Bản dịch
PS 1.10 — Giảng về Tịnh Thủy Nên Uống
1.10. Maṇḍapeyyakathā
Này các tỳ khưu, tịnh thủy nên uống là Phạm hạnh này, là bậc Đạo Sư khi còn tại tiền. Khi bậc Đạo Sư còn tại tiền, bản chất của tịnh thủy có ba loại là: tịnh thủy về sự thuyết giảng, tịnh thủy về người thọ nhận, tịnh thủy về Phạm hạnh.
Tịnh thủy về sự thuyết giảng là gì? Là sự phát biểu, sự thuyết giảng, sự làm cho nhận biết, sự thiết lập, sự phô bày, sự phân giải, hành động làm rõ về bốn Chân Lý cao thượng … về bốn sự thiết lập niệm … về bốn chánh cần … về bốn nền tảng của thần thông … về năm quyền … về năm lực … về bảy chi phần đưa đến giác ngộ … về Thánh Đạo tám chi phần; đây là tịnh thủy về sự thuyết giảng. (1)
Tịnh thủy về người thọ nhận là gì? Là các tỳ khưu, các tỳ khưu ni, các nam cư sĩ, các nữ cư sĩ, chư thiên, nhân loại, hoặc bất cứ những ai khác là người hiểu biết; đây là tịnh thủy về người thọ nhận. (2)
Tịnh thủy về Phạm hạnh là gì? Điều này chính là Thánh Đạo tám chi phần tức là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định; đây là tịnh thủy về Phạm hạnh. (3)
‘Tịnh thủy về cương quyết là tín quyền, không có đức tin là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã không có đức tin, uống tịnh thủy cương quyết của tín quyền’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về ra sức là tấn quyền, biếng nhác là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã biếng nhác, uống tịnh thủy ra sức của tấn quyền’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về thiết lập là niệm quyền, buông lung là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã buông lung, uống tịnh thủy thiết lập của niệm quyền’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về không tản mạn là định quyền, phóng dật là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã phóng dật, uống tịnh thủy không tản mạn của định quyền’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về nhận thức là tuệ quyền, vô minh là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã vô minh, uống tịnh thủy nhận thức của tuệ quyền’ là tịnh thủy nên uống.
‘Tịnh thủy về không dao động ở sự không có đức tin là tín lực, không có đức tin là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã không có đức tin, uống tịnh thủy không dao động ở sự không có đức tin của tín lực’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự biếng nhác là tấn lực, biếng nhác là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã biếng nhác, uống tịnh thủy không dao động ở sự biếng nhác của tấn lực’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự buông lung là niệm lực, buông lung là cặn bã; ‘sau khi loại bỏ cặn bã buông lung, uống tịnh thủy không dao động ở sự
buông lung của niệm lực’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự phóng dật là định lực, phóng dật là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã phóng dật, uống tịnh thủy không dao động ở sự phóng dật của định lực’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự không sáng suốt là tuệ lực, vô minh là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã vô minh, uống tịnh thủy không dao động ở sự không sáng suốt của tuệ lực’ là tịnh thủy nên uống.
‘Tịnh thủy về thiết lập là niệm giác chi, sự buông lung là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã buông lung, uống tịnh thủy thiết lập của niệm giác chi’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về suy xét là trạch pháp giác chi, vô minh là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã vô minh, uống tịnh thủy suy xét của trạch pháp giác chi’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về ra sức là cần giác chi, sự biếng nhác là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã biếng nhác, uống tịnh thủy ra sức của cần giác chi’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về lan tỏa là hỷ giác chi, trạng thái bực bội là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã trạng thái bực bội, uống tịnh thủy lan tỏa của hỷ giác chi’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về an tịnh là tịnh giác chi, sự thô xấu là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã thô xấu, uống tịnh thủy an tịnh của tịnh giác chi’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về không tản mạn là định giác chi, sự phóng dật là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã phóng dật, uống tịnh thủy không tản mạn của định giác chi’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về sự phân biệt rõ là xả giác chi, sự không phân biệt rõ là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã không phân biệt rõ, uống tịnh thủy sự phân biệt rõ của xả giác chi’ là tịnh thủy nên uống.
‘Tịnh thủy về nhận thức là chánh kiến, tà kiến là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã tà kiến, uống tịnh thủy nhận thức của chánh kiến’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về gắn chặt (tâm vào cảnh) là chánh tư duy, tà tư duy là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã tà tư duy, uống tịnh thủy gắn chặt (tâm vào cảnh) của chánh tư duy’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về gìn giữ là chánh ngữ, tà ngữ là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã tà ngữ, uống tịnh thủy gìn giữ của chánh ngữ’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về nguồn sanh khởi là chánh nghiệp, tà nghiệp là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã tà nghiệp, uống tịnh thủy nguồn sanh khởi của chánh nghiệp’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về trong sạch là chánh mạng, tà mạng là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã tà mạng, uống tịnh thủy trong sạch của chánh mạng’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về ra sức là chánh tinh tấn, tà tinh tấn là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã tà tinh tấn, uống tịnh thủy ra sức của chánh tinh tấn’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về thiết lập là chánh niệm, tà niệm là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã tà niệm, uống tịnh thủy thiết lập của chánh niệm’ là tịnh thủy nên uống. ‘Tịnh thủy về không tản mạn là chánh định, tà định là cặn bã; sau khi loại bỏ cặn bã tà định, uống tịnh thủy không tản mạn của chánh định’ là tịnh thủy nên uống.
Có tịnh thủy, có vật nên uống, có cặn bã.
Tịnh thủy về cương quyết là tín quyền, không có đức tin là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về ra sức là tấn quyền, biếng nhác là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về thiết lập là niệm quyền, buông lung là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về không tản mạn là định quyền, phóng dật là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về nhận thức là tuệ quyền, vô minh là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống.
Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự không có đức tin là tín lực, sự không có đức tin là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự biếng nhác là tấn lực, sự biếng nhác là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự buông lung là niệm lực, sự buông lung là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự phóng dật là định lực, sự phóng dật là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự không sáng suốt là tuệ lực, vô minh là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống.
