Bản dịch
PS 1.6 — Giảng về Cõi Tái Sanh
1.6. Gatikathā
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh,* khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, các gia tộc giàu sang của gia chủ, và chư thiên dục giới, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với chư thiên sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với chư thiên vô sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân?
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân. Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, các gia tộc giàu sang của gia chủ, và chư thiên dục giới, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân. Đối với chư thiên sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân. Đối với chư thiên vô sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân.
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của 8 nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, ba nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: ‘Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi).’ Vào sát-na cận tử, hai nhân bất thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: ‘Do duyên các căn bất thiện, các hành (sanh khởi).’ Vào sát-na tục sinh, ba nhân vô ký là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên danh sắc, thức (sanh khởi), do duyên thức, danh sắc (sanh khởi).”
Vào sát-na tục sinh, năm uẩn là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, bốn đại hiển là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên. Vào sát-na tục sinh, ba sự tạo tác mạng sống* là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.
Vào sát-na tục sinh, bốn uẩn vô sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, năm quyền các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, ba nhân là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và thức là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên.
Vào sát-na tục sinh, hai mươi tám pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân này. (1)
Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, ba nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi).” Vào sát-na cận tử, hai nhân bất thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn bất thiện, các hành (sanh khởi).” Vào sát-na tục sinh, ba nhân vô ký là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên danh sắc, thức (sanh khởi), do duyên thức, danh sắc (sanh khởi).”
Vào sát-na tục sinh, năm uẩn là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, bốn đại hiển là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên. Vào sát-na tục sinh, ba sự tạo tác mạng sống là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.
Vào sát-na tục sinh, bốn uẩn vô sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, năm quyền các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, ba nhân là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và thức là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên.
Vào sát-na tục sinh, hai mươi tám pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.
Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân này. (2)
Đối với chư thiên sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, ba nhân thiện …(như trên)… Đối với chư thiên sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân này. (3)
Đối với chư thiên vô sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, ba nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi).” Vào sát-na cận tử, hai nhân bất thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn bất thiện, các hành (sanh khởi).” Vào sát-na tục sinh, ba nhân vô ký là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên danh sắc, thức (sanh khởi), do duyên thức, danh sắc (sanh khởi).”
Vào sát-na tục sinh, bốn uẩn vô sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, năm quyền là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, ba nhân là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và thức là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Đối với chư thiên vô sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân này.
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân?
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân. Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân.
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi không liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, hai nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi).” Vào sát-na cận tử, hai nhân bất thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn bất thiện, các hành (sanh khởi).”
Vào sát-na tục sinh, hai nhân vô ký là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên danh sắc, thức (sanh khởi), do duyên thức, danh sắc (sanh khởi).”
Vào sát-na tục sinh, năm uẩn là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, bốn đại hiển là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên. Vào sát-na tục sinh, ba sự tạo tác mạng sống là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, mười bốn pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.
Vào sát-na tục sinh, bốn uẩn vô sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, bốn quyền các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, hai nhân là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và thức là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, 12 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên.
Vào sát-na tục sinh, 26 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân này. (1)
Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi không liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, hai nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi).” …(nt)… Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi không liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân này.
Phần giảng về Cõi Tái Sanh được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
231. Gatisampattiyā ñāṇasampayutte katinaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti? Khattiyamahāsālānaṃ brāhmaṇamahāsālānaṃ gahapatimahāsālānaṃ kāmāvacarānaṃ devānaṃ ñāṇasampayutte katinaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti? Rūpāvacarānaṃ devānaṃ katinaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti? Arūpāvacarānaṃ devānaṃ katinaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti?
231. In the attainment of a fortunate destination, when associated with knowledge, rebirth occurs conditioned by how many roots? For wealthy khattiyas, wealthy brahmins, wealthy householders, and for sense-sphere devas, when associated with knowledge, rebirth occurs conditioned by how many roots? For the fine-material sphere brahmās, rebirth occurs conditioned by how many roots? For the immaterial sphere brahmās, rebirth occurs conditioned by how many roots?
231. Trong sự thành tựu sanh thú, khi tương ưng với trí, sự sanh khởi xảy ra do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với các đại phú Sát-đế-lỵ, đại phú Bà-la-môn, đại phú gia chủ, chư thiên cõi Dục, khi tương ưng với trí, sự sanh khởi xảy ra do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với chư thiên cõi Sắc, sự sanh khởi xảy ra do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với chư thiên cõi Vô Sắc, sự sanh khởi xảy ra do duyên của bao nhiêu nhân?
