ý nghĩa thấy, chánh tư duy là đạo lộ được sanh khởi theo ý nghĩa hướng đến... v.v... chánh định là đạo lộ được sanh khởi theo ý nghĩa không phân tán. Như vậy, đạo lộ được sanh khởi.
So taṃ maggaṃ āsevati bhāveti bahulīkaroti āsevatīti kathaṃ āsevati? Āvajjanto āsevati…pe… sacchikātabbaṃ sacchikaronto āsevati, evaṃ āsevati. Bhāvetīti kathaṃ bhāveti? Āvajjanto bhāveti, jānanto bhāveti…pe… sacchikātabbaṃ sacchikaronto bhāveti, evaṃ bhāveti. Bahulīkarotīti kathaṃ bahulīkaroti? Āvajjanto bahulīkaroti, jānanto bahulīkaroti…pe… sacchikātabbaṃ sacchikaronto bahulīkaroti, evaṃ bahulīkaroti.
He frequents, develops, and makes much of that path. How does he frequent it? By adverting, he frequents it… and so on… by realizing what is to be realized, he frequents it—thus he frequents it. How does he develop it? By adverting, he develops it; by knowing, he develops it… and so on… by realizing what is to be realized, he develops it—thus he develops it. How does he make much of it? By adverting, he makes much of it; by knowing, he makes much of it… and so on… by realizing what is to be realized, he makes much of it—thus he makes much of it.
Vị ấy thường hành, tu tập, thực hành nhiều lần đạo lộ ấy. Về ‘thường hành,’ vị ấy thường hành như thế nào? Vị ấy thường hành trong khi hướng tâm... v.v... vị ấy thường hành trong khi chứng ngộ điều cần được chứng ngộ. Như vậy, vị ấy thường hành. Về ‘tu tập,’ vị ấy tu tập như thế nào? Vị ấy tu tập trong khi hướng tâm, tu tập trong khi biết... v.v... vị ấy tu tập trong khi chứng ngộ điều cần được chứng ngộ. Như vậy, vị ấy tu tập. Về ‘thực hành nhiều lần,’ vị ấy thực hành nhiều lần như thế nào? Vị ấy thực hành nhiều lần trong khi hướng tâm, thực hành nhiều lần trong khi biết... v.v... vị ấy thực hành nhiều lần trong khi chứng ngộ điều cần được chứng ngộ. Như vậy, vị ấy thực hành nhiều lần.
Tassa taṃ maggaṃ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saññojanāni pahīyanti, anusayā byantīhontīti kathaṃ saññojanā pahīyanti, anusayā byantīhonti? Sotāpattimaggena sakkāyadiṭṭhi vicikicchā sīlabbataparāmāso – imāni tīṇi saññojanāni pahīyanti; diṭṭhānusayo, vicikicchānusayo – ime dve anusayā byantīhonti. Sakadāgāmimaggena oḷārikaṃ kāmarāgasaññojanaṃ, paṭighasaññojanaṃ – imāni dve saññojanāni pahīyanti; oḷāriko kāmarāgānusayo paṭighānusayo – ime dve anusayā byantīhonti. Anāgāmimaggena anusahagataṃ kāmarāgasaññojanaṃ, paṭighasaññojanaṃ – imāni dve saññojanāni pahīyanti; anusahagato kāmarāgānusayo, paṭighānusayo – ime dve anusayā byantīhonti. Arahattamaggena rūparāgo, arūparāgo, māno, uddhaccaṃ, avijjā – imāni pañca saññojanāni pahīyanti; mānānusayo, bhavarāgānusayo, avijjānusayo – ime tayo anusayā byantīhonti. Evaṃ saññojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti. Evaṃ samathapubbaṅgamaṃ vipassanaṃ bhāveti.
For one who frequents, develops, and makes much of that path, the fetters are abandoned and the underlying tendencies come to an end. How are the fetters abandoned and the underlying tendencies come to an end? By the path of stream-entry, these three fetters are abandoned: identity view, doubt, and adherence to rules and observances. These two underlying tendencies come to an end: the underlying tendency to views and the underlying tendency to doubt. By the path of the once-returner, the coarse fetter of sensual lust and the fetter of ill will are abandoned; the coarse underlying tendency to sensual lust and the underlying tendency to ill will come to an end. By the path of the non-returner, the subtle fetter of sensual lust and the fetter of ill will are abandoned; the subtle underlying tendency to sensual lust and the underlying tendency to ill will come to an end. By the path of arahantship, these five fetters are abandoned: lust for form, lust for the formless, conceit, restlessness, and ignorance. These three underlying tendencies come to an end: the underlying tendency to conceit, the underlying tendency to lust for existence, and the underlying tendency to ignorance. Thus the fetters are abandoned and the underlying tendencies come to an end. In this way, one develops insight preceded by serenity.
Đối với vị ấy, người thường hành, tu tập, thực hành nhiều lần đạo lộ ấy, các kiết sử được đoạn trừ, các tùy miên được chấm dứt. Như thế nào các kiết sử được đoạn trừ, các tùy miên được chấm dứt? Do đạo Tu-đà-hoàn, thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ – ba kiết sử này được đoạn trừ; kiến tùy miên, nghi tùy miên – hai tùy miên này được chấm dứt. Do đạo Tư-đà-hàm, dục ái kiết sử và sân kiết sử loại thô – hai kiết sử này được đoạn trừ; dục ái tùy miên và sân tùy miên loại thô – hai tùy miên này được chấm dứt. Do đạo A-na-hàm, dục ái kiết sử và sân kiết sử loại vi tế – hai kiết sử này được đoạn trừ; dục ái tùy miên và sân tùy miên loại vi tế – hai tùy miên này được chấm dứt. Do đạo A-la-hán, sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh – năm kiết sử này được đoạn trừ; mạn tùy miên, hữu ái tùy miên, vô minh tùy miên – ba tùy miên này được chấm dứt. Như vậy, các kiết sử được đoạn trừ, các tùy miên được chấm dứt. Như vậy, vị ấy tu tập tuệ quán với chỉ đi trước.
4. Kathaṃ vipassanāpubbaṅgamaṃ samathaṃ bhāveti? Aniccato anupassanaṭṭhena vipassanā, dukkhato anupassanaṭṭhena vipassanā, anattato anupassanaṭṭhena vipassanā. Tattha jātānaṃ dhammānañca vosaggārammaṇatā † cittassa ekaggatā avikkhepo. Samādhi iti paṭhamaṃ vipassanā, pacchā samatho. Tena vuccati – ‘‘vipassanāpubbaṅgamaṃ samathaṃ bhāvetī’’ti. Bhāvetīti catasso bhāvanā – āsevanaṭṭhena bhāvanā…pe… maggo sañjāyatīti kathaṃ maggo sañjāyati…pe… evaṃ maggo sañjāyati. Evaṃ saññojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti.