Tịnh thủy về thiết lập là niệm giác chi, buông lung là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về suy xét là trạch pháp giác chi, vô minh là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về ra sức là cần giác chi, sự biếng nhác là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về lan tỏa là hỷ giác chi, trạng thái bực bội là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về an tịnh là tịnh giác chi, sự thô xấu là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về không tản mạn là định giác chi, sự phóng dật là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về sự phân biệt rõ là xả giác chi, sự không phân biệt rõ là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống.
Tịnh thủy về nhận thức là chánh kiến, tà kiến là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về gắn chặt (tâm vào cảnh) là chánh tư duy, tà tư duy là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về gìn giữ là chánh ngữ, tà ngữ là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về nguồn sanh khởi là chánh nghiệp, tà nghiệp là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về trong sạch là chánh mạng, tà mạng là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về ra sức là chánh tinh tấn, tà tinh tấn là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về thiết lập là chánh niệm, tà niệm là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống. Tịnh thủy về không tản mạn là chánh định, tà định là cặn bã. Ở đây, điều gì là cốt lõi của ý nghĩa, cốt lõi của Pháp, cốt lõi của giải thoát, điều ấy là nên uống.
Tịnh thủy về nhận thức là chánh kiến, tịnh thủy về gắn chặt (tâm vào cảnh) là chánh tư duy, tịnh thủy về gìn giữ là chánh ngữ, tịnh thủy về nguồn sanh khởi là chánh nghiệp, tịnh thủy về trong sạch là chánh mạng, tịnh thủy về ra sức là chánh tinh tấn, tịnh thủy về thiết lập là chánh niệm, tịnh thủy về không tản mạn là chánh định.
Tịnh thủy về thiết lập là niệm giác chi, tịnh thủy về suy xét là trạch pháp giác chi, tịnh thủy về nỗ lực là cần giác chi, tịnh thủy về lan tỏa là hỷ giác chi, tịnh thủy về an tịnh là tịnh giác chi, tịnh thủy về không tản mạn là định giác chi, tịnh thủy về sự phân biệt rõ là xả giác chi.
Tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự không có đức tin là tín lực, tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự biếng nhác là tấn lực, tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự buông lung là niệm lực, tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự phóng dật là định lực, tịnh thủy về tính chất không dao động ở sự không sáng suốt là tuệ lực.
Tịnh thủy về cương quyết là tín lực, tịnh thủy về ra sức là tấn lực, tịnh thủy về thiết lập là niệm lực, tịnh thủy về không tản mạn là định lực, tịnh thủy về nhận thức là tuệ lực.
Theo ý nghĩa pháp chủ đạo, quyền là tịnh thủy; theo ý nghĩa không dao động, lực là tịnh thủy; theo ý nghĩa dẫn xuất (ra khỏi luân hồi), giác chi là tịnh thủy; theo ý nghĩa chủng tử, Đạo là tịnh thủy; theo ý nghĩa thiết lập, sự thiết lập niệm là tịnh thủy; theo ý nghĩa nỗ lực, chánh tinh tấn là tịnh thủy; theo ý nghĩa thành tựu, nền tảng của thần thông là tịnh thủy; theo ý nghĩa của thực thể, các chân lý là tịnh thủy; theo ý nghĩa không tàn mạn, chỉ tịnh là tịnh thủy, theo ý nghĩa quán xét, minh sát là tịnh thủy; theo ý nghĩa nhất vị, chỉ tịnh và minh sát là tịnh thủy; theo ý nghĩa không vượt trội, sự kết hợp chung là tịnh thủy; theo ý nghĩa thu thúc, giới thanh tịnh là tịnh thủy; theo ý nghĩa không tản mạn, tâm thanh tịnh là tịnh thủy; theo ý nghĩa nhận thức, kiến thanh tịnh là tịnh thủy; theo ý nghĩa thấu triệt, minh là tịnh thủy; theo ý nghĩa buông bỏ, sự giải thoát là tịnh thủy; theo ý nghĩa đoạn trừ, trí về sự đoạn tận là tịnh thủy; theo ý nghĩa tịnh lặng, trí không chấp thủ là tịnh thủy.
Ước muốn theo ý nghĩa nguồn cội là tịnh thủy, tác ý theo ý nghĩa nguồn sanh khởi là tịnh thủy, xúc theo ý nghĩa liên kết là tịnh thủy, thọ theo ý nghĩa hội tụ là tịnh thủy, định theo ý nghĩa dẫn đầu là tịnh thủy, niệm theo ý nghĩa pháp chủ đạo là tịnh thủy, tuệ theo ý nghĩa cao thượng trong các pháp thiện là tịnh thủy, sự giải thoát theo ý nghĩa cốt lỏi là tịnh thủy, Niết Bàn liên quan đến bất tử theo ý nghĩa kết thúc là tịnh thủy.
Phần giảng về Tịnh Thủy Nên Uống được đầy đủ.
Tụng phẩm thứ tư.
Phẩm Chính Yếu là phẩm thứ nhất.Phần tóm lược của phẩm này là:
Trí, kiến, hơi thở vào,
quyền, giải thoát thứ năm,
cõi, nghiệp, lầm lạc, Đạo,
tịnh thủy, thảy là mười.
Phẩm thứ nhất, cao quý, tuyệt vời, không gì sánh được này đã được xác lập do các vị chuyên trì tụng về các Bộ Kinh.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
238. ‘‘Maṇḍapeyyamidaṃ, bhikkhave, brahmacariyaṃ. Satthā sammukhībhūto tidhattamaṇḍo †. Satthari sammukhībhūte desanāmaṇḍo, paṭiggahamaṇḍo, brahmacariyamaṇḍo’’.
238. Monks, this holy life is an essence-drink, and the Teacher is present. While the Teacher is present, the essence is threefold: the essence of the teaching, the essence of the recipient, and the essence of the holy life.