Gatisampattiyā ñāṇasampayutte aṭṭhannaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti. Khattiyamahāsālānaṃ brāhmaṇamahāsālānaṃ gahapatimahāsālānaṃ kāmāvacarānaṃ devānaṃ ñāṇasampayutte aṭṭhannaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti. Rūpāvacarānaṃ devānaṃ aṭṭhannaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti. Arūpāvacarānaṃ devānaṃ aṭṭhannaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti.
In the attainment of a fortunate destination, when associated with knowledge, rebirth occurs conditioned by eight roots. For wealthy khattiyas, wealthy brahmins, wealthy householders, and for sense-sphere devas, when associated with knowledge, rebirth occurs conditioned by eight roots. For the fine-material sphere brahmās, rebirth occurs conditioned by eight roots. For the immaterial sphere brahmās, rebirth occurs conditioned by eight roots.
Trong sự thành tựu sanh thú, khi tương ưng với trí, sự sanh khởi xảy ra do duyên của tám nhân. Đối với các đại phú Sát-đế-lỵ, đại phú Bà-la-môn, đại phú gia chủ, chư thiên cõi Dục, khi tương ưng với trí, sự sanh khởi xảy ra do duyên của tám nhân. Đối với chư thiên cõi Sắc, sự sanh khởi xảy ra do duyên của tám nhân. Đối với chư thiên cõi Vô Sắc, sự sanh khởi xảy ra do duyên của tám nhân.
232. Gatisampattiyā ñāṇasampayutte katamesaṃ aṭṭhannaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti? Kusalakammassa javanakkhaṇe tayo hetū kusalā; tasmiṃ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti. Tena vuccati – kusalamūlapaccayāpi saṅkhārā. Nikantikkhaṇe dve hetū akusalā; tasmiṃ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti. Tena vuccati – akusalamūlapaccayāpi saṅkhārā. Paṭisandhikkhaṇe tayo hetū abyākatā; tasmiṃ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti. Tena vuccati – ‘‘nāmarūpapaccayāpi viññāṇaṃ, viññāṇapaccayāpi nāmarūpaṃ’’.
232. In the accomplishment of a fortunate destiny, at the time of rebirth-linking conjoined with knowledge, by which of the eight roots is rebirth conditioned? At the moment of the impulsion of wholesome kamma, three roots are wholesome; at that moment, they are conditions by way of co-nascence for the volition that arises. Therefore, it is said: 'Volitional formations are also conditioned by wholesome roots.' At the moment of craving, two roots are unwholesome; at that moment, they are conditions by way of co-nascence for the volition that arises. Therefore, it is said: 'Volitional formations are also conditioned by unwholesome roots.' At the moment of rebirth-linking, three roots are indeterminate; at that moment, they are conditions by way of co-nascence for the volition that arises. Therefore, it is said: 'Consciousness is also conditioned by name-and-form, and name-and-form is also conditioned by consciousness.'
232. Trong sự thành tựu sanh thú, khi tương ưng với trí, sự sanh khởi xảy ra do duyên của tám nhân nào? Trong khoảnh khắc tốc hành tâm của nghiệp thiện, có ba nhân là thiện; trong khoảnh khắc ấy, chúng là duyên đồng sanh cho tư được sanh khởi. Do đó, được nói rằng: ‘Các hành cũng do duyên là các căn thiện.’ Trong khoảnh khắc tham ái, có hai nhân là bất thiện; trong khoảnh khắc ấy, chúng là duyên đồng sanh cho tư được sanh khởi. Do đó, được nói rằng: ‘Các hành cũng do duyên là các căn bất thiện.’ Trong khoảnh khắc tái sanh, có ba nhân là vô ký; trong khoảnh khắc ấy, chúng là duyên đồng sanh cho tư được sanh khởi. Do đó, được nói rằng: ‘Thức cũng do duyên là danh sắc, danh sắc cũng do duyên là thức.’”