4. How does one develop serenity preceded by insight? Insight is in the sense of repeatedly contemplating as impermanent; insight is in the sense of repeatedly contemplating as suffering; insight is in the sense of repeatedly contemplating as non-self. The one-pointedness and non-distraction of the mind, which has as its object the relinquishment of the phenomena that have arisen therein, is concentration. Thus, first insight, then serenity. Therefore it is said: “One develops serenity preceded by insight.” In the word “develops,” there are four kinds of development: development in the sense of frequenting… The path arises. How does the path arise? … Thus the path arises. In this way, the fetters are abandoned and the underlying tendencies come to an end.
4. Vị ấy tu tập chỉ với tuệ quán đi trước như thế nào? Tuệ quán là theo ý nghĩa tùy quán là vô thường, tuệ quán là theo ý nghĩa tùy quán là khổ, tuệ quán là theo ý nghĩa tùy quán là vô ngã. Ở đây, sự nhất tâm, không phân tán của tâm có sự từ bỏ các pháp đã sanh khởi làm đối tượng. Định là như vậy, trước tiên là tuệ quán, sau đó là chỉ. Do đó, được nói rằng: ‘Vị ấy tu tập chỉ với tuệ quán đi trước.’ Về ‘tu tập,’ có bốn sự tu tập: sự tu tập theo ý nghĩa thường hành... v.v... Về câu ‘đạo lộ được sanh khởi,’ đạo lộ được sanh khởi như thế nào?... v.v... Như vậy, đạo lộ được sanh khởi. Như vậy, các kiết sử được đoạn trừ, các tùy miên được chấm dứt.
Rūpaṃ aniccato anupassanaṭṭhena vipassanā, rūpaṃ dukkhato anupassanaṭṭhena vipassanā, rūpaṃ anattato anupassanaṭṭhena vipassanā. Tattha jātānaṃ dhammānañca vosaggārammaṇatā cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi. Iti paṭhamaṃ vipassanā, pacchā samatho. Tena vuccati – ‘‘vipassanāpubbaṅgamaṃ samathaṃ bhāvetī’’ti. Bhāvetīti catasso bhāvanā – āsevanaṭṭhena bhāvanā…pe… maggo sañjāyatīti kathaṃ maggo sañjāyati…pe… evaṃ maggo sañjāyati. Evaṃ saññojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti.
Insight is in the sense of repeatedly contemplating form as impermanent; insight is in the sense of repeatedly contemplating form as suffering; insight is in the sense of repeatedly contemplating form as non-self. Therein, the one-pointedness and non-distraction of the mind, which has as its object the relinquishment of the phenomena that have arisen, is concentration. Thus, first insight, then serenity. Therefore it is said: “He develops serenity preceded by insight.” In the word ‘develops,’ there are four kinds of development: development in the sense of repeated practice… The path arises. How does the path arise? … Thus the path arises. In this way the fetters are abandoned, and the underlying tendencies come to an end.
Tuệ quán là theo ý nghĩa tùy quán sắc là vô thường, tuệ quán là theo ý nghĩa tùy quán sắc là khổ, tuệ quán là theo ý nghĩa tùy quán sắc là vô ngã. Ở đây, sự nhất tâm, không phân tán của tâm có sự từ bỏ các pháp đã sanh khởi làm đối tượng là định. Như vậy, trước tiên là tuệ quán, sau đó là chỉ. Do đó, được nói rằng: ‘Vị ấy tu tập chỉ với tuệ quán đi trước.’ Về ‘tu tập,’ có bốn sự tu tập: sự tu tập theo ý nghĩa thường hành... v.v... Về câu ‘đạo lộ được sanh khởi,’ đạo lộ được sanh khởi như thế nào?... v.v... Như vậy, đạo lộ được sanh khởi. Như vậy, các kiết sử được đoạn trừ, các tùy miên được chấm dứt.
Vedanaṃ…pe… saññaṃ … saṅkhāre… viññāṇaṃ… cakkhuṃ…pe… jarāmaraṇaṃ aniccato anupassanaṭṭhena vipassanā, jarāmaraṇaṃ dukkhato…pe… anattato anupassanaṭṭhena vipassanā. Tattha jātānaṃ dhammānañca vosaggārammaṇatā cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi. Iti paṭhamaṃ vipassanā, pacchā samatho. Tena vuccati – ‘‘vipassanāpubbaṅgamaṃ samathaṃ bhāvetī’’ti. Bhāvetīti catasso bhāvanā – āsevanaṭṭhena bhāvanā…pe… maggo sañjāyatīti kathaṃ maggo sañjāyati…pe… evaṃ maggo sañjāyati. Evaṃ saññojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti. Evaṃ vipassanāpubbaṅgamaṃ samathaṃ bhāveti.
Insight is in the sense of repeatedly contemplating feeling… perception… formations… consciousness… the eye… up to… aging and death as impermanent; insight is in the sense of repeatedly contemplating aging and death as suffering… as non-self. Therein, the one-pointedness and non-distraction of the mind, which has as its object the relinquishment of the phenomena that have arisen, is concentration. Thus, first insight, then serenity. Therefore it is said: “He develops serenity preceded by insight.” In the word ‘develops,’ there are four kinds of development: development in the sense of repeated practice… The path arises. How does the path arise? … Thus the path arises. In this way the fetters are abandoned, and the underlying tendencies come to an end. Thus he develops serenity preceded by insight.
Thọ... v.v... tưởng... các hành... thức... mắt... v.v... sự già và chết, tuệ quán (vipassanā) là do ý nghĩa tùy quán (anupassanā) theo trạng thái vô thường; sự già và chết, tuệ quán là do ý nghĩa tùy quán theo trạng thái khổ... v.v... theo trạng thái vô ngã. Ở nơi ấy, trạng thái có sự từ bỏ làm đối tượng của các pháp đã sanh, sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm là định (samādhi). Như vậy, trước tiên là tuệ quán, sau đó là chỉ (samatha). Do đó, được nói rằng: ‘Vị ấy tu tập chỉ với tuệ quán đi trước.’ Trong từ ‘tu tập’ (bhāveti) có bốn sự tu tập – sự tu tập do ý nghĩa thực hành lặp đi lặp lại... v.v... ‘Đạo sanh khởi,’ đạo sanh khởi như thế nào?... v.v... đạo sanh khởi như vậy. Như vậy, các kiết sử được đoạn trừ, các tùy miên được chấm dứt. Như vậy, vị ấy tu tập chỉ với tuệ quán đi trước.
5. Kathaṃ samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti? Soḷasahi ākārehi samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti. Ārammaṇaṭṭhena gocaraṭṭhena pahānaṭṭhena pariccāgaṭṭhena vuṭṭhānaṭṭhena vivaṭṭanaṭṭhena santaṭṭhena paṇītaṭṭhena vimuttaṭṭhena anāsavaṭṭhena taraṇaṭṭhena animittaṭṭhena appaṇihitaṭṭhena suññataṭṭhena ekarasaṭṭhena anativattanaṭṭhena yuganaddhaṭṭhena.