238. Này các Tỳ khưu, phạm hạnh này là tinh túy có thể uống được. Bậc Đạo Sư hiện diện, tinh túy có ba loại. Khi bậc Đạo Sư hiện diện, có tinh túy của sự thuyết giảng, tinh túy của sự tiếp nhận, và tinh túy của phạm hạnh.
Katamo desanāmaṇḍo? Catunnaṃ ariyasaccānaṃ ācikkhanā desanā paññāpanā paṭṭhapanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammaṃ †, catunnaṃ satipaṭṭhānānaṃ…pe… catunnaṃ sammappadhānānaṃ… catunnaṃ iddhipādānaṃ… pañcannaṃ indriyānaṃ… pañcannaṃ balānaṃ… sattannaṃ bojjhaṅgānaṃ… ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa ācikkhanā desanā paññāpanā paṭṭhapanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammaṃ – ayaṃ desanāmaṇḍo.
What is the essence of the teaching? It is the declaration, instruction, proclaiming, establishment, elucidation, analysis, and making plain of the four noble truths... of the four foundations of mindfulness... of the four right efforts... of the four bases of spiritual power... of the five faculties... of the five powers... of the seven factors of enlightenment... of the Noble Eightfold Path—this is the essence of the teaching.
Thế nào là tinh túy của sự thuyết giảng? Đó là sự chỉ dạy, thuyết giảng, công bố, thiết lập, khai mở, phân tích, làm cho rõ ràng về bốn Thánh đế; về bốn niệm xứ... cho đến... về bốn chánh cần... về bốn như ý túc... về năm quyền... về năm lực... về bảy giác chi... về Thánh đạo Tám ngành, đó là sự chỉ dạy, thuyết giảng, công bố, thiết lập, khai mở, phân tích, làm cho rõ ràng. Đây là tinh túy của sự thuyết giảng.
Katamo paṭiggahamaṇḍo? Bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo devā manussā ye vā panaññepi keci viññātāro – ayaṃ paṭiggahamaṇḍo.
What is the essence of the recipient? Monks, nuns, laymen, laywomen, deities, humans, or any other beings who are able to comprehend—this is the essence of the recipient.
Thế nào là tinh túy của sự tiếp nhận? Đó là các Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, chư thiên, loài người, hoặc bất cứ những ai khác có khả năng hiểu biết. Đây là tinh túy của sự tiếp nhận.
Katamo brahmacariyamaṇḍo? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ – sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi – ayaṃ brahmacariyamaṇḍo.
What is the essence of the holy life? It is just this Noble Eightfold Path, namely: right view, right intention, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right concentration—this is the essence of the holy life.
Thế nào là tinh túy của phạm hạnh? Chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Đây là tinh túy của phạm hạnh.
239. Adhimokkhamaṇḍo saddhindriyaṃ, assaddhiyaṃ kasaṭo; assaddhiyaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā saddhindriyassa adhimokkhamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Paggahamaṇḍo vīriyindriyaṃ, kosajjaṃ kasaṭo; kosajjaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā vīriyindriyassa paggahamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Upaṭṭhānamaṇḍo satindriyaṃ, pamādo kasaṭo; pamādaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā satindriyassa upaṭṭhānamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Avikkhepamaṇḍo samādhindriyaṃ, uddhaccaṃ kasaṭo; uddhaccaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā samādhindriyassa avikkhepamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Dassanamaṇḍo paññindriyaṃ, avijjaṃ kasaṭo; avijjaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā paññindriyassa dassanamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ.
239. The essence of resolve is the faculty of faith; faithlessness is the dregs. Having discarded the dregs of faithlessness, one drinks the essence of resolve of the faculty of faith; hence, it is an essence-drink. The essence of exertion is the faculty of energy; laziness is the dregs. Having discarded the dregs of laziness, one drinks the essence of exertion of the faculty of energy; hence, it is an essence-drink. The essence of establishment is the faculty of mindfulness; heedlessness is the dregs. Having discarded the dregs of heedlessness, one drinks the essence of establishment of the faculty of mindfulness; hence, it is an essence-drink. The essence of non-distraction is the faculty of concentration; restlessness is the dregs. Having discarded the dregs of restlessness, one drinks the essence of non-distraction of the faculty of concentration; hence, it is an essence-drink. The essence of seeing is the faculty of wisdom; ignorance is the dregs. Having discarded the dregs of ignorance, one drinks the essence of seeing of the faculty of wisdom; hence, it is an essence-drink.
239. Phần tinh túy của sự quyết đoán là tín quyền, sự bất tín là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là sự bất tín, vị ấy uống phần tinh túy của sự quyết đoán của tín quyền – nên gọi là phần tinh túy đáng được uống. Phần tinh túy của sự nỗ lực là tấn quyền, sự lười biếng là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là sự lười biếng, vị ấy uống phần tinh túy của sự nỗ lực của tấn quyền – nên gọi là phần tinh túy đáng được uống. Phần tinh túy của sự an trú là niệm quyền, sự phóng dật là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là sự phóng dật, vị ấy uống phần tinh túy của sự an trú của niệm quyền – nên gọi là phần tinh túy đáng được uống. Phần tinh túy của sự không phân tán là định quyền, sự trạo cử là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là sự trạo cử, vị ấy uống phần tinh túy của sự không phân tán của định quyền – nên gọi là phần tinh túy đáng được uống. Phần tinh túy của sự thấy là tuệ quyền, vô minh là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là vô minh, vị ấy uống phần tinh túy của sự thấy của tuệ quyền – nên gọi là phần tinh túy đáng được uống.
Assaddhiye akampiyamaṇḍo saddhābalaṃ, assaddhiyaṃ kasaṭo; assaddhiyaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā saddhābalassa assaddhiye akampiyamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Kosajje akampiyamaṇḍo vīriyabalaṃ, kosajjaṃ kasaṭo; kosajjaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā vīriyabalassa kosajje akampiyamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Pamāde akampiyamaṇḍo satibalaṃ, pamādo kasaṭo; pamādaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā satibalassa pamāde akampiyamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Uddhacce akampiyamaṇḍo samādhibalaṃ, uddhaccaṃ kasaṭo; uddhaccaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā samādhibalassa uddhacce akampiyamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Avijjāya akampiyamaṇḍo paññābalaṃ, avijjā kasaṭo; avijjaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā paññābalassa avijjāya akampiyamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ.