Paṭisandhikkhaṇe pañcakkhandhā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe cattāro mahābhūtā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe tayo jīvitasaṅkhārā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe nāmañca rūpañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe ime cuddasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe cattāro khandhā arūpino sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe pañcindriyāni sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe tayo hetū sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe nāmañca viññāṇañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe ime cuddasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe ime aṭṭhavīsati dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti. Gatisampattiyā ñāṇasampayutte imesaṃ aṭṭhannaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti.
At the moment of rebirth-linking, the five aggregates are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of dissociation. At the moment of rebirth-linking, the four great elements are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, and are conditions by way of support. At the moment of rebirth-linking, the three life-formations are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of dissociation. At the moment of rebirth-linking, name and matter are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of dissociation. At the moment of rebirth-linking, these fourteen phenomena are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of dissociation. At the moment of rebirth-linking, the four immaterial aggregates are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of association. At the moment of rebirth-linking, the five faculties are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of association. At the moment of rebirth-linking, the three roots are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of association. At the moment of rebirth-linking, name and consciousness are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of association. At the moment of rebirth-linking, these fourteen phenomena are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of association. At the moment of rebirth-linking, these twenty-eight phenomena are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of dissociation. In the accomplishment of a fortunate destiny, when associated with knowledge, rebirth occurs conditioned by these eight roots.
Trong khoảnh khắc tái sanh, năm uẩn là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên bất tương ưng. Trong khoảnh khắc tái sanh, bốn đại hiển là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ. Trong khoảnh khắc tái sanh, ba hành sinh mạng là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên bất tương ưng. Trong khoảnh khắc tái sanh, danh và sắc là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên bất tương ưng. Trong khoảnh khắc tái sanh, mười bốn pháp này là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên bất tương ưng. Trong khoảnh khắc tái sanh, bốn danh uẩn là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Trong khoảnh khắc tái sanh, năm quyền là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Trong khoảnh khắc tái sanh, ba nhân là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Trong khoảnh khắc tái sanh, danh và thức là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Trong khoảnh khắc tái sanh, mười bốn pháp này là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Trong khoảnh khắc tái sanh, hai mươi tám pháp này là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên bất tương ưng. Trong sự thành tựu sanh thú, khi tương ưng với trí, sự sanh khởi xảy ra do duyên của tám nhân này.
Khattiyamahāsālānaṃ brāhmaṇamahāsālānaṃ gahapatimahāsālānaṃ kāmāvacarānaṃ devānaṃ ñāṇasampayutte katamesaṃ aṭṭhannaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti? Kusalakammassa javanakkhaṇe tayo hetū kusalā; tasmiṃ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti. Tena vuccati – ‘‘kusalamūlapaccayāpi saṅkhārā’’. Nikantikkhaṇe dve hetū akusalā; tasmiṃ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti. Tena vuccati – ‘‘akusalamūlapaccayāpi saṅkhārā’’. Paṭisandhikkhaṇe tayo hetū abyākatā; tasmiṃ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti. Tena vuccati – ‘‘nāmarūpapaccayāpi viññāṇaṃ, viññāṇapaccayāpi nāmarūpaṃ’’.
For the wealthy nobles, wealthy brahmins, wealthy householders, and the sense-sphere devas, at the moment of rebirth-linking conjoined with knowledge, by which eight roots is their rebirth conditioned? At the moment of the impulsion of wholesome kamma, three roots are wholesome; at that moment, they are conditions by way of co-nascence for the volition that arises. Therefore, it is said: “Volitional formations are also conditioned by wholesome roots.” At the moment of craving, two roots are unwholesome; at that moment, they are conditions by way of co-nascence for the volition that arises. Therefore, it is said: “Volitional formations are also conditioned by unwholesome roots.” At the moment of rebirth-linking, three roots are indeterminate; at that moment, they are conditions by way of co-nascence for the volition that arises. Therefore, it is said: “Consciousness is also conditioned by name-and-form, and name-and-form is also conditioned by consciousness.”
Đối với các vị Sát-đế-lỵ đại phú, các vị Bà-la-môn đại phú, các vị gia chủ đại phú, các vị chư thiên cõi Dục, khi (tái sanh) tương ưng với trí, sự sanh khởi có mặt do duyên của tám nhân nào? Trong sát-na tốc hành của nghiệp thiện, ba nhân là thiện; chúng là duyên câu sanh đối với tư sanh trong sát-na ấy. Do đó được nói rằng: “Các hành cũng do duyên nhân thiện”. Trong sát-na ái luyến, hai nhân là bất thiện; chúng là duyên câu sanh đối với tư sanh trong sát-na ấy. Do đó được nói rằng: “Các hành cũng do duyên nhân bất thiện”. Trong sát-na tái sanh, ba nhân là vô ký; chúng là duyên câu sanh đối với tư sanh trong sát-na ấy. Do đó được nói rằng: “Thức cũng do duyên danh sắc, danh sắc cũng do duyên thức”.