5. How does one develop serenity and insight yoked together? One develops serenity and insight yoked together in sixteen aspects: in the sense of object, domain, abandoning, relinquishing, emergence, turning away, peacefulness, the sublime, liberation, taintlessness, crossing over, the signless, emptiness, single essence, not overstepping, and being yoked together.
5. Làm thế nào vị ấy tu tập chỉ và quán song hành? Vị ấy tu tập chỉ và quán song hành bằng mười sáu phương diện: Do ý nghĩa đối tượng, do ý nghĩa hành xứ, do ý nghĩa đoạn trừ, do ý nghĩa từ bỏ, do ý nghĩa xuất khởi, do ý nghĩa thoát ly, do ý nghĩa tịch tịnh, do ý nghĩa cao thượng, do ý nghĩa giải thoát, do ý nghĩa vô lậu, do ý nghĩa vượt qua, do ý nghĩa vô tướng, do ý nghĩa vô nguyện, do ý nghĩa không tánh, do ý nghĩa đồng một vị, do ý nghĩa không vượt qua nhau, do ý nghĩa song hành.
Kathaṃ ārammaṇaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti? Uddhaccaṃ pajahato cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi nirodhārammaṇo, avijjaṃ pajahato anupassanaṭṭhena vipassanā nirodhārammaṇā. Iti ārammaṇaṭṭhena samathavipassanā ekarasā honti, yuganaddhā honti, aññamaññaṃ nātivattantīti. Tena vuccati – ‘‘ārammaṇaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāvetī’’ti. Bhāvetīti catasso bhāvanā – āsevanaṭṭhena bhāvanā…pe… maggo sañjāyatīti kathaṃ maggo sañjāyati…pe… evaṃ maggo sañjāyati. Evaṃ saññojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti. Evaṃ ārammaṇaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti.
How does one develop serenity and insight yoked together in the aspect of object? For one abandoning restlessness, the one-pointedness and non-distraction of mind—concentration—has cessation as its object. For one abandoning ignorance, insight, in the sense of contemplation, has cessation as its object. Thus, in the aspect of object, serenity and insight are of a single essence, are yoked together, and do not overstep one another. Therefore it is said: “One develops serenity and insight yoked together in the aspect of object.” “Develops” refers to the four kinds of development: development in the sense of frequenting… The path arises. How does the path arise? … Thus the path arises. In this way the fetters are abandoned and the underlying tendencies are brought to an end. Thus one develops serenity and insight yoked together in the aspect of object.
Làm thế nào vị ấy tu tập chỉ và quán song hành do ý nghĩa đối tượng? Đối với người từ bỏ trạo cử, định là sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm, có sự diệt làm đối tượng. Đối với người từ bỏ vô minh, tuệ quán do ý nghĩa tùy quán có sự diệt làm đối tượng. Như vậy, do ý nghĩa đối tượng, chỉ và quán có cùng một vị, là song hành, không vượt qua nhau. Do đó, được nói rằng: ‘Vị ấy tu tập chỉ và quán song hành do ý nghĩa đối tượng.’ Trong từ ‘tu tập’ có bốn sự tu tập – sự tu tập do ý nghĩa thực hành lặp đi lặp lại... v.v... ‘Đạo sanh khởi,’ đạo sanh khởi như thế nào?... v.v... đạo sanh khởi như vậy. Như vậy, các kiết sử được đoạn trừ, các tùy miên được chấm dứt. Như vậy, vị ấy tu tập chỉ và quán song hành do ý nghĩa đối tượng.
Kathaṃ gocaraṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti? Uddhaccaṃ pajahato cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi nirodhagocaro, avijjaṃ pajahato anupassanaṭṭhena vipassanā nirodhagocarā. Iti gocaraṭṭhena samathavipassanā ekarasā honti, yuganaddhā honti, aññamaññaṃ nātivattantīti. Tena vuccati – ‘‘gocaraṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāvetī’’ti.
How does one develop serenity and insight yoked together in the aspect of domain? For one abandoning restlessness, the one-pointedness and non-distraction of mind—concentration—has cessation as its domain. For one abandoning ignorance, insight, in the sense of contemplation, has cessation as its domain. Thus, in the aspect of domain, serenity and insight are of a single essence, are yoked together, and do not overstep one another. Therefore it is said: “One develops serenity and insight yoked together in the aspect of domain.”
Làm thế nào vị ấy tu tập chỉ và quán song hành do ý nghĩa hành xứ? Đối với người từ bỏ trạo cử, định là sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm, có sự diệt làm hành xứ. Đối với người từ bỏ vô minh, tuệ quán do ý nghĩa tùy quán có sự diệt làm hành xứ. Như vậy, do ý nghĩa hành xứ, chỉ và quán có cùng một vị, là song hành, không vượt qua nhau. Do đó, được nói rằng: ‘Vị ấy tu tập chỉ và quán song hành do ý nghĩa hành xứ.’
Kathaṃ pahānaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti? Uddhaccasahagatakilese ca khandhe ca pajahato cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi nirodhagocaro, avijjāsahagatakilese ca khandhe ca pajahato anupassanaṭṭhena vipassanā nirodhagocarā. Iti pahānaṭṭhena samathavipassanā ekarasā honti, yuganaddhā honti, aññamaññaṃ nātivattantīti. Tena vuccati – ‘‘pahānaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāvetī’’ti.
How does one develop serenity and insight yoked together in the aspect of abandoning? For one abandoning the defilements and aggregates that accompany restlessness, the one-pointedness and non-distraction of mind—concentration—has cessation as its domain. For one abandoning the defilements and aggregates that accompany ignorance, insight, in the sense of contemplation, has cessation as its domain. Thus, in the aspect of abandoning, serenity and insight are of a single essence, are yoked together, and do not overstep one another. Therefore it is said: “One develops serenity and insight yoked together in the aspect of abandoning.”
Làm thế nào vị ấy tu tập chỉ và quán song hành do ý nghĩa đoạn trừ? Đối với người từ bỏ các phiền não đồng sanh với trạo cử và các uẩn, định là sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm, có sự diệt làm hành xứ. Đối với người từ bỏ các phiền não đồng sanh với vô minh và các uẩn, tuệ quán do ý nghĩa tùy quán có sự diệt làm hành xứ. Như vậy, do ý nghĩa đoạn trừ, chỉ và quán có cùng một vị, là song hành, không vượt qua nhau. Do đó, được nói rằng: ‘Vị ấy tu tập chỉ và quán song hành do ý nghĩa đoạn trừ.’
Kathaṃ pariccāgaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti? Uddhaccasahagatakilese ca khandhe ca pariccajato cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi nirodhagocaro, avijjāsahagatakilese ca khandhe ca pariccajato anupassanaṭṭhena vipassanā nirodhagocarā. Iti pariccāgaṭṭhena samathavipassanā ekarasā honti, yuganaddhā honti, aññamaññaṃ nātivattantīti. Tena vuccati – ‘‘pariccāgaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāvetī’’ti.