The unshakable essence in faithlessness is the power of faith; faithlessness is the dregs. Having discarded the dregs of faithlessness, one drinks the unshakable essence of the power of faith in faithlessness; therefore, it is called an essence-drink. The unshakable essence in laziness is the power of energy; laziness is the dregs. Having discarded the dregs of laziness, one drinks the unshakable essence of the power of energy in laziness; therefore, it is called an essence-drink. The unshakable essence in heedlessness is the power of mindfulness; heedlessness is the dregs. Having discarded the dregs of heedlessness, one drinks the unshakable essence of the power of mindfulness in heedlessness; therefore, it is called an essence-drink. The unshakable essence in restlessness is the power of concentration; restlessness is the dregs. Having discarded the dregs of restlessness, one drinks the unshakable essence of the power of concentration in restlessness; therefore, it is called an essence-drink. The unshakable essence in ignorance is the power of wisdom; ignorance is the dregs. Having discarded the dregs of ignorance, one drinks the unshakable essence of the power of wisdom in ignorance; therefore, it is called an essence-drink.
Trong sự không có đức tin, tinh túy không lay động là tín lực, sự không có đức tin là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là sự không có đức tin, vị ấy uống tinh túy không lay động của tín lực trong sự không có đức tin – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được. Trong sự lười biếng, tinh túy không lay động là tấn lực, sự lười biếng là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là sự lười biếng, vị ấy uống tinh túy không lay động của tấn lực trong sự lười biếng – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được. Trong sự phóng dật, tinh túy không lay động là niệm lực, sự phóng dật là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là sự phóng dật, vị ấy uống tinh túy không lay động của niệm lực trong sự phóng dật – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được. Trong sự trạo cử, tinh túy không lay động là định lực, sự trạo cử là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là sự trạo cử, vị ấy uống tinh túy không lay động của định lực trong sự trạo cử – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được. Trong vô minh, tinh túy không lay động là tuệ lực, vô minh là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là vô minh, vị ấy uống tinh túy không lay động của tuệ lực trong vô minh – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được.
Upaṭṭhānamaṇḍo satisambojjhaṅgā, pamādo kasaṭo; pamādaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā satisambojjhaṅgassa upaṭṭhānamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Pavicayamaṇḍo dhammavicayasambojjhaṅgo, avijjā kasaṭo; avijjaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā dhammavicayasambojjhaṅgassa pavicayamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Paggahamaṇḍo vīriyasambojjhaṅgo, kosajjaṃ kasaṭo; kosajjaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā vīriyasambojjhaṅgassa paggahamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Pharaṇamaṇḍo pītisambojjhaṅgo, pariḷāho kasaṭo; pariḷāhaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā pītisambojjhaṅgassa pharaṇamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Upasamamaṇḍo passaddhisambojjhaṅgo, duṭṭhullaṃ kasaṭo; duṭṭhullaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā passaddhisambojjhaṅgassa upasamamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Avikkhepamaṇḍo samādhisambojjhaṅgo, uddhaccaṃ kasaṭo; uddhaccaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā samādhisambojjhaṅgassa avikkhepamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Paṭisaṅkhānamaṇḍo upekkhāsambojjhaṅgo, appaṭisaṅkhā kasaṭo; appaṭisaṅkhaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā upekkhāsambojjhaṅgassa paṭisaṅkhānamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ.
The essence of establishment is the mindfulness enlightenment factor; heedlessness is the dregs. Having discarded the dregs of heedlessness, one drinks the essence of establishment of the mindfulness enlightenment factor—thus, it is an essence-drink. The essence of investigation is the investigation of phenomena enlightenment factor; ignorance is the dregs. Having discarded the dregs of ignorance, one drinks the essence of investigation of the investigation of phenomena enlightenment factor—thus, it is an essence-drink. The essence of exertion is the energy enlightenment factor; laziness is the dregs. Having discarded the dregs of laziness, one drinks the essence of exertion of the energy enlightenment factor—thus, it is an essence-drink. The essence of pervasion is the rapture enlightenment factor; burning is the dregs. Having discarded the dregs of burning, one drinks the essence of pervasion of the rapture enlightenment factor—thus, it is an essence-drink. The essence of tranquilization is the tranquility enlightenment factor; coarseness is the dregs. Having discarded the dregs of coarseness, one drinks the essence of tranquilization of the tranquility enlightenment factor—thus, it is an essence-drink. The essence of non-distraction is the concentration enlightenment factor; restlessness is the dregs. Having discarded the dregs of restlessness, one drinks the essence of non-distraction of the concentration enlightenment factor—thus, it is an essence-drink. The essence of reflection is the equanimity enlightenment factor; non-reflection is the dregs. Having discarded the dregs of non-reflection, one drinks the essence of reflection of the equanimity enlightenment factor—thus, it is an essence-drink.
Tinh túy của sự an trú là niệm giác chi, sự phóng dật là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là sự phóng dật, vị ấy uống tinh túy của sự an trú của niệm giác chi – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được. Tinh túy của sự thẩm sát là trạch pháp giác chi, vô minh là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là vô minh, vị ấy uống tinh túy của sự thẩm sát của trạch pháp giác chi – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được. Tinh túy của sự nỗ lực là tấn giác chi, sự lười biếng là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là sự lười biếng, vị ấy uống tinh túy của sự nỗ lực của tấn giác chi – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được. Tinh túy của sự lan tỏa là hỷ giác chi, sự phiền muộn là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là sự phiền muộn, vị ấy uống tinh túy của sự lan tỏa của hỷ giác chi – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được. Tinh túy của sự an tịnh là khinh an giác chi, sự thô trược là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là sự thô trược, vị ấy uống tinh túy của sự an tịnh của khinh an giác chi – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được. Tinh túy của sự không phân tán là định giác chi, sự trạo cử là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là sự trạo cử, vị ấy uống tinh túy của sự không phân tán của định giác chi – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được. Tinh túy của sự quán xét là xả giác chi, sự không quán xét là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là sự không quán xét, vị ấy uống tinh túy của sự quán xét của xả giác chi – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được.