Paṭisandhikkhaṇe pañcakkhandhā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe cattāro mahābhūtā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe tayo jīvitasaṅkhārā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe nāmañca rūpañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe ime cuddasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe cattāro khandhā arūpino sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe pañcindriyāni sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe tayo hetū sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe nāmañca viññāṇañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe ime cuddasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe ime aṭṭhavīsati dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti. Khattiyamahāsālānaṃ brāhmaṇamahāsālānaṃ gahapatimahāsālānaṃ kāmāvacarānaṃ devānaṃ ñāṇasampayutte imesaṃ aṭṭhannaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti.
At the moment of rebirth-linking, the five aggregates are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of dissociation. At the moment of rebirth-linking, the four great elements are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, and are conditions by way of support. At the moment of rebirth-linking, the three vital formations are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of dissociation. At the moment of rebirth-linking, name and matter are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of dissociation. At the moment of rebirth-linking, these fourteen phenomena are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of dissociation. At the moment of rebirth-linking, the four immaterial aggregates are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of association. At the moment of rebirth-linking, the five faculties are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of association. At the moment of rebirth-linking, the three roots are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of association. At the moment of rebirth-linking, name and consciousness are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of association. At the moment of rebirth-linking, these fourteen phenomena are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of association. At the moment of rebirth-linking, these twenty-eight phenomena are conditions by way of co-nascence, are conditions by way of mutuality, are conditions by way of support, and are conditions by way of dissociation. For wealthy nobles, wealthy brahmins, wealthy householders, and sense-sphere devas, at the moment of rebirth-linking conjoined with knowledge, arising occurs conditioned by these eight roots.
Trong sát-na tái sanh, năm uẩn là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên bất tương ưng. Trong sát-na tái sanh, bốn đại hiển là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ. Trong sát-na tái sanh, ba mạng hành là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên bất tương ưng. Trong sát-na tái sanh, danh và sắc là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên bất tương ưng. Trong sát-na tái sanh, mười bốn pháp này là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên bất tương ưng. Trong sát-na tái sanh, bốn uẩn vô sắc là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Trong sát-na tái sanh, năm quyền là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Trong sát-na tái sanh, ba nhân là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Trong sát-na tái sanh, danh và thức là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Trong sát-na tái sanh, mười bốn pháp này là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Trong sát-na tái sanh, hai mươi tám pháp này là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên bất tương ưng. Đối với các vị Sát-đế-lỵ đại phú, các vị Bà-la-môn đại phú, các vị gia chủ đại phú, các vị chư thiên cõi Dục, khi (tái sanh) tương ưng với trí, sự sanh khởi có mặt do duyên của tám nhân này.
Rūpāvacarānaṃ devānaṃ katamesaṃ aṭṭhannaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti? Kusalakammassa javanakkhaṇe tayo hetū kusalā…pe… rūpāvacarānaṃ devānaṃ imesaṃ aṭṭhannaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti.
For the devas of the form sphere, due to which eight roots does rebirth occur? At the moment of impulsion of wholesome kamma, three roots are wholesome… (and so on)… For the devas of the form sphere, rebirth occurs due to these eight roots.
Đối với các vị chư thiên cõi Sắc, sự sanh khởi có mặt do duyên của tám nhân nào? Trong sát-na tốc hành của nghiệp thiện, ba nhân là thiện… cho đến… đối với các vị chư thiên cõi Sắc, sự sanh khởi có mặt do duyên của tám nhân này.
Arūpāvacarānaṃ devānaṃ katamesaṃ aṭṭhannaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti? Kusalakammassa javanakkhaṇe tayo hetū kusalā; tasmiṃ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti. Tena vuccati – ‘‘kusalamūlapaccayāpi saṅkhārā’’. Nikantikkhaṇe dve hetū akusalā; tasmiṃ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti. Tena vuccati – ‘‘akusalamūlapaccayāpi saṅkhārā’’. Paṭisandhikkhaṇe tayo hetū abyākatā; tasmiṃ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti. Tena vuccati – ‘‘nāmapaccayāpi viññāṇaṃ viññāṇapaccayāpi nāmaṃ’’.