How does one develop serenity and insight yoked together in the sense of relinquishing? For one who relinquishes the defilements and aggregates that accompany restlessness, the one-pointedness and non-distraction of mind—concentration—has cessation as its domain. For one who relinquishes the defilements and aggregates that accompany ignorance, insight in the sense of contemplation has cessation as its domain. Thus, in the sense of relinquishing, serenity and insight are of a single function, are yoked together, and do not overstep one another. Therefore it is said: “One develops serenity and insight yoked together in the sense of relinquishing.”
Làm thế nào vị ấy tu tập chỉ và quán song hành do ý nghĩa từ bỏ? Đối với người từ bỏ các phiền não đồng sanh với trạo cử và các uẩn, định là sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm, có sự diệt làm hành xứ. Đối với người từ bỏ các phiền não đồng sanh với vô minh và các uẩn, tuệ quán do ý nghĩa tùy quán có sự diệt làm hành xứ. Như vậy, do ý nghĩa từ bỏ, chỉ và quán có cùng một vị, là song hành, không vượt qua nhau. Do đó, được nói rằng: ‘Vị ấy tu tập chỉ và quán song hành do ý nghĩa từ bỏ.’
Kathaṃ vuṭṭhānaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti? Uddhaccasahagatakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhahato cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi nirodhagocaro, avijjāsahagatakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhahato anupassanaṭṭhena vipassanā nirodhagocarā. Iti vuṭṭhānaṭṭhena samathavipassanā ekarasā honti, yuganaddhā honti, aññamaññaṃ nātivattantīti. Tena vuccati – ‘‘vuṭṭhānaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāvetī’’ti.
How does one develop serenity and insight yoked together in the sense of emergence? For one who emerges from the defilements and aggregates that accompany restlessness, the one-pointedness and non-distraction of mind—concentration—has cessation as its domain. For one who emerges from the defilements and aggregates that accompany ignorance, insight in the sense of contemplation has cessation as its domain. Thus, in the sense of emergence, serenity and insight are of a single function, are yoked together, and do not overstep one another. Therefore it is said: “One develops serenity and insight yoked together in the sense of emergence.”
Làm thế nào vị ấy tu tập chỉ và quán song hành do ý nghĩa xuất khởi? Đối với người xuất khởi khỏi các phiền não đồng sanh với trạo cử và khỏi các uẩn, định là sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm, có sự diệt làm hành xứ. Đối với người xuất khởi khỏi các phiền não đồng sanh với vô minh và khỏi các uẩn, tuệ quán do ý nghĩa tùy quán có sự diệt làm hành xứ. Như vậy, do ý nghĩa xuất khởi, chỉ và quán có cùng một vị, là song hành, không vượt qua nhau. Do đó, được nói rằng: ‘Vị ấy tu tập chỉ và quán song hành do ý nghĩa xuất khởi.’
Kathaṃ vivaṭṭanaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti? Uddhaccasahagatakilesehi ca khandhehi ca vivaṭṭato cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi nirodhagocaro, avijjāsahagatakilesehi ca khandhehi ca vivaṭṭato anupassanaṭṭhena vipassanā nirodhagocarā. Iti vivaṭṭanaṭṭhena samathavipassanā ekarasā honti, yuganaddhā honti, aññamaññaṃ nātivattantīti. Tena vuccati – ‘‘vivaṭṭanaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāvetī’’ti.
How does one develop serenity and insight yoked together in the sense of turning away? For one who turns away from the defilements and aggregates that accompany restlessness, the one-pointedness and non-distraction of mind—concentration—has cessation as its domain. For one who turns away from the defilements and aggregates that accompany ignorance, insight in the sense of contemplation has cessation as its domain. Thus, in the sense of turning away, serenity and insight are of a single function, are yoked together, and do not overstep one another. Therefore it is said: “One develops serenity and insight yoked together in the sense of turning away.”
Làm thế nào vị ấy tu tập chỉ và quán song hành do ý nghĩa thoát ly? Đối với người thoát ly khỏi các phiền não đồng sanh với trạo cử và khỏi các uẩn, định là sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm, có sự diệt làm hành xứ. Đối với người thoát ly khỏi các phiền não đồng sanh với vô minh và khỏi các uẩn, tuệ quán do ý nghĩa tùy quán có sự diệt làm hành xứ. Như vậy, do ý nghĩa thoát ly, chỉ và quán có cùng một vị, là song hành, không vượt qua nhau. Do đó, được nói rằng: ‘Vị ấy tu tập chỉ và quán song hành do ý nghĩa thoát ly.’
Kathaṃ santaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti? Uddhaccaṃ pajahato cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi santo honti nirodhagocaro, avijjaṃ pajahato anupassanaṭṭhena vipassanā santā hoti nirodhagocarā. Iti santaṭṭhena samathavipassanā ekarasā honti, yuganaddhā honti, aññamaññaṃ nātivattantīti. Tena vuccati – ‘‘santaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāvetī’’ti.
How does one develop serenity and insight yoked together in the sense of peace? For one who abandons restlessness, the mind’s unification and non-distraction—concentration—becomes peaceful, with cessation as its resort. For one who abandons ignorance, insight in the sense of repeated contemplation becomes peaceful, with cessation as its resort. Thus, in the sense of peace, serenity and insight become of a single function, become yoked together, and do not overstep one another. Therefore it is said: ‘One develops serenity and insight yoked together in the sense of peace.’
Làm thế nào vị ấy tu tập chỉ và quán song hành do ý nghĩa tịch tịnh? Đối với người từ bỏ trạo cử, định là sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm, là tịch tịnh, có sự diệt làm hành xứ. Đối với người từ bỏ vô minh, tuệ quán do ý nghĩa tùy quán là tịch tịnh, có sự diệt làm hành xứ. Như vậy, do ý nghĩa tịch tịnh, chỉ và quán có cùng một vị, là song hành, không vượt qua nhau. Do đó, được nói rằng: ‘Vị ấy tu tập chỉ và quán song hành do ý nghĩa tịch tịnh.’
Kathaṃ paṇītaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti? Uddhaccaṃ pajahato cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi paṇīto hoti nirodhagocaro, avijjaṃ pajahato anupassanaṭṭhena vipassanā paṇītā hoti nirodhagocarā. Iti paṇītaṭṭhena samathavipassanā ekarasā honti, yuganaddhā honti, aññamaññaṃ nātivattantīti. Tena vuccati – ‘‘paṇītaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāvetī’’ti.
How does one develop serenity and insight yoked together in the sense of the sublime? For one who abandons restlessness, the mind’s unification and non-distraction—concentration—becomes sublime, with cessation as its resort. For one who abandons ignorance, insight in the sense of repeated contemplation becomes sublime, with cessation as its resort. Thus, in the sense of the sublime, serenity and insight become of a single function, become yoked together, and do not overstep one another. Therefore it is said: ‘One develops serenity and insight yoked together in the sense of the sublime.’