Dassanamaṇḍo sammādiṭṭhi, micchādiṭṭhi kasaṭo; micchādiṭṭhiṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā sammādiṭṭhiyā dassanamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Abhiniropanamaṇḍo sammāsaṅkappo, micchāsaṅkappo kasaṭo; micchāsaṅkappaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā sammāsaṅkappassa abhiniropanamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Pariggahamaṇḍo sammāvācā, micchāvācā kasaṭo; micchāvācaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā sammāvācāya pariggahamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Samuṭṭhānamaṇḍo sammākammanto, micchākammanto kasaṭo; micchākammantaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā sammākammantassa samuṭṭhānamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Vodānamaṇḍo sammāājīvo, micchāājīvo kasaṭo; micchāājīvaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā sammāājīvassa vodānamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Paggahamaṇḍo sammāvāyāmo, micchāvāyāmo kasaṭo; micchāvāyāmaṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā sammāvāyāmassa paggahamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Upaṭṭhānamaṇḍo sammāsati, micchāsati kasaṭo; micchāsatiṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā sammāsatiyā upaṭṭhānamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ. Avikkhepamaṇḍo sammāsamādhi, micchāsamādhi kasaṭo; micchāsamādhiṃ kasaṭaṃ chaḍḍetvā sammāsamādhissa avikkhepamaṇḍaṃ pivatīti – maṇḍapeyyaṃ.
The cream of vision is right view; wrong view is the dregs. Having discarded the dregs of wrong view, one drinks the cream of vision of right view; therefore, it is the cream-drink. The cream of application is right intention; wrong intention is the dregs. Having discarded the dregs of wrong intention, one drinks the cream of application of right intention; therefore, it is the cream-drink. The cream of comprehension is right speech; wrong speech is the dregs. Having discarded the dregs of wrong speech, one drinks the cream of comprehension of right speech; therefore, it is the cream-drink. The cream of origination is right action; wrong action is the dregs. Having discarded the dregs of wrong action, one drinks the cream of origination of right action; therefore, it is the cream-drink. The cream of purification is right livelihood; wrong livelihood is the dregs. Having discarded the dregs of wrong livelihood, one drinks the cream of purification of right livelihood; therefore, it is the cream-drink. The cream of exertion is right effort; wrong effort is the dregs. Having discarded the dregs of wrong effort, one drinks the cream of exertion of right effort; therefore, it is the cream-drink. The cream of establishment is right mindfulness; wrong mindfulness is the dregs. Having discarded the dregs of wrong mindfulness, one drinks the cream of establishment of right mindfulness; therefore, it is the cream-drink. The cream of non-distraction is right concentration; wrong concentration is the dregs. Having discarded the dregs of wrong concentration, one drinks the cream of non-distraction of right concentration; therefore, it is the cream-drink.
Tinh túy của sự thấy là chánh kiến, tà kiến là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là tà kiến, vị ấy uống tinh túy của sự thấy của chánh kiến – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được. Tinh túy của sự hướng đến là chánh tư duy, tà tư duy là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là tà tư duy, vị ấy uống tinh túy của sự hướng đến của chánh tư duy – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được. Tinh túy của sự thâu nhiếp là chánh ngữ, tà ngữ là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là tà ngữ, vị ấy uống tinh túy của sự thâu nhiếp của chánh ngữ – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được. Tinh túy của sự khởi lên là chánh nghiệp, tà nghiệp là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là tà nghiệp, vị ấy uống tinh túy của sự khởi lên của chánh nghiệp – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được. Tinh túy của sự trong sạch là chánh mạng, tà mạng là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là tà mạng, vị ấy uống tinh túy của sự trong sạch của chánh mạng – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được. Tinh túy của sự nỗ lực là chánh tinh tấn, tà tinh tấn là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là tà tinh tấn, vị ấy uống tinh túy của sự nỗ lực của chánh tinh tấn – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được. Tinh túy của sự an trú là chánh niệm, tà niệm là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là tà niệm, vị ấy uống tinh túy của sự an trú của chánh niệm – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được. Tinh túy của sự không phân tán là chánh định, tà định là cặn bã; sau khi từ bỏ cặn bã là tà định, vị ấy uống tinh túy của sự không phân tán của chánh định – (cho nên được gọi là) tinh túy có thể uống được.
240. Atthi maṇḍo, atthi peyyaṃ, atthi kasaṭo. Adhimokkhamaṇḍo saddhindriyaṃ, assaddhiyaṃ kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Paggahamaṇḍo vīriyindriyaṃ, kosajjaṃ kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Upaṭṭhānamaṇḍo satindriyaṃ, pamādo kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Avikkhepamaṇḍo samādhindriyaṃ, uddhaccaṃ kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Dassanamaṇḍo paññindriyaṃ, avijjā kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ.
240. There is the cream, there is the drink, there are the dregs. The cream of conviction is the faculty of faith; lack of faith is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream of striving is the faculty of energy; sloth is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream of attending is the faculty of mindfulness; heedlessness is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream of non-distraction is the faculty of concentration; restlessness is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream of seeing is the faculty of wisdom; ignorance is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, the savor of liberation found therein—this is the drink.
240. Có tinh túy, có cái có thể uống được, có cặn bã. Tinh túy của sự quyết đoán là tín quyền, sự không có đức tin là cặn bã; vị nào của ý nghĩa, vị của Pháp, vị của giải thoát ở nơi ấy – đây là cái có thể uống được. Tinh túy của sự nỗ lực là tấn quyền, sự lười biếng là cặn bã; vị nào của ý nghĩa, vị của Pháp, vị của giải thoát ở nơi ấy – đây là cái có thể uống được. Tinh túy của sự an trú là niệm quyền, sự phóng dật là cặn bã; vị nào của ý nghĩa, vị của Pháp, vị của giải thoát ở nơi ấy – đây là cái có thể uống được. Tinh túy của sự không phân tán là định quyền, sự trạo cử là cặn bã; vị nào của ý nghĩa, vị của Pháp, vị của giải thoát ở nơi ấy – đây là cái có thể uống được. Tinh túy của sự thấy là tuệ quyền, vô minh là cặn bã; vị nào của ý nghĩa, vị của Pháp, vị của giải thoát ở nơi ấy – đây là cái có thể uống được.