For the devas of the formless sphere, due to which eight roots does rebirth occur? At the moment of impulsion of wholesome kamma, three roots are wholesome; at that moment, they are a condition by way of co-nascence for the volition that arises. Therefore, it is said: ‘Formations are also conditioned by wholesome roots.’ At the moment of craving, two roots are unwholesome; at that moment, they are a condition by way of co-nascence for the volition that arises. Therefore, it is said: ‘Formations are also conditioned by unwholesome roots.’ At the moment of rebirth-linking, three roots are indeterminate; at that moment, they are a condition by way of co-nascence for the volition that arises. Therefore, it is said: ‘Consciousness is also conditioned by name, and name is also conditioned by consciousness.’
Đối với các vị chư thiên cõi Vô sắc, sự sanh khởi có mặt do duyên của tám nhân nào? Trong sát-na tốc hành của nghiệp thiện, ba nhân là thiện; chúng là duyên câu sanh đối với tư sanh trong sát-na ấy. Do đó được nói rằng: “Các hành cũng do duyên nhân thiện”. Trong sát-na ái luyến, hai nhân là bất thiện; chúng là duyên câu sanh đối với tư sanh trong sát-na ấy. Do đó được nói rằng: “Các hành cũng do duyên nhân bất thiện”. Trong sát-na tái sanh, ba nhân là vô ký; chúng là duyên câu sanh đối với tư sanh trong sát-na ấy. Do đó được nói rằng: “Thức cũng do duyên danh, danh cũng do duyên thức”.
Paṭisandhikkhaṇe cattāro khandhā arūpino sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe pañcindriyāni sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe tayo hetū sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe nāmañca viññāṇañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe ime cuddasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Arūpāvacarānaṃ devānaṃ imesaṃ aṭṭhannaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti.
At the moment of rebirth-linking, the four immaterial aggregates are conditions by way of co-nascence, mutuality, dependence, and association. At the moment of rebirth-linking, the five faculties are conditions by way of co-nascence, mutuality, dependence, and association. At the moment of rebirth-linking, the three roots are conditions by way of co-nascence, mutuality, dependence, and association. At the moment of rebirth-linking, name and consciousness are conditions by way of co-nascence, mutuality, dependence, and association. At the moment of rebirth-linking, these fourteen phenomena are conditions by way of co-nascence, mutuality, dependence, and association. For the devas of the formless sphere, rebirth occurs due to these eight roots.
Trong sát-na tái sanh, bốn uẩn vô sắc là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Trong sát-na tái sanh, năm quyền là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Trong sát-na tái sanh, ba nhân là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Trong sát-na tái sanh, danh và thức là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Trong sát-na tái sanh, mười bốn pháp này là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Đối với các vị chư thiên cõi Vô sắc, sự sanh khởi có mặt do duyên của tám nhân này.
233. Gatisampattiyā ñāṇavippayutte katinaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti? Khattiyamahāsālānaṃ brāhmaṇamahāsālānaṃ gahapatimahāsālānaṃ kāmāvacarānaṃ devānaṃ ñāṇavippayutte katinaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti?
233. In a fortunate destination, at the moment of relinking dissociated from knowledge, due to how many roots does rebirth occur? For wealthy nobles, wealthy brahmins, wealthy householders, and sense-sphere devas, at the moment of relinking dissociated from knowledge, due to how many roots does rebirth occur?
233. Trong sự thành tựu cõi lành, khi (tái sanh) bất tương ưng với trí, sự sanh khởi có mặt do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với các vị Sát-đế-lỵ đại phú, các vị Bà-la-môn đại phú, các vị gia chủ đại phú, các vị chư thiên cõi Dục, khi (tái sanh) bất tương ưng với trí, sự sanh khởi có mặt do duyên của bao nhiêu nhân?
Gatisampattiyā ñāṇavippayutte channaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti. Khattiyamahāsālānaṃ brāhmaṇamahāsālānaṃ gahapatimahāsālānaṃ kāmāvacarānaṃ devānaṃ ñāṇavippayutte channaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti.