Làm thế nào tu tiến chỉ và quán được hợp nhất theo ý nghĩa cao thượng? Đối với người từ bỏ trạo cử, sự nhất tâm, không phân tán của tâm là định, trở nên cao thượng, có đối tượng là sự diệt. Đối với người từ bỏ vô minh, theo ý nghĩa tùy quán, tuệ quán trở nên cao thượng, có đối tượng là sự diệt. Như vậy, theo ý nghĩa cao thượng, chỉ và quán có cùng một phận sự, trở thành hợp nhất, không vượt qua lẫn nhau. Do đó, được nói rằng: ‘Tu tiến chỉ và quán được hợp nhất theo ý nghĩa cao thượng’.
Kathaṃ vimuttaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti? Uddhaccaṃ pajahato cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi kāmāsavā vimutto hoti nirodhagocaro, avijjaṃ pajahato anupassanaṭṭhena vipassanā avijjāsavā vimuttā hoti nirodhagocarā. Iti rāgavirāgā cetovimutti avijjāvirāgā paññā vimuttaṭṭhena samathavipassanā ekarasā honti, yuganaddhā honti, aññamaññaṃ nātivattantīti. Tena vuccati – ‘‘vimuttaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāvetī’’ti.
How does one develop serenity and insight yoked together in the sense of liberation? For one who abandons restlessness, the mind’s unification and non-distraction—concentration—is liberated from the taint of sensual desire, with cessation as its resort. For one who abandons ignorance, insight in the sense of repeated contemplation is liberated from the taint of ignorance, with cessation as its resort. Thus, in the sense of liberation—liberation of mind through dispassion for lust and liberation by wisdom through dispassion for ignorance—serenity and insight become of a single function, become yoked together, and do not overstep one another. Therefore it is said: ‘One develops serenity and insight yoked together in the sense of liberation.’
Làm thế nào tu tiến chỉ và quán được hợp nhất theo ý nghĩa giải thoát? Đối với người từ bỏ trạo cử, sự nhất tâm, không phân tán của tâm là định, được giải thoát khỏi dục lậu, có đối tượng là sự diệt. Đối với người từ bỏ vô minh, theo ý nghĩa tùy quán, tuệ quán được giải thoát khỏi vô minh lậu, có đối tượng là sự diệt. Như vậy, theo ý nghĩa giải thoát của tâm giải thoát do ly tham và tuệ giải thoát do ly vô minh, chỉ và quán có cùng một phận sự, trở thành hợp nhất, không vượt qua lẫn nhau. Do đó, được nói rằng: ‘Tu tiến chỉ và quán được hợp nhất theo ý nghĩa giải thoát’.
Kathaṃ anāsavaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti? Uddhaccaṃ pajahato cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi kāmāsavena anāsavo hoti nirodhagocaro, avijjaṃ pajahato anupassanaṭṭhena vipassanā avijjāsavena anāsavā hoti nirodhagocarā. Iti anāsavaṭṭhena samathavipassanā ekarasā honti, yuganaddhā honti, aññamaññaṃ nātivattantīti. Tena vuccati – ‘‘anāsavaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāvetī’’ti.
How does one develop serenity and insight yoked together in the sense of taintlessness? For one who abandons restlessness, the mind’s unification, non-distraction—concentration—is free from the taint of sensual desire, with cessation as its object. For one who abandons ignorance, insight in the sense of contemplation is free from the taint of ignorance, with cessation as its object. Thus, in the sense of taintlessness, serenity and insight become of a single function, yoked together, not overstepping one another. Therefore it is said: ‘One develops serenity and insight yoked together in the sense of taintlessness.’
Làm thế nào tu tiến chỉ và quán được hợp nhất theo ý nghĩa vô lậu? Đối với người từ bỏ trạo cử, sự nhất tâm, không phân tán của tâm là định, trở nên vô lậu đối với dục lậu, có đối tượng là sự diệt. Đối với người từ bỏ vô minh, theo ý nghĩa tùy quán, tuệ quán trở nên vô lậu đối với vô minh lậu, có đối tượng là sự diệt. Như vậy, theo ý nghĩa vô lậu, chỉ và quán có cùng một phận sự, trở thành hợp nhất, không vượt qua lẫn nhau. Do đó, được nói rằng: ‘Tu tiến chỉ và quán được hợp nhất theo ý nghĩa vô lậu’.
Kathaṃ taraṇaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti? Uddhaccasahagatakilese ca khandhe ca tarato cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi nirodhagocaro, avijjāsahagatakilese ca khandhe ca tarato anupassanaṭṭhena vipassanā nirodhagocarā. Iti taraṇaṭṭhena samathavipassanā ekarasā honti, yuganaddhā honti, aññamaññaṃ nātivattantīti. Tena vuccati – ‘‘taraṇaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāvetī’’ti.
How does one develop serenity and insight yoked together in the sense of crossing over? For one who crosses over the defilements and aggregates accompanied by restlessness, the mind’s unification, non-distraction—concentration—has cessation as its object. For one who crosses over the defilements and aggregates accompanied by ignorance, insight in the sense of contemplation has cessation as its object. Thus, in the sense of crossing over, serenity and insight become of a single function, yoked together, not overstepping one another. Therefore it is said: ‘One develops serenity and insight yoked together in the sense of crossing over.’
Làm thế nào tu tiến chỉ và quán được hợp nhất theo ý nghĩa vượt qua? Đối với người vượt qua các phiền não đi cùng với trạo cử và các uẩn, sự nhất tâm, không phân tán của tâm là định, có đối tượng là sự diệt. Đối với người vượt qua các phiền não đi cùng với vô minh và các uẩn, theo ý nghĩa tùy quán, tuệ quán có đối tượng là sự diệt. Như vậy, theo ý nghĩa vượt qua, chỉ và quán có cùng một phận sự, trở thành hợp nhất, không vượt qua lẫn nhau. Do đó, được nói rằng: ‘Tu tiến chỉ và quán được hợp nhất theo ý nghĩa vượt qua’.
Kathaṃ animittaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti? Uddhaccaṃ pajahato cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi sabbanimittehi animitto hoti nirodhagocaro, avijjaṃ pajahato anupassanaṭṭhena vipassanā sabbanimittehi animittā hoti nirodhagocarā. Iti animittaṭṭhena samathavipassanā ekarasā honti, yuganaddhā honti, aññamaññaṃ nātivattantīti. Tena vuccati – ‘‘animittaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāvetī’’ti.
How does one develop serenity and insight yoked together in the sense of the signless? For one who abandons restlessness, the mind’s unification, non-distraction—concentration—becomes signless in regard to all signs, with cessation as its object. For one who abandons ignorance, insight in the sense of contemplation becomes signless in regard to all signs, with cessation as its object. Thus, in the sense of the signless, serenity and insight become of a single function, yoked together, not overstepping one another. Therefore it is said: ‘One develops serenity and insight yoked together in the sense of the signless.’