Assaddhiye akampiyamaṇḍo saddhābalaṃ, assaddhiyaṃ kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Kosajje akampiyamaṇḍo vīriyabalaṃ, kosajjaṃ kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Pamāde akampiyamaṇḍo satibalaṃ, pamādo kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Uddhacce akampiyamaṇḍo samādhibalaṃ, uddhaccaṃ kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Avijjāya akampiyamaṇḍo paññābalaṃ, avijjā kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ.
The cream unshaken by lack of faith is the power of faith; lack of faith is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream unshaken by sloth is the power of energy; sloth is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream unshaken by heedlessness is the power of mindfulness; heedlessness is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream unshaken by restlessness is the power of concentration; restlessness is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream unshaken by ignorance is the power of wisdom; ignorance is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, the savor of liberation found therein—this is the drink.
Trong sự không có đức tin, tinh túy không lay động là tín lực, sự không có đức tin là cặn bã; vị nào của ý nghĩa, vị của Pháp, vị của giải thoát ở nơi ấy – đây là cái có thể uống được. Trong sự lười biếng, tinh túy không lay động là tấn lực, sự lười biếng là cặn bã; vị nào của ý nghĩa, vị của Pháp, vị của giải thoát ở nơi ấy – đây là cái có thể uống được. Trong sự phóng dật, tinh túy không lay động là niệm lực, sự phóng dật là cặn bã; vị nào của ý nghĩa, vị của Pháp, vị của giải thoát ở nơi ấy – đây là cái có thể uống được. Trong sự trạo cử, tinh túy không lay động là định lực, sự trạo cử là cặn bã; vị nào của ý nghĩa, vị của Pháp, vị của giải thoát ở nơi ấy – đây là cái có thể uống được. Trong vô minh, tinh túy không lay động là tuệ lực, vô minh là cặn bã; vị nào của ý nghĩa, vị của Pháp, vị của giải thoát ở nơi ấy – đây là cái có thể uống được.
Upaṭṭhānamaṇḍo satisambojjhaṅgo, pamādo kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Pavicayamaṇḍo dhammavicayasambojjhaṅgo, avijjā kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Paggahamaṇḍo vīriyasambojjhaṅgo, kosajjaṃ kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Pharaṇamaṇḍo pītisambojjhaṅgo, pariḷāho kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Upasamamaṇḍo passaddhisambojjhaṅgo, duṭṭhullaṃ kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Avikkhepamaṇḍo samādhisambojjhaṅgo, uddhaccaṃ kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Paṭisaṅkhānamaṇḍo upekkhāsambojjhaṅgo, apaṭisaṅkhā kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ.
The cream of establishment is the enlightenment factor of mindfulness; negligence is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, and the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream of investigation is the enlightenment factor of the investigation of phenomena; ignorance is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, and the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream of exertion is the enlightenment factor of energy; laziness is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, and the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream of pervasion is the enlightenment factor of rapture; agitation is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, and the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream of calming is the enlightenment factor of tranquility; coarseness is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, and the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream of non-distraction is the enlightenment factor of concentration; restlessness is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, and the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream of contemplation is the enlightenment factor of equanimity; non-contemplation is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, and the savor of liberation found therein—this is the drink.
Sự an trú trong sáng là niệm giác chi, sự phóng dật là cặn bã; vị nghĩa, vị pháp, vị giải thoát nào có ở trong đó – đây là thức uống. Sự trạch pháp trong sáng là trạch pháp giác chi, vô minh là cặn bã; vị nghĩa, vị pháp, vị giải thoát nào có ở trong đó – đây là thức uống. Sự nỗ lực trong sáng là tinh tấn giác chi, sự biếng nhác là cặn bã; vị nghĩa, vị pháp, vị giải thoát nào có ở trong đó – đây là thức uống. Sự lan tỏa trong sáng là hỷ giác chi, sự phiền não là cặn bã; vị nghĩa, vị pháp, vị giải thoát nào có ở trong đó – đây là thức uống. Sự an tịnh trong sáng là khinh an giác chi, sự thô trược là cặn bã; vị nghĩa, vị pháp, vị giải thoát nào có ở trong đó – đây là thức uống. Sự không phân tán trong sáng là định giác chi, sự trạo cử là cặn bã; vị nghĩa, vị pháp, vị giải thoát nào có ở trong đó – đây là thức uống. Sự quán xét trong sáng là xả giác chi, sự không quán xét là cặn bã; vị nghĩa, vị pháp, vị giải thoát nào có ở trong đó – đây là thức uống.
Dassanamaṇḍo sammādiṭṭhi, micchādiṭṭhi kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Abhiniropanamaṇḍo sammāsaṅkappo, micchāsaṅkappo kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Pariggahamaṇḍo sammāvācā, micchāvācā kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Samuṭṭhānamaṇḍo sammākammanto, micchākammanto kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Vodānamaṇḍo sammāājīvo, micchāājīvo kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Paggahamaṇḍo sammāvāyāmo, micchāvāyāmo kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Upaṭṭhānamaṇḍo sammāsati, micchāsati kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ. Avikkhepamaṇḍo sammāsamādhi, micchāsamādhi kasaṭo; yo tattha attharaso dhammaraso vimuttiraso – idaṃ peyyaṃ.
The cream of vision is right view; wrong view is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream of application is right intention; wrong intention is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream of restraint is right speech; wrong speech is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream of origination is right action; wrong action is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream of purification is right livelihood; wrong livelihood is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream of exertion is right effort; wrong effort is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream of establishment is right mindfulness; wrong mindfulness is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, the savor of liberation found therein—this is the drink. The cream of non-distraction is right concentration; wrong concentration is the dregs. The savor of meaning, the savor of the Dhamma, the savor of liberation found therein—this is the drink.