In a fortunate destination, at the moment of relinking dissociated from knowledge, rebirth occurs due to six roots. For wealthy nobles, wealthy brahmins, wealthy householders, and sense-sphere devas, at the moment of relinking dissociated from knowledge, rebirth occurs due to six roots.
Trong sự thành tựu cõi lành, khi (tái sanh) bất tương ưng với trí, sự sanh khởi có mặt do duyên của sáu nhân. Đối với các vị Sát-đế-lỵ đại phú, các vị Bà-la-môn đại phú, các vị gia chủ đại phú, các vị chư thiên cõi Dục, khi (tái sanh) bất tương ưng với trí, sự sanh khởi có mặt do duyên của sáu nhân.
Gatisampattiyā ñāṇavippayutte katamesaṃ channaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti? Kusalakammassa javanakkhaṇe dve hetū kusalā; tasmiṃ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti. Tena vuccati – kusalamūlapaccayāpi saṅkhārā. Nikantikkhaṇe dve hetū akusalā; tasmiṃ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti. Tena vuccati – akusalamūlapaccayāpi saṅkhārā. Paṭisandhikkhaṇe dve hetū abyākatā; tasmiṃ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti. Tena vuccati – ‘‘nāmarūpapaccayāpi viññāṇaṃ, viññāṇapaccayāpi nāmarūpaṃ’’.
In a fortunate destination, at the moment of relinking dissociated from knowledge, due to which six roots does arising occur? At the moment of impulsion of wholesome kamma, two roots are wholesome; at that moment, they are related by way of the conascence condition to the arisen volition. Therefore, it is said: 'Formations are also conditioned by wholesome roots.' At the moment of craving, two roots are unwholesome; at that moment, they are related by way of the conascence condition to the arisen volition. Therefore, it is said: 'Formations are also conditioned by unwholesome roots.' At the moment of relinking, two roots are indeterminate; at that moment, they are related by way of the conascence condition to the arisen volition. Therefore, it is said: 'Consciousness is also conditioned by mentality-materiality, and mentality-materiality is also conditioned by consciousness.'
Trong sự thành tựu cõi lành, vào lúc (tái sanh) tương ưng vô trí, do duyên của sáu nhân nào mà sự sanh khởi có mặt? Vào sát-na tốc hành tâm của nghiệp thiện, có hai nhân là thiện; vào sát-na ấy, chúng là duyên câu sanh đối với tư tâm đã sanh. Do đó, được nói rằng: ‘Các hành cũng do duyên là các căn thiện.’ Vào sát-na ái luyến, có hai nhân là bất thiện; vào sát-na ấy, chúng là duyên câu sanh đối với tư tâm đã sanh. Do đó, được nói rằng: ‘Các hành cũng do duyên là các căn bất thiện.’ Vào sát-na tái sanh, có hai nhân là vô ký; vào sát-na ấy, chúng là duyên câu sanh đối với tư tâm đã sanh. Do đó, được nói rằng: ‘Thức cũng do duyên là danh-sắc, và danh-sắc cũng do duyên là thức.’
Paṭisandhikkhaṇe pañcakkhandhā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe cattāro mahābhūtā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe tayo jīvitasaṅkhārā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe nāmañca rūpañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe ime cuddasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe cattāro khandhā arūpino sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe cattāri indriyāni sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe dve hetū sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe nāmañca viññāṇañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe ime dvādasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭisandhikkhaṇe ime chabbīsati dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti. Gatisampattiyā ñāṇavippayutte imesaṃ channaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti.
At the moment of relinking, the five aggregates are by conascence, mutuality, dependence, and dissociation conditions. At the moment of relinking, the four great elements are by conascence, mutuality, and dependence conditions. At the moment of relinking, the three vital formations are by conascence, mutuality, dependence, and dissociation conditions. At the moment of relinking, mentality and materiality are by conascence, mutuality, dependence, and dissociation conditions. At the moment of relinking, these fourteen phenomena are by conascence, mutuality, dependence, and dissociation conditions. At the moment of relinking, the four immaterial aggregates are by conascence, mutuality, dependence, and association conditions. At the moment of relinking, the four faculties are by conascence, mutuality, dependence, and association conditions. At the moment of relinking, the two roots are by conascence, mutuality, dependence, and association conditions. At the moment of relinking, mentality and consciousness are by conascence, mutuality, dependence, and association conditions. At the moment of relinking, these twelve phenomena are by conascence, mutuality, dependence, and association conditions. At the moment of relinking, these twenty-six phenomena are by conascence, mutuality, dependence, and dissociation conditions. In a good destination, when dissociated from knowledge, rebirth occurs because of these six roots.