Làm thế nào tu tiến chỉ và quán được hợp nhất theo ý nghĩa vô tướng? Đối với người từ bỏ trạo cử, sự nhất tâm, không phân tán của tâm là định, trở nên vô tướng đối với tất cả các tướng, có đối tượng là sự diệt. Đối với người từ bỏ vô minh, theo ý nghĩa tùy quán, tuệ quán trở nên vô tướng đối với tất cả các tướng, có đối tượng là sự diệt. Như vậy, theo ý nghĩa vô tướng, chỉ và quán có cùng một phận sự, trở thành hợp nhất, không vượt qua lẫn nhau. Do đó, được nói rằng: ‘Tu tiến chỉ và quán được hợp nhất theo ý nghĩa vô tướng’.
Kathaṃ appaṇihitaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti? Uddhaccaṃ pajahato cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi sabbapaṇidhīhi appaṇihito hoti nirodhagocaro, avijjaṃ pajahato anupassanaṭṭhena vipassanā sabbapaṇidhīhi appaṇihitā hoti nirodhagocarā. Iti appaṇihitaṭṭhena samathavipassanā ekarasā honti, yuganaddhā honti, aññamaññaṃ nātivattantīti. Tena vuccati – ‘‘appaṇihitaṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāvetī’’ti.
How does one develop serenity and insight yoked together in the sense of the desireless? For one who abandons restlessness, the mind’s one-pointedness, its non-distraction—concentration—is desireless with regard to all desires, having cessation as its resort. For one who abandons ignorance, insight in the sense of repeated contemplation is desireless with regard to all desires, having cessation as its resort. Thus, in the sense of the desireless, serenity and insight are of a single function, are yoked together, and do not overstep one another. Therefore it is said: ‘One develops serenity and insight yoked together in the sense of the desireless.’
Làm thế nào tu tiến chỉ và quán được hợp nhất theo ý nghĩa vô nguyện? Đối với người từ bỏ trạo cử, sự nhất tâm, không phân tán của tâm là định, trở nên vô nguyện đối với tất cả các nguyện cầu, có đối tượng là sự diệt. Đối với người từ bỏ vô minh, theo ý nghĩa tùy quán, tuệ quán trở nên vô nguyện đối với tất cả các nguyện cầu, có đối tượng là sự diệt. Như vậy, theo ý nghĩa vô nguyện, chỉ và quán có cùng một phận sự, trở thành hợp nhất, không vượt qua lẫn nhau. Do đó, được nói rằng: ‘Tu tiến chỉ và quán được hợp nhất theo ý nghĩa vô nguyện’.
Kathaṃ suññataṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti? Uddhaccaṃ pajahato cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi sabbābhinivesehi suñño hoti nirodhagocaro, avijjaṃ pajahato anupassanaṭṭhena vipassanā sabbābhinivesehi suññā hoti nirodhagocarā. Iti suññataṭṭhena samathavipassanā ekarasā honti, yuganaddhā honti, aññamaññaṃ nātivattantīti. Tena vuccati – ‘‘suññataṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāvetī’’ti. Bhāvetīti catasso bhāvanā – āsevanaṭṭhena bhāvanā…pe… maggo sañjāyatīti kathaṃ maggo sañjāyati…pe… evaṃ maggo sañjāyati. Evaṃ saññojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti. Evaṃ suññataṭṭhena samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti. Imehi soḷasahi ākārehi samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti, evaṃ samathavipassanaṃ yuganaddhaṃ bhāveti.
How does one develop serenity and insight yoked together in the sense of emptiness? For one who abandons restlessness, the mind’s one-pointedness, its non-distraction—concentration—is empty of all adherences, having cessation as its resort. For one who abandons ignorance, insight in the sense of repeated contemplation is empty of all adherences, having cessation as its resort. Thus, in the sense of emptiness, serenity and insight are of a single function, are yoked together, and do not overstep one another. Therefore it is said: ‘One develops serenity and insight yoked together in the sense of emptiness.’ In the word ‘develops,’ there are four kinds of development—development in the sense of cultivation… The path arises. How does the path arise? … Thus the path arises. In this way, the fetters are abandoned, and the underlying tendencies cease. Thus one develops serenity and insight yoked together in the sense of emptiness. One develops serenity and insight yoked together by these sixteen aspects. Thus one develops serenity and insight yoked together.
Làm thế nào tu tiến chỉ và quán được hợp nhất theo ý nghĩa không? Đối với người từ bỏ trạo cử, sự nhất tâm, không phân tán của tâm là định, trở nên trống không đối với tất cả các chấp thủ, có đối tượng là sự diệt. Đối với người từ bỏ vô minh, theo ý nghĩa tùy quán, tuệ quán trở nên trống không đối với tất cả các chấp thủ, có đối tượng là sự diệt. Như vậy, theo ý nghĩa không, chỉ và quán có cùng một phận sự, trở thành hợp nhất, không vượt qua lẫn nhau. Do đó, được nói rằng: ‘Tu tiến chỉ và quán được hợp nhất theo ý nghĩa không’. Trong từ ‘tu tiến’ có bốn sự tu tiến – sự tu tiến theo ý nghĩa thực hành… vân vân… Trong câu ‘đạo được sinh khởi’, làm thế nào đạo được sinh khởi?… vân vân… Như vậy, đạo được sinh khởi. Như vậy, các kiết sử được đoạn trừ, các tùy miên được chấm dứt. Như vậy, tu tiến chỉ và quán được hợp nhất theo ý nghĩa không. Vị ấy tu tiến chỉ và quán được hợp nhất bằng mười sáu phương diện này, như vậy vị ấy tu tiến chỉ và quán được hợp nhất.
Suttantaniddeso.
The Exposition of the Suttanta is finished.
Kết thúc phần giải thích theo kinh.
2. Dhammuddhaccavāraniddeso
2. The Exposition of the Section on Restlessness regarding Dhammas
2. Phần giải thích về trạo cử đối với các pháp
6. Kathaṃ dhammuddhaccaviggahitaṃ mānasaṃ hoti? Aniccato manasikaroto obhāso uppajjati, obhāso dhammoti obhāsaṃ āvajjati, tato vikkhepo uddhaccaṃ. Tena uddhaccena viggahitamānaso aniccato upaṭṭhānaṃ yathābhūtaṃ nappajānāti, dukkhato upaṭṭhānaṃ yathābhūtaṃ nappajānāti, anattato upaṭṭhānaṃ yathābhūtaṃ nappajānāti. Tena vuccati – ‘‘dhammuddhaccaviggahitamānaso hoti so samayo, yaṃ taṃ cittaṃ ajjhattameva santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Tassa maggo sañjāyatī’’ti kathaṃ maggo sañjāyati…pe… evaṃ maggo sañjāyati, evaṃ saññojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti.
6. How is the mind seized by restlessness concerning phenomena? When one attends by way of impermanence, an illumination arises. One attends to the illumination, [thinking,] 'Illumination is the Dhamma'; from that, distraction, which is restlessness, arises. With a mind seized by that restlessness, one does not discern as it truly is the manifestation by way of impermanence, one does not discern as it truly is the manifestation by way of suffering, one does not discern as it truly is the manifestation by way of not-self. Therefore it is said: 'That is the occasion when the mind is seized by restlessness concerning phenomena. When that mind becomes internally steady, settled, unified, and concentrated, the path is generated for him.' How is the path generated? …pe… Thus the path is generated, thus the fetters are abandoned, and the underlying tendencies are brought to an end.