Sự thấy trong sáng là chánh kiến, tà kiến là cặn bã; vị nghĩa, vị pháp, vị giải thoát nào có ở trong đó – đây là thức uống. Sự hướng đến trong sáng là chánh tư duy, tà tư duy là cặn bã; vị nghĩa, vị pháp, vị giải thoát nào có ở trong đó – đây là thức uống. Sự thu thúc trong sáng là chánh ngữ, tà ngữ là cặn bã; vị nghĩa, vị pháp, vị giải thoát nào có ở trong đó – đây là thức uống. Sự khởi lên trong sáng là chánh nghiệp, tà nghiệp là cặn bã; vị nghĩa, vị pháp, vị giải thoát nào có ở trong đó – đây là thức uống. Sự trong sạch trong sáng là chánh mạng, tà mạng là cặn bã; vị nghĩa, vị pháp, vị giải thoát nào có ở trong đó – đây là thức uống. Sự nỗ lực trong sáng là chánh tinh tấn, tà tinh tấn là cặn bã; vị nghĩa, vị pháp, vị giải thoát nào có ở trong đó – đây là thức uống. Sự an trú trong sáng là chánh niệm, tà niệm là cặn bã; vị nghĩa, vị pháp, vị giải thoát nào có ở trong đó – đây là thức uống. Sự không phân tán trong sáng là chánh định, tà định là cặn bã; vị nghĩa, vị pháp, vị giải thoát nào có ở trong đó – đây là thức uống.
Dassanamaṇḍo sammādiṭṭhi… abhiniropanamaṇḍo sammāsaṅkappo… pariggahamaṇḍo sammāvācā… samuṭṭhānamaṇḍo sammākammanto… vodānamaṇḍo sammāājīvo… paggahamaṇḍo sammāvāyāmo… upaṭṭhānamaṇḍo sammāsati… avikkhepamaṇḍo sammāsamādhi.
The cream of vision is right view… the cream of application is right intention… the cream of restraint is right speech… the cream of origination is right action… the cream of purification is right livelihood… the cream of exertion is right effort… the cream of establishment is right mindfulness… the cream of non-distraction is right concentration.
Sự thấy trong sáng là chánh kiến… sự hướng đến trong sáng là chánh tư duy… sự thu thúc trong sáng là chánh ngữ… sự khởi lên trong sáng là chánh nghiệp… sự trong sạch trong sáng là chánh mạng… sự nỗ lực trong sáng là chánh tinh tấn… sự an trú trong sáng là chánh niệm… sự không phân tán trong sáng là chánh định.
Upaṭṭhānamaṇḍo satisambojjhaṅgo… pavicayamaṇḍo dhammavicayasambojjhaṅgo… paggahamaṇḍo vīriyasambojjhaṅgo… pharaṇamaṇḍo pītisambojjhaṅgo… upasamamaṇḍo passaddhisambojjhaṅgo… avikkhepamaṇḍo samādhisambojjhaṅgo… paṭisaṅkhānamaṇḍo upekkhāsambojjhaṅgo.
The cream of establishment is the enlightenment factor of mindfulness… the cream of investigation is the enlightenment factor of Dhamma-investigation… the cream of exertion is the enlightenment factor of energy… the cream of pervading is the enlightenment factor of rapture… the cream of calming is the enlightenment factor of tranquility… the cream of non-distraction is the enlightenment factor of concentration… the cream of contemplation is the enlightenment factor of equanimity.
Sự an trú trong sáng là niệm giác chi… sự trạch pháp trong sáng là trạch pháp giác chi… sự nỗ lực trong sáng là tinh tấn giác chi… sự lan tỏa trong sáng là hỷ giác chi… sự an tịnh trong sáng là khinh an giác chi… sự không phân tán trong sáng là định giác chi… sự quán xét trong sáng là xả giác chi.
Assaddhiye akampiyamaṇḍo saddhābalaṃ… kosajje akampiyamaṇḍo vīriyabalaṃ… pamāde akampiyamaṇḍo satibalaṃ… uddhacce akampiyamaṇḍo samādhibalaṃ… avijjāya akampiyamaṇḍo paññābalaṃ.
The cream unshaken by lack of faith is the power of faith… the cream unshaken by laziness is the power of energy… the cream unshaken by heedlessness is the power of mindfulness… the cream unshaken by restlessness is the power of concentration… the cream unshaken by ignorance is the power of wisdom.
Trong sự không có đức tin, sự không lay động trong sáng là tín lực… trong sự biếng nhác, sự không lay động trong sáng là tấn lực… trong sự phóng dật, sự không lay động trong sáng là niệm lực… trong sự trạo cử, sự không lay động trong sáng là định lực… trong vô minh, sự không lay động trong sáng là tuệ lực.
Adhimokkhamaṇḍo saddhindriyaṃ… paggahamaṇḍo vīriyindriyaṃ… upaṭṭhānamaṇḍo satindriyaṃ… avikkhepamaṇḍo samādhindriyaṃ… dassanamaṇḍo paññindriyaṃ.
The essence of resolution is the faculty of faith… the essence of exertion is the faculty of energy… the essence of establishment is the faculty of mindfulness… the essence of non-distraction is the faculty of concentration… the essence of seeing is the faculty of wisdom.
Sự quyết định trong sáng là tín quyền… sự nỗ lực trong sáng là tấn quyền… sự an trú trong sáng là niệm quyền… sự không phân tán trong sáng là định quyền… sự thấy trong sáng là tuệ quyền.