Vào sát-na tái sanh, năm uẩn là duyên câu sanh, là duyên hỗ tương, là duyên y chỉ, là duyên bất tương ưng. Vào sát-na tái sanh, bốn đại hiển là duyên câu sanh, là duyên hỗ tương, là duyên y chỉ. Vào sát-na tái sanh, ba hành sinh mạng là duyên câu sanh, là duyên hỗ tương, là duyên y chỉ, là duyên bất tương ưng. Vào sát-na tái sanh, danh và sắc là duyên câu sanh, là duyên hỗ tương, là duyên y chỉ, là duyên bất tương ưng. Vào sát-na tái sanh, mười bốn pháp này là duyên câu sanh, là duyên hỗ tương, là duyên y chỉ, là duyên bất tương ưng. Vào sát-na tái sanh, bốn uẩn vô sắc là duyên câu sanh, là duyên hỗ tương, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Vào sát-na tái sanh, bốn quyền là duyên câu sanh, là duyên hỗ tương, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Vào sát-na tái sanh, hai nhân là duyên câu sanh, là duyên hỗ tương, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Vào sát-na tái sanh, danh và thức là duyên câu sanh, là duyên hỗ tương, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Vào sát-na tái sanh, mười hai pháp này là duyên câu sanh, là duyên hỗ tương, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Vào sát-na tái sanh, hai mươi sáu pháp này là duyên câu sanh, là duyên hỗ tương, là duyên y chỉ, là duyên bất tương ưng. Trong sự thành tựu cõi lành, vào lúc (tái sanh) tương ưng vô trí, sự sanh khởi có mặt do duyên của sáu nhân này.
Khattiyamahāsālānaṃ brāhmaṇamahāsālānaṃ gahapatimahāsālānaṃ kāmāvacarānaṃ devānaṃ ñāṇavippayutte katamesaṃ channaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hoti? Kusalakammassa javanakkhaṇe dve hetū kusalā; tasmiṃ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti. Tena vuccati – ‘‘kusalamūlapaccayāpi saṅkhārā…pe… khattiyamahāsālānaṃ brāhmaṇamahāsālānaṃ gahapatimahāsālānaṃ kāmāvacarānaṃ devānaṃ ñāṇavippayutte imesaṃ channaṃ hetūnaṃ paccayā upapatti hotī’’ti.
For khattiya-mahāsālas, brāhmaṇa-mahāsālas, gahapati-mahāsālas, and kāmāvacara devas, in the case of rebirth-linking dissociated from knowledge, due to which six roots does rebirth occur? At the moment of impulsion of wholesome kamma, two roots are wholesome; at that moment, they are conascence conditions for the arisen volition. Therefore, it is said: 'Formations are also due to the condition of wholesome roots... (etc.)... For khattiya-mahāsālas, brāhmaṇa-mahāsālas, gahapati-mahāsālas, and kāmāvacara devas, in the case of rebirth-linking dissociated from knowledge, rebirth occurs due to these six roots.'
Đối với các đại gia tộc Sát-đế-lỵ, các đại gia tộc Bà-la-môn, các đại gia tộc gia chủ, các vị trời cõi Dục giới, vào lúc (tái sanh) tương ưng vô trí, do duyên của sáu nhân nào mà sự sanh khởi có mặt? Vào sát-na tốc hành tâm của nghiệp thiện, có hai nhân là thiện; vào sát-na ấy, chúng là duyên câu sanh đối với tư tâm đã sanh. Do đó, được nói rằng: ‘Các hành cũng do duyên là các căn thiện…v.v… đối với các đại gia tộc Sát-đế-lỵ, các đại gia tộc Bà-la-môn, các đại gia tộc gia chủ, các vị trời cõi Dục giới, vào lúc (tái sanh) tương ưng vô trí, sự sanh khởi có mặt do duyên của sáu nhân này.’
Gatikathā niṭṭhitā.
The Discourse on Destinations is concluded.
Phần luận về cõi sanh đã kết thúc.