6. Làm thế nào tâm bị trạo cử đối với các pháp chi phối? Khi tác ý về vô thường, ánh sáng khởi lên. Vị ấy hướng tâm đến ánh sáng (nghĩ rằng) ‘ánh sáng là pháp’. Do đó, sự phân tán là trạo cử. Với tâm bị trạo cử ấy chi phối, vị ấy không biết đúng như thật sự hiện khởi của vô thường, không biết đúng như thật sự hiện khởi của khổ, không biết đúng như thật sự hiện khởi của vô ngã. Do đó, được nói rằng: ‘Tâm bị trạo cử đối với các pháp chi phối’. Có thời điểm, tâm ấy an trú, lắng đọng, nhất tâm, định tĩnh ngay trong nội tâm. ‘Đối với vị ấy, đạo được sinh khởi’. Làm thế nào đạo được sinh khởi?… vân vân… Như vậy, đạo được sinh khởi, như vậy các kiết sử được đoạn trừ, các tùy miên được chấm dứt.
Aniccato manasikaroto ñāṇaṃ uppajjati, pīti uppajjati, passaddhi uppajjati, sukhaṃ uppajjati, adhimokkho uppajjati, paggaho uppajjati, upaṭṭhānaṃ uppajjati, upekkhā uppajjati, nikanti uppajjati, ‘nikanti dhammo’ti nikantiṃ āvajjati. Tato vikkhepo uddhaccaṃ. Tena uddhaccena viggahitamānaso aniccato upaṭṭhānaṃ yathābhūtaṃ nappajānāti, dukkhato upaṭṭhānaṃ yathābhūtaṃ nappajānāti, anattato upaṭṭhānaṃ yathābhūtaṃ nappajānāti. Tena vuccati – ‘‘dhammuddhaccaviggahitamānaso hoti so samayo, yaṃ taṃ cittaṃ ajjhattameva santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Tassa maggo sañjāyatī’’ti. Kathaṃ maggo sañjāyati…pe… evaṃ maggo sañjāyati, evaṃ saññojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti.
When one attends by way of impermanence, knowledge arises, rapture arises, tranquility arises, happiness arises, resolve arises, exertion arises, mindfulness arises, equanimity arises, and craving (nikanti) arises. One attends to craving (nikanti), [thinking,] 'Craving (nikanti) is the Dhamma.' From that, distraction, which is restlessness, arises. With a mind seized by that restlessness, one does not discern as it truly is the manifestation by way of impermanence, one does not discern as it truly is the manifestation by way of suffering, one does not discern as it truly is the manifestation by way of not-self. Therefore it is said: 'That is the occasion when the mind is seized by restlessness concerning phenomena. When that mind becomes internally steady, settled, unified, and concentrated, the path is generated for him.' How is the path generated? …pe… Thus the path is generated, thus the fetters are abandoned, and the underlying tendencies are brought to an end.
Đối với người tác ý về vô thường, trí tuệ sanh khởi, hỷ sanh khởi, khinh an sanh khởi, lạc sanh khởi, thắng giải sanh khởi, sách tấn sanh khởi, sự hiện khởi sanh khởi, xả sanh khởi, ái nhiễm sanh khởi, vị ấy hướng đến ái nhiễm rằng: ‘Ái nhiễm là pháp.’ Do đó, sự phân tán là trạo cử. Do trạo cử ấy, người có tâm bị sai lệch không tuệ tri như thật về sự hiện khởi của vô thường, không tuệ tri như thật về sự hiện khởi của khổ, không tuệ tri như thật về sự hiện khởi của vô ngã. Do đó được nói rằng: “Vị ấy có tâm bị sai lệch do trạo cử về pháp. Có thời điểm, tâm ấy an trú, lắng đọng, nhất tâm, định tĩnh ngay trong nội tâm. Đạo sanh khởi cho vị ấy.” Đạo sanh khởi như thế nào? … Tóm lại … Đạo sanh khởi như vậy, các kiết sử được đoạn trừ như vậy, các tùy miên được chấm dứt như vậy.
Dukkhato manasikaroto…pe… anattato manasikaroto obhāso uppajjati…pe… ñāṇaṃ uppajjati, pīti uppajjati, passaddhi uppajjati, sukhaṃ uppajjati, adhimokkho uppajjati, paggaho uppajjati, upaṭṭhānaṃ uppajjati, upekkhā uppajjati, nikanti uppajjati, ‘nikanti dhammo’ti nikantiṃ āvajjati. Tato vikkhepo uddhaccaṃ. Tena uddhaccena viggahitamānaso anattato upaṭṭhānaṃ, aniccato upaṭṭhānaṃ, dukkhato upaṭṭhānaṃ yathābhūtaṃ nappajānāti. Tena vuccati – ‘‘dhammuddhaccaviggahitamānaso…pe… evaṃ saññojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti’’.
To one who attends as suffering …pe… to one who attends as not-self, an illumination arises …pe… knowledge arises, rapture arises, tranquility arises, happiness arises, resolve arises, exertion arises, establishment arises, equanimity arises, and delight arises. One reflects on delight, thinking, 'Delight is the Dhamma.' From that, distraction is restlessness. With a mind seized by that restlessness, one does not know as it really is the establishment as not-self, the establishment as impermanence, and the establishment as suffering. Therefore it is said: 'one with a mind seized by restlessness concerning phenomena …pe… thus the fetters are abandoned, and the underlying tendencies are brought to an end.'
Đối với người tác ý về khổ… Tóm lại… Đối với người tác ý về vô ngã, hào quang sanh khởi… Tóm lại… trí tuệ sanh khởi, hỷ sanh khởi, khinh an sanh khởi, lạc sanh khởi, thắng giải sanh khởi, sách tấn sanh khởi, sự hiện khởi sanh khởi, xả sanh khởi, ái nhiễm sanh khởi, vị ấy hướng đến ái nhiễm rằng: ‘Ái nhiễm là pháp.’ Do đó, sự phân tán là trạo cử. Do trạo cử ấy, người có tâm bị sai lệch không tuệ tri như thật về sự hiện khởi của vô ngã, sự hiện khởi của vô thường, sự hiện khởi của khổ. Do đó được nói rằng: “Vị ấy có tâm bị sai lệch do trạo cử về pháp… Tóm lại… Các kiết sử được đoạn trừ như vậy, các tùy miên được chấm dứt như vậy.”