Ādhipateyyaṭṭhena indriyā maṇḍo, akampiyaṭṭhena balā maṇḍo, niyyānaṭṭhena bojjhaṅgā maṇḍo, hetuṭṭhena maggo maṇḍo, upaṭṭhānaṭṭhena satipaṭṭhānā maṇḍo, padahanaṭṭhena sammappadhānā maṇḍo, ijjhanaṭṭhena iddhipādā maṇḍo, tathaṭṭhena saccā maṇḍo, avikkhepaṭṭhena samatho maṇḍo, anupassanaṭṭhena vipassanā maṇḍo, ekarasaṭṭhena samathavipassanā maṇḍo, anativattanaṭṭhena yuganaddhā maṇḍo, saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi maṇḍo, avikkhepaṭṭhena cittavisuddhi maṇḍo, dassanaṭṭhena diṭṭhivisuddhi maṇḍo, muttaṭṭhena vimokkho maṇḍo, paṭivedhaṭṭhena vijjā maṇḍo, pariccāgaṭṭhena vimutti maṇḍo, samucchedaṭṭhena khaye ñāṇaṃ maṇḍo, paṭippassaddhaṭṭhena anuppāde ñāṇaṃ maṇḍo, chando mūlaṭṭhena maṇḍo, manasikāro samuṭṭhānaṭṭhena maṇḍo, phasso samodhānaṭṭhena maṇḍo, vedanā samosaraṇaṭṭhena maṇḍo, samādhi pamukhaṭṭhena maṇḍo, sati ādhipateyyaṭṭhena maṇḍo, paññā tatuttaraṭṭhena maṇḍo, vimutti sāraṭṭhena maṇḍo, amatogadhaṃ nibbānaṃ pariyosānaṭṭhena maṇḍoti.
In the sense of sovereignty, the faculties are the essence. In the sense of unshakability, the powers are the essence. In the sense of escape, the enlightenment factors are the essence. In the sense of establishment, the foundations of mindfulness are the essence. In the sense of exertion, the right efforts are the essence. In the sense of accomplishment, the bases of spiritual power are the essence. In the sense of truth, the truths are the essence. In the sense of non-distraction, serenity is the essence. In the sense of contemplation, insight is the essence. In the sense of single function, serenity and insight are the essence. In the sense of non-transgression, the yoked pair is the essence. In the sense of restraint, the purification of virtue is the essence. In the sense of non-distraction, the purification of mind is the essence. In the sense of seeing, the purification of view is the essence. In the sense of release, liberation is the essence. In the sense of penetration, direct knowledge is the essence. In the sense of relinquishment, freedom is the essence. In the sense of eradication, the knowledge of destruction is the essence. In the sense of pacification, the knowledge of non-arising is the essence. In the sense of being the root, desire is the essence. In the sense of being the origin, attention is the essence. In the sense of conjunction, contact is the essence. In the sense of convergence, feeling is the essence. In the sense of being foremost, concentration is the essence. In the sense of sovereignty, mindfulness is the essence. In the sense of transcendence, wisdom is the essence. In the sense of being the core, freedom is the essence. In the sense of culmination, Nibbāna, which is the immersion in the deathless, is the essence.
Với nghĩa là làm chủ, các quyền là sự trong sáng. Với nghĩa là không lay động, các lực là sự trong sáng. Với nghĩa là giải thoát, các giác chi là sự trong sáng. Với nghĩa là nhân, con đường là sự trong sáng. Với nghĩa là an trú, các niệm xứ là sự trong sáng. Với nghĩa là nỗ lực, các chánh cần là sự trong sáng. Với nghĩa là thành tựu, các như ý túc là sự trong sáng. Với nghĩa là chân thật, các sự thật là sự trong sáng. Với nghĩa là không phân tán, chỉ là sự trong sáng. Với nghĩa là tùy quán, quán là sự trong sáng. Với nghĩa là một vị, chỉ và quán là sự trong sáng. Với nghĩa là không vượt qua, song hành là sự trong sáng. Với nghĩa là phòng hộ, giới thanh tịnh là sự trong sáng. Với nghĩa là không phân tán, tâm thanh tịnh là sự trong sáng. Với nghĩa là thấy, kiến thanh tịnh là sự trong sáng. Với nghĩa là giải thoát, thắng giải là sự trong sáng. Với nghĩa là liễu tri, minh là sự trong sáng. Với nghĩa là từ bỏ, giải thoát là sự trong sáng. Với nghĩa là đoạn tận, đoạn tận trí là sự trong sáng. Với nghĩa là an tịnh, vô sanh trí là sự trong sáng. Dục với nghĩa là căn bản là sự trong sáng. Tác ý với nghĩa là khởi lên là sự trong sáng. Xúc với nghĩa là hội tụ là sự trong sáng. Thọ với nghĩa là tập trung là sự trong sáng. Định với nghĩa là chủ yếu là sự trong sáng. Niệm với nghĩa là làm chủ là sự trong sáng. Tuệ với nghĩa là vượt trội hơn là sự trong sáng. Giải thoát với nghĩa là cốt lõi là sự trong sáng. Niết-bàn, nơi đi vào bất tử, với nghĩa là kết thúc là sự trong sáng.
Catutthabhāṇavāro.
The fourth recitation section is concluded.
Phần tụng thứ tư.
Maṇḍapeyyakathā niṭṭhitā.
The Discourse on Maṇḍapeyya is concluded.
Phần luận về thức uống trong sáng đã kết thúc.
The first Great Chapter is concluded.
Đại phẩm thứ nhất.
Tassuddānaṃ –
Its summary:
Phần tóm lược của phẩm ấy –
Ñāṇadiṭṭhī ca assāsā, indriyaṃ vimokkhapañcamā;
Gatikammavipallāsā, maggo maṇḍena te dasāti.
Knowledge, View, Breathing, the Faculties, with Liberation as the fifth; Destiny, Kamma, Perversions, the Path, and with Maṇḍa—these are the ten.
Trí và kiến, hơi thở, quyền, và thứ năm là giải thoát; cảnh giới, nghiệp, điên đảo, con đường, và cùng với sự trong sáng, đó là mười.
Esa nikāyadharehi ṭhapito, asamo † paṭhamo pavaro
This, established by the bearers of the Nikāyas, is unequalled, first, and excellent,
Phẩm này được các vị trì giữ Nikāya thiết lập, là phẩm đầu tiên, cao quý, không gì sánh bằng.