Rūpaṃ aniccato manasikaroto…pe… rūpaṃ dukkhato manasikaroto… rūpaṃ anattato manasikaroto… vedanaṃ…pe… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ… cakkhuṃ…pe… jarāmaraṇaṃ aniccato manasikaroto…pe… jarāmaraṇaṃ dukkhato manasikaroto, jarāmaraṇaṃ anattato manasikaroto obhāso uppajjati…pe… ñāṇaṃ uppajjati, pīti uppajjati, passaddhi uppajjati, sukhaṃ uppajjati, adhimokkho uppajjati, paggaho uppajjati, upaṭṭhānaṃ uppajjati, upekkhā uppajjati, nikanti uppajjati, ‘nikanti dhammo’ti nikantiṃ āvajjati. Tato vikkhepo uddhaccaṃ. Tena uddhaccena viggahitamānaso. Jarāmaraṇaṃ anattato upaṭṭhānaṃ yathābhūtaṃ nappajānāti. Jarāmaraṇaṃ aniccato upaṭṭhānaṃ yathābhūtaṃ nappajānāti, jarāmaraṇaṃ dukkhato upaṭṭhānaṃ yathābhūtaṃ nappajānāti. Tena vuccati – ‘‘dhammuddhaccaviggahitamānaso hoti. So samayo, yaṃ taṃ cittaṃ ajjhattameva santiṭṭhati sannisīdati ekodi hoti samādhiyati. Tassa maggo sañjāyatī’’ti. Kathaṃ maggo sañjāyati…pe… evaṃ maggo sañjāyati. Evaṃ saññojanāni pahīyanti, anusayā byantīhonti. Evaṃ dhammuddhaccaviggahitaṃ mānasaṃ hoti.
To one who attends to form as impermanent... (etc.)... to one who attends to form as suffering... to one who attends to form as not-self... feeling... (etc.)... perception... formations... consciousness... the eye... (etc.)... to one who attends to aging-and-death as impermanent... (etc.)... to one who attends to aging-and-death as suffering, to one who attends to aging-and-death as not-self, an illumination arises... (etc.)... knowledge arises, rapture arises, tranquility arises, happiness arises, resolve arises, exertion arises, establishment arises, equanimity arises, and delight arises. He attends to delight, thinking, 'Delight is the Dhamma.' From that, distraction, which is restlessness, arises. With a mind seized by that restlessness, he does not know as it really is the establishment of aging-and-death as not-self. He does not know as it really is the establishment of aging-and-death as impermanent. He does not know as it really is the establishment of aging-and-death as suffering. Therefore, it is said: 'He becomes one with a mind seized by restlessness concerning phenomena.' That is the occasion when that mind becomes internally steady, settles down, becomes unified, and is concentrated. For him, the path is generated. How is the path generated? ... (etc.) ... Thus the path is generated. Thus the fetters are abandoned, and the underlying tendencies are brought to an end. Thus the mind becomes seized by restlessness concerning phenomena.
Đối với người tác ý về sắc là vô thường… Tóm lại… đối với người tác ý về sắc là khổ… đối với người tác ý về sắc là vô ngã… về thọ… Tóm lại… về tưởng… về các hành… về thức… về mắt… Tóm lại… đối với người tác ý về già-chết là vô thường… Tóm lại… đối với người tác ý về già-chết là khổ, đối với người tác ý về già-chết là vô ngã, hào quang sanh khởi… Tóm lại… trí tuệ sanh khởi, hỷ sanh khởi, khinh an sanh khởi, lạc sanh khởi, thắng giải sanh khởi, sách tấn sanh khởi, sự hiện khởi sanh khởi, xả sanh khởi, ái nhiễm sanh khởi, vị ấy hướng đến ái nhiễm rằng: ‘Ái nhiễm là pháp.’ Do đó, sự phân tán là trạo cử. Do trạo cử ấy, người có tâm bị sai lệch. Vị ấy không tuệ tri như thật về sự hiện khởi của già-chết là vô ngã. Vị ấy không tuệ tri như thật về sự hiện khởi của già-chết là vô thường, không tuệ tri như thật về sự hiện khởi của già-chết là khổ. Do đó được nói rằng: “Vị ấy có tâm bị sai lệch do trạo cử về pháp. Có thời điểm, tâm ấy an trú, lắng đọng, nhất tâm, định tĩnh ngay trong nội tâm. Đạo sanh khởi cho vị ấy.” Đạo sanh khởi như thế nào? … Tóm lại … Đạo sanh khởi như vậy. Các kiết sử được đoạn trừ như vậy, các tùy miên được chấm dứt như vậy. Tâm bị sai lệch do trạo cử về pháp là như vậy.
7.
7.
7.
Obhāse ceva ñāṇe ca, pītiyā ca vikampati;
Passaddhiyā sukhe ceva, yehi cittaṃ pavedhati.
In illumination and in knowledge, and in rapture, the mind wavers; in tranquility and in happiness, by which the mind is shaken.
Tâm dao động trong hào quang và trí tuệ, và trong hỷ; tâm rung động bởi khinh an và lạc.
Adhimokkhe ca paggāhe, upaṭṭhāne ca kampati;
Upekkhāvajjanāya ceva, upekkhāya ca nikantiyā.
In resolve and in exertion, and in establishment, it wavers; and in adverting to equanimity, in equanimity, and in delight.
Tâm rung động trong thắng giải và sách tấn, và trong sự hiện khởi; trong sự hướng tâm đến xả, trong xả, và trong ái nhiễm.
Imāni dasa ṭhānāni, paññā yassa pariccitā;
Dhammuddhaccakusalo hoti, na ca sammoha gacchati.
He whose wisdom has comprehended these ten items becomes skilled in restlessness concerning phenomena and does not fall into delusion.
Người nào có trí tuệ thuần thục về mười trạng thái này, vị ấy thiện xảo về trạo cử đối với pháp và không đi đến si mê.
Vikkhipati ceva kilissati ca, cavati cittabhāvanā;
Vikkhipati na kilissati, bhāvanā parihāyati.
When the mind is distracted and defiled, the mental development falls away. When the mind is distracted but not defiled, the development diminishes.
(Tâm) vừa phân tán vừa bị ô nhiễm, sự tu tập tâm bị suy thoái; (tâm) phân tán nhưng không bị ô nhiễm, sự tu tập bị suy giảm.
Vikkhipati na kilissati, bhāvanā na parihāyati;
Na ca vikkhipate cittaṃ na kilissati, na cavati cittabhāvanā.
When the mind is distracted but not defiled, the development does not diminish. And the mind is not distracted and not defiled, and the mental development does not fall away.
(Tâm) phân tán nhưng không bị ô nhiễm, sự tu tập không bị suy giảm; tâm không phân tán, không bị ô nhiễm, sự tu tập tâm không bị suy thoái.
Imehi catūhi ṭhānehi cittassa saṅkhepavikkhepaviggahitaṃ † dasa ṭhāne sampajānātīti.
By these four states, one clearly comprehends in ten instances the mind's being perversely grasped through contraction and distraction.
Do bốn trạng thái này, vị ấy tỉnh giác về sự sai lệch của tâm do co rút và phân tán trong mười trường hợp.
Yuganaddhakathā niṭṭhitā.
The Discourse on the Yoked is concluded.
Chương Song Tu đã kết thúc.